Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ (chương trình đào tạo thí điểm) của nghiên cứu sinh Phạm Hồng Trang, được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn Học và PGS. Đào Thanh Trường, mang tiêu đề: "Xây dựng mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp dưới tiếp cận hệ thống đổi mới".

Mối liên kết giữa ba khu vực đào tạo, nghiên cứu và sản xuất (tam giác liên kết) đóng vai trò quyết định đối với việc nâng cao năng lực phát triển công nghệ nội sinh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tại Việt Nam, quá trình phát triển của mối liên kết này trải qua ba giai đoạn lịch sử gắn liền với sự thay đổi của triết lý quản lý khoa học và công nghệ (KH&CN):

  • Thời kỳ trước năm 1986: Hệ thống KH&CN (hình thành từ năm 1959 khi thành lập Ủy ban Khoa học Nhà nước) mang đặc điểm nghiên cứu tách rời đào tạo và sản xuất. Trường đại học chỉ đảm nhận chức năng đào tạo, việc nghiên cứu do các viện trực thuộc Bộ phụ trách theo chỉ đạo hành chính;
  • Thời kỳ 1986 – 2005: Vấn đề liên kết được thể chế hóa bước đầu qua Nghị định số 35/HĐBT (1992), Quyết định số 324/CT (1993), Luật KH&CN năm 2000 và Luật Giáo dục, song hoạt động nghiên cứu khoa học của trường đại học vẫn còn mờ nhạt;
  • Thời kỳ từ năm 2005 đến nay: Nghị định số 115/2005/NĐ-CP xác lập cơ chế tự chủ cho tổ chức KH&CN. Mặc dù các trường đại học đã mở rộng chức năng nghiên cứu và phục vụ xã hội, liên kết thực tế giữa ba bên vẫn lỏng lẻo, mang tính biệt lập, cát cứ. Doanh nghiệp chưa chủ động tiếp nhận đầu ra nghiên cứu do giới hạn về năng lực kỹ thuật và bài toán hiệu quả kinh tế.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các mô hình liên kết hiện hành (như mô hình tuyến tính hoặc mô hình Ba vòng xoắn - Triple Helix) bộc lộ nhiều hạn chế khi áp dụng vào Việt Nam, dễ dẫn đến "bẫy công nghệ" hoặc thiếu tính khả thi do cơ chế thị trường và chính sách đổi mới chưa đồng bộ. Luận án lựa chọn tiếp cận hệ thống đổi mới (HTĐM) nhằm xây dựng một mô hình liên kết phù hợp với bối cảnh thể chế đang chuyển đổi của Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu tổng quát: Xây dựng mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp ở Việt Nam dưới tiếp cận HTĐM.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đổi mới, HTĐM, chính sách đổi mới và mô hình liên kết ba bên;
    2. Khảo sát, đánh giá thực trạng liên kết và nhận diện các yếu tố tác động, rào cản đối với mối liên kết ba bên;
    3. Đề xuất mô hình liên kết mới và hệ thống giải pháp đảm bảo vận hành mô hình theo tiếp cận HTĐM có điều chỉnh.

Câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi chủ đạo (6.1): Mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp cần được thiết kế như thế nào dưới tiếp cận HTĐM?
  • Các câu hỏi cụ thể (6.2):
    1. Vì sao dựa vào tiếp cận HTĐM để xây dựng mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp?
    2. Thực trạng mối liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp đang diễn ra như thế nào?
    3. Cần có những điều kiện gì để vận hành tốt mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp theo tiếp cận HTĐM trong bối cảnh nước ta hiện nay?

Giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết chủ đạo (7.1): Trong bối cảnh nước ta hiện nay, mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp cần được thiết kế trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm, là nhà đầu tư và tiêu thụ sản phẩm KH&CN của trường, viện; hoạt động KH&CN của trường, viện ngoài mục tiêu tăng cường năng lực bản thân sẽ chủ yếu phục vụ nhu cầu của doanh nghiệp; Chính phủ vừa đóng vai trò hỗ trợ, đảm bảo cho mối liên kết thông qua tạo dựng khung hành lang pháp lý vừa tham gia vào quá trình liên kết theo hình thức hợp tác công – tư.
  • Các luận điểm cụ thể:
    1. Tiếp cận HTĐM là kết quả của quá trình tiến hóa các lý thuyết đổi mới, có khả năng tạo ra sản phẩm đổi mới;
    2. Việc liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp ở nước ta đã hình thành song còn hạn chế nhiều so với tiềm năng;
    3. Cần có tổng hợp các điều kiện về cơ chế chính sách, tài chính, nhân lực, bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT) và các điều kiện cụ thể cho từng phân hệ để vận hành mô hình liên kết.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mối liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp dưới tiếp cận HTĐM.
  • Phạm vi nội dung: Khảo sát thực trạng liên kết qua 3 dòng lưu chuyển tri thức chính: trao đổi nhân lực, chuyển giao kết quả nghiên cứu và trao đổi thông tin; đề xuất mô hình và giải pháp vận hành.
  • Phạm vi không gian khảo sát: 04 trường đại học (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội - ĐHBKHN, Học viện Nông nghiệp Việt Nam - HVNNVN, Trường Đại học Công nghệ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội - ĐHCN, Trường Đại học Lao động – Xã hội - ĐHLĐXH); 04 viện nghiên cứu (Viện Máy và Dụng cụ Công nghiệp - IMI, Viện Vật lý Kỹ thuật - VLKT, Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm - CNSH&CNTP, Viện Nghiên cứu và Phát triển Cây trồng - NCPTCT); cùng dữ liệu điều tra từ 104 doanh nghiệp.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu khảo sát thực địa từ năm 2014 đến 2018; phân tích tài liệu, văn bản chính sách giai đoạn từ năm 2004 (thời điểm ban hành Quyết định số 171/TTg về đổi mới cơ chế quản lý KH&CN) trở lại đây, kết hợp phân tích chuỗi tư liệu lịch sử từ giai đoạn trước đổi mới.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được cấu trúc theo hai nhóm nghiên cứu chính:

1. Nhóm công trình về Hệ thống đổi mới và chính sách đổi mới:

  • Khái niệm và cấu trúc HTĐM: Thuật ngữ Hệ thống đổi mới quốc gia (HTĐMQG) được Christopher Freeman khởi xướng năm 1982 từ việc phân tích sự tương hợp thể chế tại Nhật Bản, xác định 4 yếu tố cấu thành: chính sách nhà nước, vai trò R&D của doanh nghiệp, vốn con người và cấu trúc đoàn hội. Bengt-Åke Lundvall (1992) phát triển HTĐMQG thành hệ thống xã hội lấy học tập tương tác và khai thác tri thức làm trung tâm. Richard Nelson và Nathan Rosenberg (1993) tiếp cận HTĐM theo mô hình Khoa học – Công nghệ – Đổi mới. Charles Edquist (1997) định nghĩa đổi mới là sự kết hợp mới của các tri thức hiện có. Lundvall, Chaminade và Vang (2009) mở rộng khái niệm HTĐMQG sang bối cảnh các nền kinh tế đang phát triển.
  • Các dòng tri thức và chức năng HTĐM: Nghiên cứu của Bộ Công nghiệp, Khoa học và Du lịch Australia (1996) phân loại các động lực đổi mới kinh doanh. Báo cáo của OECD (2013) cùng các nghiên cứu của Henry Chesbrough về "Đổi mới mở" (Open Innovation) và Đại học Quản lý Singapore chỉ ra vai trò của công viên KH&CN trong việc luân chuyển dòng tri thức và sở hữu trí tuệ. Nguyễn Mạnh Quân (2001, 2006, 2012) hệ thống hóa các dòng tri thức trong HTĐMQG (hợp tác kỹ thuật công nghiệp, tương tác công – tư, phổ biến công nghệ, luân chuyển cán bộ) và so sánh học thuyết kinh tế học đổi mới với kinh tế học tân cổ điển và kinh tế học Keynes mới.
  • HTĐM và chính sách đổi mới tại Việt Nam: Nguyễn Võ Hưng (2013) chỉ rõ các khiếm khuyết của HTĐM đang hình thành tại Việt Nam: tính không đầy đủ, doanh nghiệp chủ yếu học hỏi nâng cao năng lực sản xuất chứ chưa có năng lực thiết kế/thị trường, trường đại học đóng vai trò hỗ trợ thay vì dẫn dắt, thiếu hụt thể chế chính thức. Trần Ngọc Ca và Nguyễn Võ Hưng (2012) phân tích các chức năng đổi mới trong nông nghiệp. Trần Công Yên (2012) nhấn mạnh trường viện đóng vai trò giải mã công nghệ, thương mại hóa sáng chế trung bình mất 7–12 năm. Đặng Duy Thịnh (2012) điểm lại lịch sử chính sách khuyến khích R&D (từ Quyết định 175/CP năm 1981, Nghị quyết 51-HĐBT năm 1983, Nghị định 119/1999/NĐ-CP, Luật KH&CN 2000, Nghị định 115/2005 đến Nghị định 96/2010), yêu cầu chuyển đổi cơ chế quản lý phi tuyến tính lấy doanh nghiệp làm trung tâm.

2. Nhóm công trình về liên kết trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp:

  • Kinh nghiệm quốc tế và chức năng thứ ba của đại học: Claes Brundenius và cộng sự (2009), Yusuf và Nabeshima (2007) khẳng định trường đại học tại các nước đang phát triển cần dựa vào hoạt động nghiên cứu nội tại để phát triển "chức năng thứ ba" (liên kết phục vụ công nghiệp và xã hội). Sara Guri và cộng sự (2004) phân tích vai trò của nghiên cứu trong xếp hạng đại học quốc tế. Kinh nghiệm Thụy Điển cho thấy việc trao quyền sở hữu doanh nghiệp (từ năm 1994) và thể chế hóa chức năng thứ ba (từ năm 1997) đã gắn kết nghiên cứu hàn lâm với xã hội. Đạo luật Bayh-Dole (Mỹ, 1980) được phân tích như cơ chế trao quyền sở hữu sáng chế tạo ra từ ngân sách công cho các trường đại học nhằm thúc đẩy thành lập văn phòng chuyển giao công nghệ.
  • Thực trạng liên kết tại Việt Nam: Lê Đình Tiến và Trần Chí Đức (2001) đánh giá sự suy giảm nhân lực R&D khu vực nhà nước giai đoạn 1985–1994 (giảm 10%/năm), kinh phí KH&CN hạn hẹp (chiếm 2% ngân sách năm 2000), kinh phí nghiên cứu trường đại học rất thấp. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế năm 2005 của Trường ĐHKHXH&NV (Vũ Cao Đàm, Hoàng Văn Luân, Mai Hà, Đào Thanh Trường, Trịnh Ngọc Thạch, Trương Quang Học) bàn luận về mô hình đại học định hướng nghiên cứu. Trần Xuân Định (2012) đánh giá mô hình đào tạo khoa học xã hội, kiến nghị mô hình "viện trong trường" và giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn nghiên cứu trong nước dừng lại ở việc phân tích chính sách KH&CN đơn lẻ hoặc nêu định hướng chung, chưa xem xét chính sách đổi mới dưới dạng một hệ thống chính sách tích hợp (gồm giáo dục, kinh tế, tài chính, thuế, đầu tư). Thiếu vắng một mô hình liên kết cụ thể gắn với các dòng tri thức của HTĐM có khả năng khắc phục tình trạng phân tán, đứt gãy giữa cung (trường, viện) và cầu (doanh nghiệp) trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án kế thừa và phát triển hệ thống khái niệm công cụ:

  • Đổi mới (Innovation): Khởi nguồn từ Joseph Schumpeter (1911, 1934, 1939) với 5 dạng thức đổi mới (sản phẩm mới, phương pháp sản xuất mới, thị trường mới, nguồn nguyên liệu mới, cơ cấu ngành mới). Theo OECD (2005, Oslo Manual), đổi mới gồm 4 loại: đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình, đổi mới tiếp thị và đổi mới tổ chức. Luận án định nghĩa: "Đổi mới là tập hợp các hoạt động xã hội phức tạp nhằm tạo ra sản phẩm mới hoặc cải tiến, thực hiện qui trình theo phương pháp mới hoặc áp dụng cách thức mới để đưa một sáng chế ra thị trường, đem lại lợi ích kinh tế".
  • Hệ thống đổi mới quốc gia (HTĐMQG): Được xác định là mạng lưới các yếu tố và tương tác giữa các yếu tố, tổ chức và thiết chế tham gia vào quá trình tạo ra, áp dụng và phổ biến tri thức mới trong phạm vi quốc gia. Theo GS. Vũ Cao Đàm, mối quan hệ cấu trúc được biểu diễn bằng công thức: $$\text{HTĐM} = \text{R&D} + \text{Đổi mới}$$ Trong đó, R&D do trường đại học và viện nghiên cứu đảm nhận, còn đổi mới được thực hiện trực tiếp tại doanh nghiệp.
  • Chính sách đổi mới: Bao gồm cả chính sách công bố và chính sách ngầm định (chính sách KH&CN, công nghiệp, tài khóa, thương mại, giáo dục và bảo hộ SHTT) nhằm tác động đến quyết định đổi mới của doanh nghiệp (Hauknes & Wicken, 1999).
  • Khung phân tích dòng tri thức: Luận án đánh giá mối quan hệ ba bên thông qua 3 dòng tri thức cốt lõi: Dòng trao đổi nhân lực; Dòng chuyển giao kết quả nghiên cứu; Dòng trao đổi thông tin KH&CN.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

Phương pháp Quy mô / Mẫu khảo sát Kỹ thuật & Nội dung thực hiện
Phân tích tài liệu Các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết NCKH giai đoạn 2004–2018 Thu thập dữ liệu thứ cấp, xây dựng bảng hỏi khảo sát và khung chỉ báo đánh giá.
Phỏng vấn sâu $N = 12$ cá nhân (04 nhà quản lý/giảng viên đại học, 04 nhà quản lý/nhà khoa học viện, 04 giám đốc doanh nghiệp) Thu thập dữ liệu định tính về mục đích, nhu cầu, rào cản liên kết; xử lý bằng phương pháp gỡ băng và phân tích nội dung văn bản.
Điều tra bảng hỏi (Trường ĐH) Phát ra: 108 phiếu; Thu về hợp lệ: $N = 100$ phiếu tại 04 trường (ĐHBKHN, HVNNVN, ĐHCN, ĐHLĐXH) Mẫu ngẫu nhiên có phân tầng học vị: $\approx 1/4$ tiến sĩ trở lên, $1/2$ thạc sĩ, $1/4$ cử nhân/khác; cơ cấu mỗi trường 02 nhà quản lý, 25 giảng viên.
Điều tra bảng hỏi (Viện NC) Phát ra: 108 phiếu; Thu về hợp lệ: $N = 93$ phiếu tại 04 viện (Viện IMI, Viện VLKT, Viện CNSH&CNTP, Viện NCPTCT) Mẫu ngẫu nhiên có phân tầng học vị: $\approx 1/4$ tiến sĩ trở lên, $2/4$ thạc sĩ, $1/4$ cử nhân/khác; cơ cấu mỗi viện 01 nhà quản lý, 26 nghiên cứu viên.
Dữ liệu thứ cấp (Doanh nghiệp) Mẫu điều tra $N = 104$ doanh nghiệp Kế thừa dữ liệu điều tra thực tế từ đề tài khoa học cấp Nhà nước mã số KX.01.03/11-15 do PGS. Đào Thanh Trường làm chủ nhiệm.
Quan sát tự do Hệ thống phòng thí nghiệm, trang thiết bị, vườn ươm/đất thực nghiệm tại các trường, viện Nhận diện trực quan cơ sở vật chất và môi trường hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng.
Xử lý số liệu Toàn bộ dữ liệu định lượng Phân tích thống kê mô tả, lập bảng chéo và xếp hạng chỉ số.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế theo hai trục chính: lý thuyết về HTĐM và thực tiễn liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp. Luận án phân tích sự phát triển của khái niệm HTĐM từ góc độ thể chế (Freeman, Lundvall, Nelson), các chức năng của hệ thống đổi mới và dòng tri thức công – tư (OECD, Chesbrough).

Về mặt thực tiễn tại Việt Nam, tác giả điểm lại các nghiên cứu của Lê Đình Tiến, Đặng Duy Thịnh, Nguyễn Võ Hưng, Trần Ngọc Ca, Trần Công Yên, khẳng định bối cảnh chuyển đổi thể chế KH&CN qua các mốc văn bản pháp lý. Tiểu kết chương xác lập khoảng trống nghiên cứu: các công trình trước đây chưa xây dựng được mô hình liên kết vận hành tích hợp trong bối cảnh chính sách đổi mới còn phân tán, làm cơ sở để tác giả thiết kế các chỉ báo khảo sát 3 dòng tri thức trong các chương tiếp theo.

Chương 2. Cơ sở lý luận của việc xây dựng mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp theo tiếp cận hệ thống đổi mới

Chương này xây dựng khung lý thuyết toàn diện cho luận án:

  • Hệ khái niệm công cụ: Định nghĩa chuẩn xác về đổi mới, HTĐM, HTĐMQG, chính sách đổi mới, tam giác liên kết và mô hình liên kết.
  • Tiến trình phát triển của các mô hình liên kết: Phân tích sự chuyển dịch từ Mô hình liên kết tuyến tính (Linear Model: R&D $\rightarrow$ Sản xuất $\rightarrow$ Thị trường) sang Mô hình Ba vòng xoắn (Triple Helix: tương tác cân bằng giữa Nhà nước – Viện/Trường – Doanh nghiệp). Luận án chỉ ra điểm nghẽn của mô hình Ba vòng xoắn khi áp dụng vào các nước đang phát triển là nguy cơ xuất hiện "bẫy công nghệ" và sự thiếu hụt các thể chế trung gian.
  • Bản chất tiếp cận HTĐM: Nhấn mạnh tính phi tuyến, sự tương tác học hỏi và vai trò trung tâm của doanh nghiệp. Trong HTĐM, trường đại học và viện nghiên cứu giữ chức năng cung cấp tri thức, đào tạo nhân lực; Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế, điều tiết và hỗ trợ giảm thiểu rủi ro thông qua tài trợ và chính sách công.

Chương 3. Thực trạng mối liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp

Chương 3 trình bày các kết quả điều tra thực nghiệm chi tiết về 3 chủ thể trong mối liên kết:

  1. Phân hệ trường đại học:
    • Nguồn lực phục vụ liên kết: Nhân lực có trình độ sau đại học tập trung lớn nhưng kinh phí chi cho R&D chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng thu của trường.
    • Hoạt động liên kết: Mức độ hợp tác trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ giữa trường đại học với doanh nghiệp còn ở mức khiêm tốn. Đa số giảng viên nhận định sự hợp tác chủ yếu diễn ra qua hoạt động đào tạo, thực tập của sinh viên và dịch vụ tư vấn kỹ thuật ngắn hạn mang tính cá nhân. Nguồn thông tin KH&CN trường tham khảo chủ yếu từ sách báo, tạp chí chuyên ngành quốc tế và hội thảo khoa học, thông tin xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp chiếm thứ hạng thấp.
  2. Phân hệ viện nghiên cứu:
    • Các viện khảo sát có sự phân hóa: Viện IMI hoạt động hiệu quả theo mô hình doanh nghiệp KH&CN; Viện NCPTCT tự chủ tài chính tốt nhờ gắn kết với thị trường giống cây trồng; các viện trực thuộc trường (Viện VLKT, Viện CNSH&CNTP) có tiềm lực công nghệ nhưng chịu rào cản về cơ chế tài chính.
    • Hoạt động đào tạo sau đại học tại các viện diễn ra thường xuyên giai đoạn 2006–2012, song dòng luân chuyển cán bộ chủ yếu theo chiều từ trường sang viện. Mức độ hợp tác phát triển công nghệ với doanh nghiệp chưa đồng đều, còn phụ thuộc vào các hợp đồng kinh tế quy mô nhỏ.
  3. Phân hệ doanh nghiệp:
    • Khảo sát 104 doanh nghiệp cho thấy tỷ lệ nhân sự chuyên trách R&D rất thấp (đặc biệt ở doanh nghiệp vừa và nhỏ). Trình độ chuyên môn của nhân lực kỹ thuật hạn chế.
    • Nguồn thông tin đổi mới công nghệ của doanh nghiệp chủ yếu từ khách hàng, đối thủ cạnh tranh và nhà cung cấp thiết bị; tỷ lệ thu nhận thông tin từ trường đại học và viện nghiên cứu chiếm tỷ trọng rất thấp. Các sản phẩm và quy trình mới phần lớn dựa trên việc cải tiến máy móc nhập khẩu hơn là tiếp nhận chuyển giao sáng chế nội địa.

Chương 4. Đề xuất mô hình liên kết giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp

Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng và các rào cản được nhận diện, Chương 4 đưa ra các nội dung đề xuất:

  • Cơ sở đề xuất mô hình: Phân tích động lực thúc đẩy và các nguyên nhân cản trở liên kết (thiếu niềm tin giữa các bên, cơ chế định giá tài sản trí tuệ bất cập, thiếu hụt nguồn vốn tài trợ rủi ro, vướng mắc trong cơ chế thanh quyết toán tài chính công).
Nhóm rào cản Biểu hiện tại Trường Đại học / Viện Nghiên cứu Biểu hiện tại Doanh nghiệp
Cơ chế, chính sách Quy định tự chủ chưa đồng bộ; thủ tục xử lý tài sản công và bản quyền phức tạp. Chưa tiếp cận được các ưu đãi thuế cho R&D; thiếu hành lang pháp lý bảo vệ khi hợp tác rủi ro.
Tài chính, thị trường Thiếu vốn ươm tạo công nghệ thử nghiệm (pilot); khó định giá tài sản vô hình. Ưu tiên lợi nhuận ngắn hạn; ngại đầu tư vào kết quả nghiên cứu chưa hoàn thiện.
Thông tin, kết nối Nghiên cứu theo hướng hàn lâm, thiếu dữ liệu về nhu cầu thực của ngành sản xuất. Không nắm được năng lực công nghệ và sản phẩm sẵn có từ trường/viện.
  • Cấu trúc mô hình liên kết mới: Mô hình đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của HTĐM. Doanh nghiệp vừa là chủ thể đưa ra yêu cầu nghiên cứu (bên cầu), vừa là nhà đầu tư và thương mại hóa sản phẩm. Trường đại học và viện nghiên cứu đảm nhận vai trò cung cấp tri thức nền tảng, nghiên cứu ứng dụng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo đơn đặt hàng. Chính phủ đóng vai trò kiến tạo, điều tiết vĩ mô, hỗ trợ tài chính thông qua các quỹ KH&CN và thúc đẩy cơ chế hợp tác công – tư (PPP).
  • Hệ thống giải pháp thực thi:
    • Giải pháp chung: Hoàn thiện thể chế chính sách đổi mới; phát triển thị trường KH&CN và mạng lưới tổ chức trung gian (TTO, văn phòng SHTT, sàn giao dịch công nghệ); xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro và lợi nhuận;
    • Giải pháp cho phân hệ trường đại học: Tái cơ cấu chương trình nghiên cứu gắn với nhu cầu doanh nghiệp; thành lập doanh nghiệp spin-off; cải cách cơ chế đánh giá giảng viên gắn với sáng chế và chuyển giao;
    • Giải pháp cho phân hệ viện nghiên cứu: Đẩy mạnh chuyển đổi sang cơ chế tự chủ hoàn toàn; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh gắn với doanh nghiệp;
    • Giải pháp cho phân hệ doanh nghiệp: Khuyến khích trích lập Quỹ phát triển KH&CN; xây dựng bộ phận R&D nội bộ; chủ động đặt hàng công nghệ với trường, viện.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm rõ sự tiến hóa của các lý thuyết đổi mới, chỉ rõ những điểm hạn chế của mô hình tuyến tính và mô hình Ba vòng xoắn khi vận dụng vào các quốc gia đang phát triển;
  2. Xác lập khung phân tích mô hình liên kết ba bên dựa trên 3 dòng tri thức trong HTĐMQG (nhân lực, công nghệ, thông tin), gắn kết giữa lý thuyết kinh tế học đổi mới với thực tiễn quản lý KH&CN tại Việt Nam;
  3. Bổ sung định nghĩa chuẩn xác về "đổi mới" và "tiếp cận hệ thống đổi mới" trong điều kiện chuyển đổi kinh tế, làm rõ công thức cấu trúc mối quan hệ giữa R&D và đổi mới.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện với hệ thống số liệu khảo sát từ 04 trường đại học, 04 viện nghiên cứu đại diện cho các lĩnh vực công nghệ, nông nghiệp, khoa học xã hội và 104 doanh nghiệp, phản ánh đúng thực trạng đứt gãy giữa cung và cầu KH&CN;
  2. Nhận diện các điểm nghẽn cốt lõi cản trở liên kết: thiếu hụt thể chế trung gian, cơ chế tài chính xơ cứng, khó khăn trong định giá tài sản trí tuệ và sự thiếu hụt năng lực hấp thụ công nghệ của khối doanh nghiệp;
  3. Thiết kế mô hình liên kết ba bên có sự điều tiết của Chính phủ dưới tiếp cận HTĐM, kèm theo hệ thống giải pháp đồng bộ từ chính sách vĩ mô đến các biện pháp vận hành cụ thể cho từng phân hệ (trường, viện, doanh nghiệp).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Khảo sát thực địa trường đại học và viện nghiên cứu tập trung chủ yếu trên địa bàn Hà Nội (khu vực phía Bắc), chưa mở rộng phạm vi so sánh tương quan với các cơ sở nghiên cứu và đào tạo tại khu vực miền Trung và miền Nam;
    • Số lượng doanh nghiệp điều tra trong mẫu thứ cấp ($N = 104$) phân bổ trên nhiều ngành nghề, dẫn đến việc phân tích sâu các đặc thù công nghệ theo từng chuỗi giá trị ngành còn giới hạn;
    • Chưa định lượng hóa chi tiết mức độ tác động của từng công cụ chính sách tài chính (như chính sách miễn giảm thuế R&D) đối với quyết định đầu tư đổi mới của doanh nghiệp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát liên kết trường – viện – doanh nghiệp trên bình diện toàn quốc và theo từng HTĐM vùng (vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ);
    • Đi sâu nghiên cứu mô hình liên kết trong các ngành công nghệ cao, kinh tế số và nông nghiệp công nghệ cao;
    • Đo lường định lượng hiệu quả của các văn phòng chuyển giao công nghệ (TTO) và các trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ trong trường đại học.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ KH&CN, Bộ GD&ĐT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính): Cung cấp luận cứ khoa học để hoạch định chính sách đổi mới đồng bộ, hoàn thiện thể chế tự chủ đại học, đổi mới cơ chế tài chính quỹ phát triển KH&CN và xây dựng các quy định hướng dẫn thương mại hóa tài sản trí tuệ tạo ra từ ngân sách công;
  • Lãnh đạo các trường đại học và viện nghiên cứu: Tham khảo để tái cấu trúc hoạt động KH&CN, thiết lập các bộ phận chuyên trách chuyển giao tri thức (TTO), xây dựng quy chế chia sẻ lợi nhuận từ li-xăng công nghệ và phát triển mô hình doanh nghiệp khoa học trong trường đại học;
  • Cộng đồng doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề: Giúp nhận diện phương thức tiếp cận các nguồn tri thức, chuyên gia và công nghệ từ trường, viện nhằm tối ưu hóa chi phí R&D và nâng cao năng lực cạnh tranh;
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Làm tài liệu tham khảo chuyên sâu trong các môn học về Quản lý KH&CN, Quản trị đổi mới sáng tạo, Chính sách công và Kinh tế học tri thức.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án không chọn mô hình Ba vòng xoắn (Triple Helix) mà lại lựa chọn tiếp cận HTĐM để xây dựng mô hình liên kết?
Mô hình Ba vòng xoắn đặt vai trò của Chính phủ, Doanh nghiệp và Trường đại học ngang hàng nhau, giả định các chủ thể đều có năng lực tương đương và có thể đảm nhận vai trò của nhau (đại học kinh thương, chính phủ khởi tạo doanh nghiệp). Trong điều kiện Việt Nam, thể chế kinh tế thị trường đang hoàn thiện, năng lực R&D của doanh nghiệp còn yếu và trường đại học chưa có đủ cơ chế tự chủ, việc áp dụng mô hình Ba vòng xoắn dễ dẫn đến tình trạng độc quyền công nghệ ("bẫy công nghệ") hoặc thiếu tính khả thi. Tiếp cận HTĐM đặt doanh nghiệp ở vị trí trung tâm của hoạt động đổi mới, trường/viện là nguồn cung tri thức, và Nhà nước giữ vai trò kiến tạo hành lang pháp lý, phù hợp hơn với thực trạng thể chế của nước ta.

2. Thực trạng phân bổ nhân lực và kinh phí R&D tại các trường đại học và viện nghiên cứu được chỉ ra như thế nào?
Số liệu nghiên cứu chỉ rõ nhân lực có trình độ cao (thạc sĩ, tiến sĩ) tập trung chủ yếu tại các trường đại học và viện nghiên cứu công lập, trong khi tỷ lệ nhân lực R&D tại doanh nghiệp rất thấp. Tuy nhiên, kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học tại các trường đại học chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thu tài chính. Các trường đại học phía Bắc phụ thuộc lớn vào nguồn ngân sách nhà nước cấp theo nhiệm vụ, còn nguồn thu từ hợp đồng nghiên cứu với doanh nghiệp chiếm tỷ lệ không đáng kể.

3. Đâu là những nguyên nhân chính khiến doanh nghiệp Việt Nam ít thu nhận thông tin đổi mới từ trường đại học và viện nghiên cứu?
Dữ liệu khảo sát từ 104 doanh nghiệp cho thấy nguồn thông tin R&D chủ yếu đến từ khách hàng, đối thủ cạnh tranh và nhà cung cấp máy móc. Doanh nghiệp ít liên kết với trường/viện do: (1) Hầu hết kết quả nghiên cứu của trường, viện dừng lại ở dạng thử nghiệm phòng thí nghiệm (lab-scale), chưa được ươm tạo thành quy trình sản xuất thử nghiệm (pilot) sẵn sàng thương mại hóa; (2) Thiếu hụt mạng lưới tổ chức trung gian, văn phòng chuyển giao công nghệ để kết nối cung – cầu; (3) Doanh nghiệp chịu áp lực lợi nhuận ngắn hạn và muốn giữ bí quyết công nghệ nội bộ nên ngại ký kết hợp tác dài hạn.

4. Vai trò của Chính phủ được xác định cụ thể như thế nào trong mô hình liên kết mới?
Trong mô hình đề xuất, Chính phủ không can thiệp hành chính trực tiếp vào quan hệ cung – cầu công nghệ mà thực hiện hai chức năng: (1) Kiến tạo khung khổ pháp lý thuận lợi (đồng bộ chính sách thuế, bảo hộ SHTT, cơ chế định giá tài sản trí tuệ và quyền tự chủ cho các tổ chức KH&CN); (2) Hỗ trợ tài chính gián tiếp thông qua các quỹ phát triển KH&CN quốc gia, quỹ đổi mới công nghệ và tham gia vào quá trình liên kết dưới hình thức hợp tác công – tư (PPP) để chia sẻ rủi ro nghiên cứu trong các lĩnh vực công nghệ then chốt.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Phạm Hồng Trang đã luận giải toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về mối liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp tại Việt Nam dưới lăng kính hệ thống đổi mới. Thông qua hệ thống số liệu khảo sát thực nghiệm tại 4 trường đại học, 4 viện nghiên cứu và 104 doanh nghiệp, công trình đã chỉ rõ những điểm nghẽn thể chế và sự đứt gãy trong các dòng lưu chuyển tri thức giữa khu vực nghiên cứu – đào tạo và khu vực sản xuất. Mô hình liên kết đề xuất lấy doanh nghiệp làm trung tâm, trường – viện làm nền tảng cung ứng tri thức và Chính phủ giữ vai trò kiến tạo thể chế đã cung cấp một khung giải pháp đồng bộ, đóng góp thiết thực cho công tác hoạch định chính sách KH&CN và đổi mới sáng tạo quốc gia.