Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Vốn xã hội (social capital) là khái niệm khoa học được học giả Lyda Judson Hanifan đề cập từ năm 1916 trong bài báo "The Rural School and Rural Life", nhấn mạnh đến các thực thể như thiện ý, tình cảm và mối quan hệ giao tiếp xã hội giữa các cá nhân tạo nên sự tích tụ nguồn lực cho cộng đồng. Về sau, các học giả kinh tế, xã hội học và khoa học chính trị trên thế giới (như Pierre Bourdieu, James Coleman, Robert Putnam, Francis Fukuyama, Alejandro Portes) đã phát triển vốn xã hội thành một phạm trù tài sản vô hình, có thể tích lũy, nuôi dưỡng, chuyển hóa và tạo nên sức mạnh nội sinh cho tổ chức.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trước đây chủ yếu tiếp cận vốn xã hội trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính, nông nghiệp, nông thôn, xóa đói giảm nghèo hoặc doanh nghiệp nhỏ (chẳng hạn như nghiên cứu của Phan Đình Diệu, Trần Hữu Dũng, Trần Hữu Quang, Lê Ngọc Hùng, Hoàng Bá Thịnh, Stephen J. Appold, Nguyễn Quý Thanh, Fleur Thomése, Nguyễn Tuấn Anh). Tuy nhiên, trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN) — đặc biệt là đối với các thiết chế tổ chức "mềm" như nhóm nghiên cứu và nhóm nghiên cứu mạnh tại các trường đại học — vốn xã hội hầu như chưa được khảo sát và đánh giá một cách có hệ thống.

Hoạt động KH&CN của Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi, đòi hỏi việc huy động đồng bộ các nguồn vốn vật chất, tài chính cùng với vốn con người và vốn xã hội. Theo định hướng của Đại học Quốc gia Hà Nội, việc phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, các trung tâm xuất sắc (Centers of Excellence - COE) và các trường phái khoa học là nhiệm vụ trọng tâm. Nhóm nghiên cứu hoạt động dựa trên sự liên kết của các cá nhân thông qua mạng lưới học thuật, sự tin cậy và các chuẩn mực hợp tác. Do đó, việc nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm rõ vai trò, tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) của vốn xã hội trong các hoạt động KH&CN của nhóm nghiên cứu mạnh là khoảng trống học thuật cần được giải quyết, cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý KH&CN.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là làm rõ vai trò của vốn xã hội (thể hiện qua các tác động tích cực và tác động tiêu cực) trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh tại Đại học Quốc gia Hà Nội.

Để đạt được mục tiêu tổng quát, luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nhận dạng đặc điểm của các nhóm nghiên cứu mạnh thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
  2. Làm rõ thực tế sử dụng vốn xã hội trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh.
  3. Đánh giá tác động tích cực và tiêu cực của vốn xã hội trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh.
  4. Đề xuất các giải pháp làm giàu vốn xã hội, phát huy những tác động tích cực và hạn chế các biểu hiện tiêu cực của vốn xã hội trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án xác lập 1 câu hỏi nghiên cứu chủ đạo và 4 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  • Câu hỏi nghiên cứu chủ đạo: Vốn xã hội có vai trò như thế nào trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh tại Đại học Quốc gia Hà Nội?
  • Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
    1. Các nhóm nghiên cứu mạnh của Đại học Quốc gia Hà Nội có đặc điểm gì?
    2. Thực tế sử dụng vốn xã hội trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh như thế nào?
    3. Vốn xã hội có tác động như thế nào trong các hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh?
    4. Làm thế nào để làm giàu vốn xã hội và phát huy những tác động tích cực, hạn chế những biểu hiện tiêu cực của vốn xã hội trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh?

Giả thuyết nghiên cứu

Luận án xây dựng 1 giả thuyết nghiên cứu chủ đạo và 4 giả thuyết nghiên cứu cụ thể:

  • Giả thuyết nghiên cứu chủ đạo: Vốn xã hội có vai trò tác nhân quan trọng thúc đẩy hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh của Đại học Quốc gia Hà Nội, được thể hiện và sử dụng trong mọi hoạt động KH&CN.
  • Các giả thuyết nghiên cứu cụ thể:
    • Giả thuyết 1: Các nhóm nghiên cứu mạnh đều là những tập thể các nhà khoa học có cùng hướng nghiên cứu chuyên môn, có đủ khả năng triển khai các nghiên cứu đỉnh cao và là hạt nhân để xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, trường phái khoa học. Mỗi nhóm nghiên cứu mạnh là một think tank, trong đó trưởng nhóm nghiên cứu mạnh có vai trò chủ đạo trong thiết lập, tập hợp được mạng lưới các cộng sự và học trò có khả năng phát triển, xây dựng trường phái khoa học của mình với những vấn đề khoa học độc đáo.
    • Giả thuyết 2: Các nhóm nghiên cứu mạnh đều sử dụng tốt vốn xã hội trong các hoạt động KH&CN của mình: xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ R&D, công bố khoa học, đào tạo, chuyển giao tri thức, thương mại hóa công nghệ.
    • Giả thuyết 3: Vốn xã hội có các tác động tích cực và tiêu cực đến các hoạt động KH&CN. Việc sử dụng vốn xã hội giúp các nhóm nghiên cứu mạnh xây dựng và thiết lập được những mối quan hệ hợp tác (trong và ngoài nước) mạnh, thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao và nâng cao chất lượng nghiên cứu, công bố quốc tế. Tuy nhiên, còn có một số tác động tiêu cực trong việc sử dụng vốn xã hội của các nhóm nghiên cứu mạnh.
    • Giả thuyết 4: Với những giải pháp làm giàu vốn xã hội ở cấp vĩ mô, trung mô và vi mô, cải thiện môi trường nghiên cứu khoa học và làm việc của các nhà KH&CN, sẽ phát huy những tác động tích cực và hạn chế những biểu hiện tiêu cực của vốn xã hội trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của vốn xã hội trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh ở Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung phân tích vai trò của vốn xã hội trong các hoạt động KH&CN chính (xây dựng và thực hiện nhiệm vụ R&D, công bố khoa học, đào tạo, chuyển giao tri thức và thương mại hóa công nghệ) dưới tác động của môi trường và thể chế KH&CN.
  • Phạm vi không gian: 27 nhóm nghiên cứu mạnh cấp Đại học Quốc gia Hà Nội được công nhận.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2014 – 2017.

Lý do lựa chọn mẫu khảo sát

Tác giả lựa chọn 27 nhóm nghiên cứu mạnh của Đại học Quốc gia Hà Nội làm địa bàn nghiên cứu điển hình vì ba căn cứ thực tiễn:

  1. Đại học Quốc gia Hà Nội là trung tâm đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực quy mô lớn, có vị trí tiêu biểu trong hệ thống giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học tại Việt Nam.
  2. Đại học Quốc gia Hà Nội là đơn vị đầu tiên trong cả nước ban hành chiến lược và quy định chính thức về xây dựng, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh và trung tâm xuất sắc (COE) từ Chiến lược phát triển đến năm 2010 và tầm nhìn 2020.
  3. Hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh tại đây bao phủ toàn diện từ khoa học tự nhiên, công nghệ, kỹ thuật đến khoa học xã hội và nhân văn, cho phép khái quát hóa các quy luật vận động của vốn xã hội trong hoạt động học thuật.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế liên quan đến đề tài

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trên thế giới theo ba nhóm chủ đề:

  1. Nghiên cứu về vốn xã hội:

    • Lyda Judson Hanifan (1916): Đặt nền móng thuật ngữ vốn xã hội qua nghiên cứu giáo dục nông thôn, nhấn mạnh thiện ý, sự cảm thông và tương tác xã hội.
    • Pierre Bourdieu (1986): Phân tích vốn xã hội như một nguồn lực dựa trên mạng lưới quan hệ bền vững; phân loại ba hình thức vốn văn hóa (trạng thái thể hiện, trạng thái khách quan, trạng thái thể chế) và cơ chế chuyển hóa giữa vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn xã hội gắn liền với khái niệm "habitus".
    • James Coleman (1988): Tiếp cận vốn xã hội từ góc độ cấu trúc chức năng và vốn con người, xác định 3 thuộc tính: mức độ tin cậy và nghĩa vụ, kênh truyền thông tin, hệ thống chuẩn mực kèm chế tài xử phạt; phân biệt vốn xã hội trong gia đình và trong cộng đồng.
    • Robert Putnam (1995, 2000): Tác phẩm Bowling Alone cảnh báo sự suy giảm của vốn xã hội, gắn vốn xã hội với các chuẩn mực đạo đức công dân, mạng lưới liên kết ngang và quan hệ có đi - có lại.
    • Alejandro Portes (1998): Hệ thống hóa 4 hệ quả tiêu cực của vốn xã hội: sự loại trừ người ngoài, đòi hỏi thái quá đối với thành viên, hạn chế quyền tự do cá nhân, và việc hạ thấp chuẩn mực/cào bằng thành tích.
    • Guiso L. và cộng sự: Phân tích ảnh hưởng của mức độ tích lũy vốn xã hội theo vùng địa lý đối với sự phát triển tài chính và khả năng tiếp cận tín dụng chính thức tại Italia.
  2. Nghiên cứu về nhóm nghiên cứu và nhóm nghiên cứu mạnh:

    • Lịch sử hình thành: Các Nhóm làm việc khoa học (Scientific Working Groups) từ đầu thập niên 1990 tại Mỹ dưới sự điều phối của NIST/OSAC.
    • Andrews F. (1979): Nghiên cứu trên 10.000 nhà khoa học tại 1.200 đơn vị thuộc 6 quốc gia, xác định các tiêu chí đo lường hiệu quả nhóm: số bài báo công bố, số trích dẫn, sách xuất bản, bằng sáng chế, sản phẩm và phần mềm.
    • Main (2007) và Bland et al. (2005): Đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất của nhóm nghiên cứu, bao gồm mục tiêu rõ ràng, văn hóa tổ chức, khả năng lãnh đạo, tính ổn định và kỹ năng quản trị xung đột.
    • Joseph S. Fruton (1990): Tác phẩm Contrasts in Scientific Style định nghĩa nhóm nghiên cứu trong lĩnh vực hóa học - sinh hóa do một nhà khoa học uy tín dẫn dắt.
    • Valerie I. Sessa (2008): Nghiên cứu Work Group Learning xác định nhóm nghiên cứu đóng vai trò trung gian cấp trung mô (meso-level) kết nối cá nhân với viện, trường.
    • Thomas L. Greenbaum (1998) & David L. Morgan (1997): Định nghĩa nhóm nghiên cứu mạnh dựa trên tính chất hợp tác tích cực, quy mô bài toán khoa học đủ lớn và cơ chế tương tác thảo luận mở.
    • Mô hình 7S của McKinsey (Tom Peters & Robert Waterman, 1982): Phân tích sự cân bằng giữa 3 yếu tố cứng (chiến lược, cấu trúc, hệ thống) và 4 yếu tố mềm (đội ngũ, kỹ năng, phong cách, giá trị chia sẻ).
  3. Nghiên cứu về vai trò của vốn xã hội trong KH&CN:

    • Jukka Partanen, Kristian Möller, Mika Westerlund, Risto Rajala, Arto Rajala (2008): Phân tích các chiều cạnh cấu trúc, quan hệ và nhận thức của vốn xã hội qua 4 giai đoạn phát triển của doanh nghiệp KH&CN vừa và nhỏ.
    • Don Cohen & Laurence Prusak (2001): Nghiên cứu ảnh hưởng của vốn xã hội đến hiệu quả làm việc tập thể.
    • Cees J. Gelderman, Janjaap Semeijn, Patrique P. Mertschuweit (2016): Đánh giá tác động của vốn xã hội nhận thức và sự không ổn định công nghệ đến việc thực thi chiến lược.
    • Mark R. Costa (2014): Ứng dụng học máy phân tích động lực vốn xã hội trong mạng lưới hợp tác khoa học và sự thăng tiến nghề nghiệp.
    • Emmanuel Lazega, Lise Mounier, Marie-Thérèse Jourda, Rafaël Stofer (2006): So sánh vốn xã hội của tổ chức và vốn xã hội cá nhân đối với năng suất công bố của các nhà nghiên cứu ung thư tại Pháp giai đoạn 1996–1998.
    • Giovanni Abramo, Ciriaco Andrea D'Angelo, Flavia Di Costa (2011): Khảo sát hành vi hợp tác khoa học nội địa và quốc tế của 12.000 nhà khoa học tại Ý, chỉ ra mối liên hệ giữa hợp tác quốc tế và chỉ số ảnh hưởng trích dẫn.

Các nghiên cứu trong nước và khoảng trống luận án giải quyết

Trong nước, các nghiên cứu lý thuyết tổng quan về vốn xã hội được thực hiện bởi Trần Hữu Dũng, Trần Hữu Quang, Phan Đình Diệu, Lê Ngọc Hùng, Hoàng Bá Thịnh, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Bùi Thị Phương, Vũ Cao Đàm. Các nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào doanh nghiệp nhỏ (Stephen J. Appold, Nguyễn Quý Thanh) hoặc nông nghiệp nông thôn (Fleur Thomése, Nguyễn Tuấn Anh). Về nhóm nghiên cứu, các công trình của Trương Quang Học và Nguyễn Đình Đức đã nêu ra 6 yếu tố hình thành nhóm nghiên cứu nhưng chưa kết nối với lý thuyết vốn xã hội.

Khoảng trống học thuật mà luận án giải quyết: Luận án là công trình đầu tiên tại Việt Nam tích hợp lý thuyết vốn xã hội vào phân tích thực nghiệm quản lý KH&CN tại trường đại học, làm rõ cơ chế tác động của các thành tố vốn xã hội đến 4 nhóm hoạt động đầu ra KH&CN của 27 nhóm nghiên cứu mạnh.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm nền tảng:

  • Vốn xã hội trong KH&CN: Mạng lưới liên kết bền vững giữa các nhà khoa học, lòng tin, sự tin cậy học thuật, các chuẩn mực đạo đức và quan hệ tương tác, có đi - có lại.
  • Cấp độ xem xét vốn xã hội (theo Vũ Cao Đàm): Cấp vi mô (cá nhân nhà khoa học), cấp trung mô (nhóm nghiên cứu, bộ môn, khoa), cấp vĩ mô (quốc gia và quốc tế).
  • Ba thành tố cốt lõi của vốn xã hội:
    1. Mạng lưới xã hội (Social Networks): Mạng lưới đồng nghiệp, cộng sự, học trò, chuyên gia quốc tế và các cơ quan quản lý/doanh nghiệp.
    2. Sự tin cậy (Trust): Lòng tin học thuật dựa trên năng lực chuyên môn, sự trung thực khoa học và uy tín của trưởng nhóm.
    3. Sự tương tác, có đi - có lại (Reciprocity): Sự trao đổi tri thức, chia sẻ dữ liệu, phòng thí nghiệm, đồng tác giả và hỗ trợ học thuật đa chiều.
  • Bốn nhóm hoạt động KH&CN đầu ra: (1) Xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ R&D; (2) Công bố khoa học; (3) Hoạt động đào tạo sau đại học; (4) Chuyển giao tri thức và thương mại hóa công nghệ.

Khung phân tích của luận án kết nối ba thành tố của vốn xã hội tác động trực tiếp (theo hai hướng tích cực và tiêu cực) lên bốn nhóm hoạt động KH&CN, đồng thời chịu sự chi phối của môi trường nghiên cứu và thể chế, chính sách KH&CN.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Luận án kết hợp các cách tiếp cận: tiếp cận quản lý KH&CN, tiếp cận hệ thống, tiếp cận liên ngành (xã hội học, khoa học chính sách, khoa học quản lý) và tiếp cận nội quan - ngoại quan.

Các phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu cụ thể:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập văn bản quy phạm pháp luật (Thông tư 37/2014/TT-BKHCN của Bộ KH&CN, Hướng dẫn số 1409/HD-KHCN của ĐHQGHN, Chiến lược phát triển ĐHQGHN 2010–2020) và báo cáo tổng kết hoạt động KH&CN giai đoạn 2014–2017.
  2. Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi:
    • Đối tượng: 27 trưởng nhóm nghiên cứu mạnh cấp Đại học Quốc gia Hà Nội.
    • Số phiếu phát ra: 27; số phiếu thu về hợp lệ: 22 (5 trường hợp không trả lời).
    • Nội dung bảng hỏi: 10 nhóm câu hỏi về thành phần mạng lưới, mức độ tin cậy, quan hệ có đi - có lại, phạm vi sử dụng vốn xã hội, tần suất sinh hoạt nhóm, nguồn kinh phí, yếu tố thành công và cấp độ tác động của vốn xã hội.
    • Đảm bảo nguyên tắc khuyết danh thông tin cá nhân.
  3. Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 10 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp với các trưởng nhóm nghiên cứu mạnh, thành viên nhóm nghiên cứu và cán bộ quản lý KH&CN.
  4. Phương pháp thống kê: Tổng hợp dữ liệu định lượng về số lượng đề tài/dự án, công bố ISI/Scopus, số lượng đào tạo thạc sĩ/tiến sĩ và sản phẩm chuyển giao của các nhóm nghiên cứu mạnh.
  5. Phương pháp tham vấn chuyên gia và quan sát.
  6. Phương pháp tham dự hội thảo khoa học: Thu thập ý kiến tại Hội nghị khoa học năm 2018 (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên), Hội thảo quốc gia về phát triển nhóm nghiên cứu (Trường ĐH Công nghệ), Hội nghị tổng kết nhóm nghiên cứu mạnh ĐHQGHN, và Hội thảo chiến lược KH&CN (ĐHQG TP.HCM).
Tiêu chí phân loại Đặc điểm của mẫu khảo sát (N = 22/27) Tỷ lệ (%) / Số liệu cụ thể
Giới tính Nam 88,89% (24/27 trưởng nhóm)
Nữ 11,11% (3/27 trưởng nhóm)
Độ tuổi / Thế hệ Thế hệ 3X, 4X, 5X, 6X (50% thuộc thế hệ 5X) 78,6%
Thế hệ 7X, 8X 21,4% (Trưởng nhóm cao tuổi nhất sinh năm 1938)
Trình độ học vấn Tiến sĩ (TS) 100,0%
Học hàm Giáo sư (GS) 53,6%
Phó Giáo sư (PGS) 39,3%
Nơi đào tạo Đào tạo ở nước ngoài 78,6%
Đào tạo trong nước 21,4%
Thâm niên công tác Trên 10 năm 89,3%
Dưới 10 năm 10,7%

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ba trục nội dung: lý thuyết vốn xã hội, lý thuyết về nhóm nghiên cứu/nhóm nghiên cứu mạnh, và các nghiên cứu về vai trò của vốn xã hội trong hoạt động KH&CN.

Chương này chỉ rõ:

  • Các lý thuyết quốc tế đã phân tích sâu sắc bản chất hai mặt của vốn xã hội (Bourdieu, Coleman, Putnam, Portes), chỉ ra vốn xã hội vừa là nguồn lực hỗ trợ hành động tập thể nhưng cũng có thể dẫn đến sự khép kín, triệt tiêu sáng kiến cá nhân.
  • Nghiên cứu về nhóm nghiên cứu trên thế giới đã xác lập các mô hình định lượng đánh giá hiệu quả qua công bố, trích dẫn, sáng chế (Andrews, Fruton, Sessa, McKinsey 7S).
  • Tại Việt Nam, chưa có công trình nào đánh giá trực tiếp vai trò của vốn xã hội trong các hoạt động KH&CN của nhóm nghiên cứu mạnh tại các cơ sở giáo dục đại học.

Chương 2: Cơ sở lý luận trong nghiên cứu vai trò của vốn xã hội trong hoạt động khoa học và công nghệ

Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm công cụ và xây dựng khung lý thuyết phân tích:

  • Định nghĩa khái niệm: Luận giải chi tiết các khái niệm vốn xã hội, hoạt động KH&CN (theo định nghĩa của UNESCO gồm R&D, đào tạo KH&CN và dịch vụ KH&CN), nhóm nghiên cứu, nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm xuất sắc (COE), trường phái khoa học và chân dung xã hội của nhà khoa học.
  • Mối quan hệ giữa vốn xã hội và tài sản vô hình: Vốn xã hội là bộ phận cấu thành quan trọng của tài sản vô hình trong tổ chức khoa học.
  • Cấu trúc ba thành tố: Phân tích bản chất của mạng lưới xã hội, sự tin cậy học thuật và quy tắc có đi - có lại trong hoạt động nghiên cứu.
  • Các cấp độ phân tích: Xem xét tương tác giữa cấp vi mô (nhà khoa học), trung mô (nhóm nghiên cứu) và vĩ mô (chính sách, hợp tác quốc tế).

Chương 3: Đặc điểm của nhóm nghiên cứu mạnh và vốn xã hội của nhóm nghiên cứu mạnh tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát thực tế về thực trạng tổ chức và vốn xã hội của 27 nhóm nghiên cứu mạnh cấp ĐHQGHN:

  • Cơ cấu và nhân lực: Nhóm nghiên cứu mạnh tập trung chủ yếu ở các trường thành viên lớn (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Công nghệ). Đội ngũ lãnh đạo nhóm có trình độ cao (100% TS, 92,9% có học hàm GS/PGS), phần lớn được đào tạo ở nước ngoài (78,6%) nhưng đang đối mặt với tình trạng già hóa (78,6% sinh trước năm 1970).
  • Đặc điểm vốn xã hội:
    • Mạng lưới xã hội: Mạng lưới nghiên cứu mở rộng ra các viện nghiên cứu, trường đại học quốc tế thông qua các mối quan hệ đồng môn, thầy - trò, đồng nghiệp từ thời gian học tập ở nước ngoài.
    • Lòng tin và sự tin cậy: Lòng tin chuyên môn xoay quanh uy tín khoa học của trưởng nhóm. Trưởng nhóm đóng vai trò hạt nhân tập hợp lực lượng và dẫn dắt hướng nghiên cứu.
    • Sự tương tác, có đi - có lại: Thể hiện qua việc phân công nhiệm vụ đề tài, hướng dẫn NCS/học viên cao học, chia sẻ thiết bị phòng thí nghiệm và hợp tác đứng tên công bố quốc tế.

Chương 4: Vai trò của vốn xã hội trong hoạt động khoa học và công nghệ của các nhóm nghiên cứu mạnh tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Chương 4 phân tích chi tiết vai trò và tác động hai mặt của vốn xã hội trong 4 lĩnh vực hoạt động KH&CN:

  1. Trong xây dựng và thực hiện nhiệm vụ R&D:
    • Tác động tích cực: Mạng lưới quan hệ giúp nhóm tiếp cận nhanh thông tin về các nguồn tài trợ đề tài các cấp (Quỹ Nafosted, đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp ĐHQGHN); tạo lập liên danh đấu thầu nhiệm vụ nghiên cứu liên ngành.
    • Tác động tiêu cực: Xuất hiện tình trạng liên kết khép kín, phân chia đề tài cục bộ dựa trên quan hệ thân quen; áp lực nghĩa vụ đối với các thành viên ngoài nhóm.
  2. Trong công bố khoa học:
    • Tác động tích cực: Mạng lưới hợp tác quốc tế giúp gia tăng nhanh chóng số lượng và chất lượng bài báo trên các tạp chí ISI/Scopus (đặc biệt tại Trường ĐH Khoa học Tự nhiên); hỗ trợ quy trình bình duyệt, hiệu đính ngôn ngữ và phản biện học thuật.
    • Tác động tiêu cực: Hiện tượng ghi tên tác giả mang tính ngoại giao (honorary authorship) hoặc liên minh trích dẫn khép kín.
  3. Trong hoạt động đào tạo:
    • Tác động tích cực: Vốn xã hội của trưởng nhóm thu hút được học viên cao học, nghiên cứu sinh giỏi; tạo điều kiện gửi cán bộ trẻ đi thực tập, làm postdoc tại các phòng thí nghiệm quốc tế đối tác.
    • Tác động tiêu cực: Nguy cơ đồng huyết học thuật (academic inbreeding) và tính phụ thuộc quá lớn của người học vào mối quan hệ cá nhân của người hướng dẫn.
  4. Trong chuyển giao tri thức và thương mại hóa công nghệ:
    • Tác động tích cực: Mối quan hệ cá nhân với các doanh nghiệp, địa phương giúp đưa các kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm thực tế.
    • Tác động tiêu cực/Hạn chế: Vốn xã hội hiện tại chủ yếu mang tính học thuật thuần túy, thiếu các mối liên kết bền vững với khối doanh nghiệp và thị trường công nghệ.

Chương này cũng phân tích các yếu tố thể chế, môi trường chính sách KH&CN giai đoạn 2011–2020 và đề xuất 2 nhóm giải pháp:

  • Nhóm giải pháp làm giàu vốn xã hội (ở các cấp vĩ mô, trung mô, vi mô).
  • Nhóm giải pháp thúc đẩy tác động tích cực và kiểm soát tác động tiêu cực của vốn xã hội trong hoạt động KH&CN.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khung lý thuyết về vốn xã hội trong quản lý KH&CN tại trường đại học, xác lập rõ cấu trúc 3 thành tố (mạng lưới, sự tin cậy, sự tương tác có đi - có lại) tương ứng với 3 cấp độ phân tích (vi mô, trung mô, vĩ mô).
  2. Xây dựng khung phân tích liên kết giữa vốn xã hội với 4 hoạt động KH&CN đầu ra cụ thể (R&D, công bố, đào tạo, thương mại hóa).
  3. Luận giải bản chất hai mặt (tác động thúc đẩy tích cực và rủi ro tiêu cực) của vốn xã hội trong các hoạt động học thuật đặc thù.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh toàn diện và dữ liệu thực chứng đầu tiên về chân dung xã hội, cơ cấu tổ chức và vốn xã hội của 27 nhóm nghiên cứu mạnh tại Đại học Quốc gia Hà Nội giai đoạn 2014–2017.
  2. Đánh giá thực trạng sử dụng mạng lưới quan hệ học thuật trong nước và quốc tế để tạo ra các sản phẩm công bố ISI/Scopus, nhiệm vụ R&D và đào tạo nhân lực trình độ cao.
  3. Chỉ ra thực trạng già hóa của đội ngũ trưởng nhóm nghiên cứu mạnh và khoảng trống trong liên kết chuyển giao công nghệ với doanh nghiệp.

Các giải pháp và khuyến nghị đề xuất

  • Cấp vĩ mô (Nhà nước và cơ quan quản lý): Đổi mới cơ chế tài chính KH&CN theo hướng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng; đơn giản hóa thủ tục hành chính; xây dựng cơ chế chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ để thúc đẩy liên kết viện - trường - doanh nghiệp.
  • Cấp trung mô (Đại học Quốc gia Hà Nội và các trường đại học): Trao quyền tự chủ cao hơn cho các nhóm nghiên cứu mạnh; đầu tư kinh phí duy trì hạ tầng và phòng thí nghiệm trọng điểm; xây dựng chính sách ươm tạo nhóm nghiên cứu tiềm năng, giải quyết bài toán chuyển giao thế hệ lãnh đạo nhóm.
  • Cấp vi mô (Bản thân các nhóm nghiên cứu mạnh): Đa dạng hóa thành viên mạng lưới, tích cực kết nối với các nhà khoa học trẻ và đối tác doanh nghiệp; duy trì sinh hoạt học thuật định kỳ minh bạch; xây dựng văn hóa hợp tác dựa trên chuẩn mực liêm chính khoa học để hạn chế các biểu hiện tiêu cực của vốn xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Phạm vi khảo sát: Mẫu nghiên cứu giới hạn trong phạm vi 27 nhóm nghiên cứu mạnh cấp Đại học Quốc gia Hà Nội được công nhận trong giai đoạn 2014–2017 (thu về 22 phiếu khảo sát hợp lệ từ các trưởng nhóm), chưa mở rộng ra các cơ sở giáo dục đại học khác trong nước.
  • Phương pháp phân tích: Luận án tiếp cận chủ yếu dưới dạng nghiên cứu định tính kết hợp thống kê mô tả, chưa áp dụng các công cụ phân tích mạng lưới xã hội định lượng chuyên sâu (Social Network Analysis - SNA) với các chỉ số liên kết toán học.
  • Phạm vi không gian thể chế: Chưa khảo sát so sánh đối chứng với các nhóm nghiên cứu thuộc các viện nghiên cứu chuyên ngành trực thuộc viện hàn lâm hoặc các trung tâm R&D của doanh nghiệp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng địa bàn khảo sát đến các nhóm nghiên cứu mạnh thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, các trường đại học trọng điểm và các viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
  • Ứng dụng phương pháp phân tích mạng lưới xã hội định lượng (SNA) để mô hình hóa và đo lường cấu trúc mạng lưới, mật độ liên kết và các lỗ hổng cấu trúc (structural holes) trong mối tương quan với các chỉ số trích dẫn và công bố khoa học.
  • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế chuyển giao vốn xã hội giữa các thế hệ nhà khoa học nhằm khắc phục nguy cơ đứt gãy mạng lưới khi các nhà khoa học đầu ngành nghỉ hưu.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng và ứng dụng

  • Cán bộ quản lý KH&CN và người làm chính sách: Tham khảo cơ sở lý luận và các giải pháp về thể chế để xây dựng tiêu chí công nhận, cơ chế đầu tư, đánh giá hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu mạnh trong các cơ sở giáo dục đại học.
  • Lãnh đạo các trường đại học, viện nghiên cứu: Ứng dụng mô hình quản trị vốn xã hội nhằm tạo dựng môi trường học thuật mở, hỗ trợ kết nối mạng lưới quốc tế và xây dựng chính sách bồi dưỡng đội ngũ kế cận.
  • Trưởng nhóm và thành viên các nhóm nghiên cứu: Tham khảo phương thức huy động và làm giàu vốn xã hội cá nhân và tập thể, phát huy vai trò hợp tác học thuật và kiểm soát các rủi ro tiêu cực trong công bố và đào tạo.
  • Học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý KH&CN, Xã hội học, Khoa học Quản lý: Sử dụng khung phân tích, bảng hỏi và hệ thống khái niệm của luận án làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về tài sản vô hình và mạng lưới học thuật.

Các nội dung đáng tham khảo

  • Khung phân tích liên kết giữa 3 thành tố vốn xã hội với 4 nhóm hoạt động KH&CN (Chương 2).
  • Bộ số liệu khảo sát về cơ cấu nhân lực, học hàm, học vị, nơi đào tạo và thâm niên của đội ngũ trưởng nhóm nghiên cứu mạnh tại ĐHQGHN (Chương 3).
  • Các phân tích thực chứng về tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) của vốn xã hội trong công bố khoa học và đấu thầu nhiệm vụ R&D (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Vốn xã hội trong hoạt động KH&CN được luận án cấu trúc gồm những thành tố nào?

Luận án xác định vốn xã hội trong hoạt động KH&CN được cấu thành từ 3 thành tố cơ bản:

  1. Mạng lưới xã hội (Social Networks): Các mối quan hệ hợp tác học thuật trong nội bộ nhóm, với đồng nghiệp trong nước, quốc tế, học trò và các đối tác bên ngoài.
  2. Sự tin cậy (Trust): Lòng tin về năng lực chuyên môn, uy tín khoa học và chuẩn mực đạo đức giữa các thành viên.
  3. Sự tương tác, có đi - có lại (Reciprocity): Cơ chế trao đổi tri thức, chia sẻ nguồn lực nghiên cứu, dữ liệu, trang thiết bị và hỗ trợ lẫn nhau trong đào tạo, công bố.

2. Mẫu khảo sát trưởng nhóm nghiên cứu mạnh tại ĐHQGHN phản ánh những đặc điểm nhân khẩu học và học thuật nào?

Dữ liệu khảo sát từ 22/27 trưởng nhóm nghiên cứu mạnh hợp lệ cho thấy:

  • Học vị, học hàm: 100% có học vị Tiến sĩ; 53,6% có học hàm Giáo sư và 39,3% có học hàm Phó Giáo sư.
  • Nơi đào tạo: 78,6% được đào tạo bài bản từ các nước phát triển trên thế giới; 21,4% đào tạo trong nước.
  • Độ tuổi: 78,6% thuộc thế hệ 3X, 4X, 5X, 6X (trong đó 50% thuộc thế hệ 5X); người cao tuổi nhất sinh năm 1938; chỉ 21,4% thuộc thế hệ 7X, 8X.
  • Giới tính và thâm niên: 88,89% là nam giới (24/27 người) và 89,3% có thâm niên công tác trên 10 năm.

3. Vốn xã hội thể hiện tác động hai mặt như thế nào trong hoạt động R&D và công bố quốc tế?

  • Mặt tích cực: Giúp nhóm tiếp cận nhanh thông tin đề tài, thành lập liên danh nghiên cứu đa ngành, kết nối với các đồng nghiệp quốc tế để nâng cao chất lượng bài báo và gia tăng số lượng công bố ISI/Scopus.
  • Mặt tiêu cực: Dẫn đến nguy cơ cục bộ, khép kín trong phân chia nhiệm vụ nghiên cứu khoa học; phát sinh hiện tượng đứng tên bài báo mang tính ngoại giao (honorary authorship) hoặc hình thành các nhóm liên kết trích dẫn khép kín.

4. Luận án phân tích vốn xã hội ở những cấp độ không gian nào theo quan điểm quản lý KH&CN?

Dựa trên quan điểm của Vũ Cao Đàm, luận án xem xét vốn xã hội trên 3 cấp độ:

  • Cấp độ vi mô (micro-level): Vốn xã hội của từng cá nhân nhà khoa học (quan hệ thầy trò, đồng môn, uy tín cá nhân).
  • Cấp độ trung mô (meso-level): Vốn xã hội của nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, bộ môn, khoa hoặc tổ chức nghiên cứu.
  • Cấp độ vĩ mô (macro-level): Mạng lưới liên kết nghiên cứu ở quy mô quốc gia và hệ thống hợp tác khoa học quốc tế.

5. Vì sao luận án nhận định các nhóm nghiên cứu mạnh ĐHQGHN đang gặp thách thức về tính bền vững của vốn xã hội?

Thách thức lớn nhất xuất phát từ cơ cấu độ tuổi: gần 80% trưởng nhóm sinh trước năm 1970 (thuộc thế hệ 3X đến 6X), nhiều người đã đến hoặc quá tuổi nghỉ hưu. Do vốn xã hội của nhóm nghiên cứu mạnh gắn liền chặt chẽ với uy tín và mạng lưới quan hệ quốc tế cá nhân của trưởng nhóm, nếu không có chiến lược bồi dưỡng đội ngũ kế cận kịp thời, nhóm sẽ đối mặt với nguy cơ suy giảm nguồn lực và đứt gãy mạng lưới nghiên cứu khi thế hệ trưởng nhóm rút lui.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Vai trò của vốn xã hội trong hoạt động khoa học và công nghệ: Trường hợp các nhóm nghiên cứu mạnh tại Đại học Quốc gia Hà Nội" của tác giả Nguyễn Thị Hương Giang là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận quản lý nhóm nghiên cứu đại học dưới góc độ vốn xã hội. Công trình đã làm rõ đặc điểm cơ cấu tổ chức, nhân lực và thực trạng sử dụng mạng lưới, lòng tin và tương tác học thuật của 27 nhóm nghiên cứu mạnh giai đoạn 2014–2017. Bằng việc phân tích tác động hai mặt của vốn xã hội lên các hoạt động R&D, công bố quốc tế, đào tạo sau đại học và chuyển giao tri thức, luận án đã cung cấp các luận cứ khoa học thực chứng để đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả quản lý KH&CN trong giáo dục đại học.