Phạm Hồng Trang - Mô hình liên kết đại học-viện-doanh nghiệp theo hệ thống đổi mới

Luận văn xây dựng mô hình liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp dưới tiếp cận hệ thống đổi mới. Nghiên cứu phân tích vai trò và cơ chế

Tác giả

Phạm Hồng Trang

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

188
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan mô hình liên kết đại học viện doanh nghiệp

Luận án tiến sĩ của Phạm Hồng Trang nghiên cứu mô hình liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Công trình tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn hệ thống đổi mới. Đây là cách nhìn hiện đại về khoa học và công nghệ. Hệ thống đổi mới xem các chủ thể như những mắt xích gắn bó. Tri thức chảy qua từng mắt xích. Công nghệ được tạo ra, thử nghiệm và thương mại hóa. Trường đại học cung cấp tri thức nền. Viện nghiên cứu phát triển công nghệ. Doanh nghiệp đưa sản phẩm ra thị trường. Ba chủ thể này cần phối hợp chặt chẽ. Liên kết rời rạc làm giảm hiệu quả đổi mới. Luận án khảo sát thực tiễn Việt Nam. Tác giả làm việc cùng nhiều viện và trường lớn. Mục tiêu là xây dựng mô hình liên kết phù hợp bối cảnh trong nước. Mô hình phải đạt mục tiêu của hệ thống đổi mới quốc gia. Công trình đặt nền cho chính sách khoa học và công nghệ rõ ràng hơn.

1.1. Bối cảnh và lý do nghiên cứu

Việt Nam cần nâng cao năng lực đổi mới công nghệ. Khoa học và công nghệ là động lực phát triển kinh tế. Nhưng liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp còn yếu. Tri thức từ trường ít đến được nhà máy. Kết quả nghiên cứu nằm trong ngăn kéo. Doanh nghiệp thiếu nguồn công nghệ tin cậy. Cơ chế tuyến tính cũ làm chậm dòng chảy tri thức. Luận án ra đời để giải bài toán này. Tác giả chọn tiếp cận hệ thống đổi mới làm khung lý thuyết. Cách tiếp cận này đặt doanh nghiệp vào trung tâm. Nghiên cứu hướng tới mô hình liên kết hiệu quả và bền vững.

1.2. Mục tiêu và phạm vi của luận án

Luận án đặt mục tiêu xây dựng mô hình liên kết ba chủ thể. Mô hình dựa trên tri thức về cấu trúc hệ thống đổi mới. Tác giả phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành. Phạm vi nghiên cứu bao gồm nhiều viện và trường tại Hà Nội. Đối tượng là cơ chế liên kết trong hoạt động khoa học và công nghệ. Luận án kết hợp lý thuyết với khảo sát thực tiễn. Phương pháp thu thập dữ liệu được thực hiện cẩn thận. Kết quả phải phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay. Mô hình hướng tới hiệu quả thật, không chỉ trên giấy.

II. Phân tích thực trạng liên kết và những vấn đề tồn tại

Thực trạng liên kết tại Việt Nam còn nhiều hạn chế. Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ mang tính tuyến tính. Mô hình tuyến tính tách rời nghiên cứu khỏi sản xuất. Tri thức không quay vòng giữa các chủ thể. Trường đại học nghiên cứu theo định hướng học thuật. Viện nghiên cứu chạy theo đề tài nhà nước. Doanh nghiệp lo lợi nhuận trước mắt. Ba bên ít gặp nhau trên cùng một mục tiêu. Chính sách ưu đãi thuế đã được ban hành. Nhà nước miễn, giảm thuế khi doanh nghiệp đầu tư cho khoa học. Nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn chưa mặn mà. Lợi ích chưa rõ ràng làm họ e ngại. Cơ chế thiếu nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Đặng Duy Thịnh nêu vấn đề nhưng chưa chỉ rõ cách làm. Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển còn thấp. Chuyển giao công nghệ diễn ra chậm chạp. Những điểm nghẽn này cản trở dòng đổi mới. Phân tích này cho thấy nhu cầu cấp thiết về một mô hình mới.

2.1. Hạn chế của cơ chế tuyến tính cũ

Cơ chế tuyến tính chia quá trình thành các bước rời rạc. Nghiên cứu đứng một mình. Sản xuất đứng một mình. Tri thức chỉ chảy một chiều và dễ đứt gãy. Phản hồi từ thị trường không quay lại phòng thí nghiệm. Doanh nghiệp không định hướng được đề tài nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu thiếu tính ứng dụng. Nhiều công trình không ra được thị trường. Cách tiếp cận hệ thống đổi mới đòi hỏi loại bỏ cơ chế này. Doanh nghiệp phải là điểm khởi đầu. Doanh nghiệp cũng là trung tâm của mọi chính sách đổi mới. Đây là thay đổi cốt lõi mà luận án nhấn mạnh.

2.2. Rào cản trong hợp tác giữa ba chủ thể

Rào cản đầu tiên là khác biệt mục tiêu. Trường ưu tiên công bố. Doanh nghiệp ưu tiên lợi nhuận. Rào cản thứ hai là thiếu lòng tin. Hai bên ngại chia sẻ tri thức và dữ liệu. Rào cản thứ ba là cơ chế tài chính chưa minh bạch. Quyền sở hữu kết quả nghiên cứu chưa rõ. Rào cản thứ tư là thiếu trung gian kết nối. Không có tổ chức làm cầu nối hiệu quả. Chính sách ưu đãi tồn tại nhưng khó tiếp cận. Thủ tục phức tạp làm doanh nghiệp nản lòng. Những rào cản này cần được tháo gỡ đồng bộ.

III. Giải pháp xây dựng mô hình liên kết theo hệ thống đổi mới

Giải pháp cốt lõi là đặt doanh nghiệp làm trung tâm. Mọi cơ chế và chính sách xoay quanh nhu cầu thị trường. Tiếp cận hệ thống đổi mới cung cấp khung lý thuyết. Khung này mô tả cấu trúc và quan hệ giữa các chủ thể. Mô hình liên kết phải đảm bảo dòng tri thức hai chiều. Trường đại học gắn đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp. Viện nghiên cứu phát triển công nghệ có địa chỉ ứng dụng. Doanh nghiệp đặt hàng và đồng tài trợ nghiên cứu. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo. Nhà nước hoàn thiện chính sách đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Nhà nước đánh giá lại hiệu lực các chính sách đã ban hành. Nguyên tắc hai bên cùng có lợi phải được giữ vững. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ cần phát huy tác dụng. Cơ chế chuyển giao công nghệ phải thông thoáng. Tổ chức trung gian giúp kết nối cung và cầu. Mô hình hướng tới hiệu quả thật và bền vững. Giải pháp này phù hợp bối cảnh Việt Nam hiện nay.

3.1. Đặt doanh nghiệp làm trung tâm đổi mới

Doanh nghiệp hiểu rõ thị trường nhất. Doanh nghiệp biết sản phẩm nào được chấp nhận. Đặt doanh nghiệp làm trung tâm giúp định hướng nghiên cứu đúng. Đề tài bám sát nhu cầu thực tế. Nhà nước và doanh nghiệp cùng chia sẻ rủi ro. Quan điểm Nhà nước và nhân dân cùng làm được áp dụng. Doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển nhiều hơn. Trường và viện trở thành đối tác cung cấp tri thức. Dòng công nghệ chảy thông suốt đến nhà máy. Mô hình này phá vỡ cơ chế tuyến tính cũ. Đổi mới trở thành quá trình tương tác liên tục.

3.2. Hoàn thiện cơ chế và chính sách hỗ trợ

Chính sách phải khuyến khích đầu tư cho nghiên cứu. Ưu đãi thuế cần đơn giản và dễ tiếp cận. Nhà nước rà soát hiệu lực các chính sách hiện hành. Chính sách lỗi thời cần sửa đổi kịp thời. Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao cần được kích hoạt. Quyền sở hữu trí tuệ phải được bảo vệ rõ ràng. Cơ chế tài chính minh bạch tạo lòng tin. Tổ chức trung gian kết nối ba chủ thể hiệu quả. Chính sách đổi mới bao gồm cả công bố và ngầm định. Sự đồng bộ giữa các chính sách quyết định thành công của mô hình.

IV. Kết luận và ứng dụng mô hình liên kết vào thực tiễn

Luận án khẳng định giá trị của tiếp cận hệ thống đổi mới. Mô hình liên kết ba chủ thể là hướng đi đúng đắn. Trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cùng tạo giá trị. Tri thức chảy thông suốt giữa các mắt xích. Đổi mới trở thành quá trình tương tác liên tục. Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện chính sách khoa học và công nghệ. Mô hình đặt doanh nghiệp làm trung tâm. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và điều phối. Ứng dụng thực tiễn đòi hỏi quyết tâm từ nhiều phía. Các trường cần đổi mới chương trình đào tạo. Các viện cần gắn nghiên cứu với ứng dụng. Doanh nghiệp cần chủ động đặt hàng tri thức. Chính sách cần đồng bộ và minh bạch. Mô hình phù hợp bối cảnh Việt Nam hiện nay. Công trình mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo. Năng lực đổi mới quốc gia sẽ được nâng cao. Đây là đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế xã hội.

4.1. Giá trị khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án bổ sung lý luận về hệ thống đổi mới tại Việt Nam. Công trình làm rõ cấu trúc và quan hệ giữa ba chủ thể. Giá trị thực tiễn nằm ở mô hình liên kết khả thi. Mô hình dựa trên khảo sát nhiều viện và trường lớn. Kết quả giúp nhà quản lý hoạch định chính sách tốt hơn. Doanh nghiệp có cơ sở để hợp tác với trường và viện. Trường và viện tìm được địa chỉ ứng dụng nghiên cứu. Công trình thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Đóng góp này có ý nghĩa cho quản lý khoa học và công nghệ.

4.2. Khuyến nghị triển khai và hướng phát triển

Triển khai mô hình cần lộ trình rõ ràng. Bước đầu là thí điểm tại một số ngành trọng điểm. Nhà nước hoàn thiện hành lang pháp lý. Các bên xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích. Tổ chức trung gian được thành lập để kết nối. Đào tạo nhân lực gắn với nhu cầu doanh nghiệp. Hướng nghiên cứu tiếp theo là đo lường hiệu quả liên kết. Cần xây dựng bộ chỉ số đánh giá cụ thể. Kinh nghiệm quốc tế nên được tham khảo có chọn lọc. Mô hình cần được điều chỉnh linh hoạt theo thực tiễn phát triển.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ xây dựng mô hình liên kết giữa trường đại học viện nghiên cứu doanh nghiệp dưới tiếp cận hệ thống đổi mới

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2. Cơ sở lý luận của việc xây dựng mô hình liên kết giữa trường đại học — viện nghiên cứu — doanh nghiệp theo tiếp cận hệ thống đổi mới Chương 3. Thực trạng mối liên kết giữa trường đại học — viện nghiên cứu — doanh nghiệp Chương 4.

Đề xuất mô hình liên kết giữa trường đại học — viện nghiên cứu — doanh nghiệp. CHUONG 1 TONG QUAN CAC CONG TRINH NGHIEN CUU LIEN QUAN DEN DE TAI LUAN AN 1. Nhóm công trình nghiên cứu về HTĐM và những vấn đề liên quan Về khái niệm HTĐM Khái niệm HTĐMQG xuất hiện lần đầu trong một nghiên cứu của Freeman năm 1982 nhằm mô tả sự tương hợp trong xã hội Nhật Bản giữa những dạng khác nhau của các mạng lưới thê chế. Freeman là người đầu tiên nhấn mạnh nhân tố thể chế giữa hàng loạt các nhân tố cua HTDMQG.

Freeman cho rằng HTĐMQG gồm 4 yếu tố: Chính sách của Nhà nước; Vai trò R&D của doanh nghiệp, đặc biệt là cách thức R&D được sử dụng để tiếp nhận tri thức và tạo ra một loạt lợi thế về công nghệ; Vai trò của vốn con người và việc tổ chức công việc ở các doanh nghiệp và các ngành; Cấu trúc đoàn hội để tránh được cạnh tranh [34, 1982]. Như vậy, bối cảnh của HTĐM mà nghiên cứu của Freeman đề cập là HTĐM ở các nước phát triển. Nghiên cứu về khái niệm HTĐM được tiếp tục thực hiện vào các thập niên 80, 90 của thế kỷ XX bởi các nhà kinh tế học như Freeman, Lundvall và các học giả của lý thuyết tiến hóa như Metcalfe, Nelson, Winter. Theo các tác giả này, HTĐM là một quá trình liên tục, nơi các thể chế (thói quen và cách hành xử), việc học hỏi, mạng lưới tác nghiệp đóng một vai trò trung tâm tạo ra đổi mới và sự thay đổi công nghệ.

Đây là dòng nghiên cứu về đôi mới theo thể chế, HTĐM được xem xét theo tầm bao quát khác nhau: HTĐMQG, HTĐM vùng và HTĐM ngành. Trong tác phẩm của mình công bố năm 1992, Lundvall đã giải thích chỉ tiết khái niệm HTĐM. Theo Lundvall, HTĐMQG được hiểu là một hệ thống xã hội trong đó việc học tập, nghiên cứu và khai thác là những hoạt động trung tâm. Tri thức là tài nguyên quý giá nhất trong các nền kinh tế hiện đại [40, 1992].

Tiếp cận của Lundvall về HTĐM mang tính lý thuyết hơn các học giả khác và tập trung vào ba vấn đề: Nguồn gốc của đổi mới, bản chất của đối mới và những thê chế phi thị trường trong hệ thống, nghĩa là sự tương tác giữa người dùng và nhà sản xuất và những qui tắc bất thành văn trong hành xử. Nelson và Rosenberg trong một công bố năm 1993 cho răng HTĐMQG là việc tạo lập những yếu tố thé ché, đồng thời đóng một vai trò chính trong việc ảnh 10 hưởng tới tiến trình đổi mới. Các tác giả nhìn nhận đổi mới đồng nghĩa với KH&CN, đổi mới được thực hiện theo mô hình: Khoa học — Công nghệ - Đổi mới. HTĐM do vậy đồng nghĩa với hệ thống khoa học quốc gia, chính sách công nghệ quốc gia [7, 2008].

Nghiên cứu này chưa đề cập đến các chính sách khác có tham gia vào quá trình đổi mới. Nghiên cứu của Phòng Công nghiệp và KH&CN của Australia năm 1996 tập trung vào các yếu tô tác động đến đổi mới kinh doanh trong phạm vi ngành. Theo đó, các nhân tô liên quan đến đổi mới kinh doanh gồm: - Động lực đổi mới: Gồm các nhân tố năng động tác động trực tiếp đến hoạt động đổi mới của các hãng; - Việc chuyển các cơ quan có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của những liên kết, các luồng thông tin và các kỹ năng, sự say mê học tập. - Nền tảng khoa học và kỹ thuật bao gồm các thể chế KH&CN.

- Phạm vi thể chế rộng lớn của các nhân tố quốc gia và cơ cấu cũng như luật pháp, tài chính, giáo dục được nhóm lại dé tao nén những thước đo và hàng loạt các cơ hội cho những người năng nỗ. Nghiên cứu này mới tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến đổi mới kinh doanh trong phạm vi ngành, công ty, chưa đề cập đến cách thức liên kết giữa các thành tố của HTĐM để tạo ra sản phẩm đổi mới, nền kinh tế đổi mới ở các cấp độ quốc gia, vùng. Nguyễn Võ Hưng đã phân tích các quan niệm khác nhau về đổi mới, từ đó đưa ra khái niệm của tác giả về đổi mới, phân tích cách tiếp cận HTĐM, HTĐMQG, HTĐÐM vùng và ngành. Tác giả nhận định Việt Nam đang hình thành HTĐM.

Hệ thống đang hình thành này có đặc điểm: - Tính không đầy đủ. Do đang hình thành nên HTĐMQG ở Việt Nam chưa có đủ các yếu tố như: Các loại tổ chức và liên kết giữa các tô chức, thê chế thị trường và phi thị trường, thê chế chính sách. - Tương tác của doanh nghiệp là chủ đạo. Các doanh nghiệp chủ yêu đầu tư, học hỏi nâng cao năng lực sản xuất, năng lực thiết kế, năng lực thị trường chưa phát triển.

Mặt khác, hệ thong pháp luật còn yếu, điều kiện về cầu không thuận lợi, sự bất ôn về kinh tế vĩ mô. gây khó cho hoạt động đôi mới của doanh nghiệp. - Các tô chức nghiên cứu, trường đại học đóng vai trò hỗ trợ thay vì dẫn dat đổi mới. Đại học ở các nước đang phát triển tham gia vào HTĐM chủ yếu với chức năng cung cấp một đội ngũ lao động qua đảo tạo.

11 - Cac thé chế chính thức còn thiếu và yếu. - Chính phủ bị phân tán bởi nhiều mục tiêu và phải ưu tiên nhiều thứ khác. Với ngân sách hạn hẹp, khả năng quản lý có hạn, bị cạnh tranh bởi những ưu tiên cơ bản khác, nhiều chương trình tham vọng đã không đạt được kỳ vọng ban đầu [ó, 2013]. Nghiên cứu về các HTĐMQG với ý định nhăm phát triển các chỉ số mô tả các dòng tri thức được trình bày trong tài liệu của Nguyễn Mạnh Quân [15, 2001].

Tài liệu tập trung đánh giá các liên kết về tổ chức, nguồn cán bộ, các chùm ngành công nghiệp và hành vi của các doanh nghiệp đổi mới. Phân tích về các dòng tri thức trong HTĐMQG, các tác giả đề cập đến vấn đề: Thứ nhất là các hoạt động phối hợp trong công nghiệp. Bởi vì khu vực kinh doanh là nơi tiễn hành chủ yếu các hoạt động R&D và là khởi nguồn các đồi mới tại các nước OECD, nên một trong những dòng tri thức quan trọng nhất trong HTĐMQG là hợp tác kỹ thuật giữa các doanh nghiệp, kể cả chính thức và không chính thức. Hợp tác kỹ thuật làm gia tăng năng lực, khả năng tìm kiếm và tiếp thu công nghệ mới.

Điều chưa chỉ ra được trong các nghiên cứu này là vai trò của tiếp xúc phi chính thức giữa các doanh nghiệp theo cả chiều đọc và chiều ngang. Thứ hai là quan hệ tương tác giữa khu vực công vả tư nhân. Theo tác giả, khu vực công bao gồm các trường đại học, viện nghiên cứu còn khu vực tư nhân là các doanh nghiệp. Chất lượng của cơ sở hạ tầng nghiên cứu công và mối liên hệ với khu vực công nghiệp là tài sản quan trọng nhất của quốc gia trong hỗ trợ các đổi mới.

Các dòng tri thức lưu chuyền giữa khu vực công (trường đại học, viện nghiên cứu) và tư nhân (doanh nghiệp) có thể được đánh giá theo bốn kỹ thuật chính sau: Thống kê các hoạt động nghiên cứu phối hợp; Phân tích các sáng chế và ấn phẩm chung; Phân tích chỉ số trích dẫn; Điều tra tại các doanh nghiệp. Đây sẽ là những gợi Suy để nghiên cứu sinh thực hiện các điều tra phục vụ cho luận án của mình. Thứ ba là phổ biến công nghệ. Tài liệu này đề cập đến ý nghĩa và những cản trở của quá trình áp dụng công nghệ của các doanh nghiệp.

Thứ tư là di chuyển cán bộ. Đây là kênh giao lưu tri thức chủ yếu trong HTĐMQG. Đa số các nghiên cứu về phổ biến công nghệ đã chỉ ra rằng: Kỹ năng và năng lực liên kết của cán bộ là chìa khóa cho thực thi và áp dụng công nghệ mới. Sau cùng, nhóm tác giả đưa ra những kiến nghị về chính sách, bao gồm: Hoàn thiện chính sách liên kết và nâng cao năng lực tiếp thu công nghệ của các doanh nghiệp; đề cao vai trò của nghiên cứu phối hợp và hợp tác giữa doanh nghiệp 12 — các tô chức nghiên cứu công.

Đây là những gợi ý cho NCS đề xác lập các chỉ báo nhăm khảo sát thực trạng liên kết tại các trường đại học, viện nghiên cứu như: Dòng chuyên giao nhân lực, kết quả nghiên cứu và trao đồi thông tin v. Về vai trò của lý thuyết đổi mới và điều kiện áp dụng Bàn về vai trò của lý thuyết đổi mới trong việc vận dụng vào thực tiễn nhằm phát triển kinh tế - xã hội, Nguyễn Mạnh Quân [17, 2012] đã giới thiệu những nội dung cơ bản của học thuyết kinh tế học tân cô điển, học thuyết kinh tế Keynes mới và học thuyết kinh tế học đổi mới. Việc so sánh ba học thuyết kinh tế trên về các tiêu chí như mục tiêu chủ yếu, đối tượng, quá trình kinh tế then chốt, lý thuyết thương mại, tổ chức của chính phủ, quỹ đạo hoạt động. làm cơ sở để tác giả đưa ra các gợi suy cho Việt Nam về chính sách phát triển KH&CN theo tiếp cận đôi mới.

Theo tác giả, nhiều nghiên cứu và kinh nghiệm hoạch định chính sách kinh tế tại Hoa Kỳ và một số nước phát triển trong thập kỷ gần đây đã cho thấy xu thế bất cập của kinh tế học tân cô điển và kinh tế học Keynes mới trong giải thích nguyên nhân tăng trường và tạo lập khuôn khổ chính sách đôi mới phù hợp với bối cảnh nền kinh tế dựa trên tri thức trong thế kỷ XXI. Việt Nam mặc dù có nhiều thành tựu về tăng trưởng kinh tế song những thành tựu đó chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp. Có thể nhận định là mô hình và chính sách kinh tế áp dụng những năm gần đây ở Việt Nam dựa quá nhiều vào thâm dụng vốn đầu tư kiêu tân cô điển hoặc các biện pháp kích cầu kiêu Keynes. Đề có một tương lai phát triển bền vững và một nền kinh tế có năng lực đôi mới, sáng tạo cao khả đĩ, Việt Nam cần nhanh chóng chuyền sang mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, sử dụng nhiều hơn tri thức khoa học, công nghệ và đôi mới để tạo ra các hợp lực phục vụ phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ