MỞ ĐẦU 1.1 Đặt van đề Thành phố Hồ Chi Minh là thành phó lớn nhất Việt Nam và là một siêu đô thị trong tương lai gần. Đây còn là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, giải trí và giáo dục tại Việt Nam. Thành phố Hồ Chí Minh là thành phó trực thuộc trung ương thuộc loại đô thị đặc biệt của Việt Nam cùng với thủ đô Hà Nội. Theo xu hướng phát triển của xã hội ngày nay hầu hết các đô thị trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang phát triển hết sức nhanh chóng.
Việc phát triển các đô thị là hết sức cần thiết và tất yếu khách quan trong thời đại hiện nay nhưng phát triển thế nào đề cấu trúc đô thị được bền vững, môi trường phải được giữ vững, cân bằng. Mang xanh là một trong những yếu tô quan trọng tham gia vào việc giải quyết những vấn đề trên, nhờ cây xanh mà không khí được cải thiện, môi trường trong sạch hấp thụ và lọc bụi không khí làm giảm tầng số âm thanh và tiếng ồn, điều hòa chế độ nhiệt, ngăn cản gió, tăng độ ẩm và tác động tích cực vào chu kỳ tuần hoàn nước, ngăn chạn dòng chảy bề mặt cũng như phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí khác du lịch nghĩ ngơi của người dân. Cây xanh đô thị là thành tố quan trọng cấu trúc đô thi. Đó không chỉ là lá phối xanh, là máy điều hòa không khí, là thiết bị lọc bụi, giảm tiếng 6n và khí thải.
ma còn gan bó thân thiết với con người, với môi trường sống và với sự phát triển của đô thị. Vậy công tác quy hoạch và phát triển cây xanh đô thị TP.HCM có những van dé, khó khăn gi trong quá trình phát triển đô thị và thích ứng với biến đổi khí hậu. Hệ thống công viên và cây xanh tại TP.HCM được hình thành và phát triển qua mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau. Trong quá trình này, hình thức sử dụng cũng như xu hướng phát triển và quy hoạch mỗi công viên cũng khác nhau.
Với mục đích mang đến cái nhìn tổng quan về sự hình thành và phát triển không gian xanh TP.HCM và nhìn lại vai trò, của các loại hình của không gian xanh, đặc biệt là công viên công cộng và những vấn đề tồn tại trước thách thức của sự phát triển kinh tế và tình trạng quy hoạch đô thi, sự hình thành các khu công nghiệp hình thành tại TP. Hiện nay, việc quản lý bảo vệ và tôn tạo phát triển hệ thống cây xanh đô thị trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh còn gặp nhiều khó khăn, ha tầng chưa ồn định việc thi công các công trình ngầm cắt hệ thống rễ, cũng như các công trình trên không chặt cành nhánh không đúng quy trình kỹ thuật làm mat vẽ mỹ quan của đô thị. Việc đầu tư công sức cũng như kinh phí cho sự phát triển của ngành công viên và cây xanh còn nhiều hạn chế. Công tác chăm sóc định kỳ cho cây xanh chưa được triệt dé, nhiều cây xanh ký sinh đeo bám nhiều.
Lũ lụt và bão hàng năm là cũng là một tác động rất lớn cho việc sinh trưởng và phát triển của cây, chủng loại cây xanh chưa được phong phú và đa dạng. Vì vậy, dé duy trì và tôn tạo mảng xanh cho thành phó Hồ Chí Minh cần thường xuyên thực hiện nhiều công việc như chăm sóc đúng định kỳ, chặt những cây xanh không đúng chủng loại, già cối, trồng thay thé cây mới, cắt mé tạo tán cành nhánh làm cho cây nhẹ khỏi bị đồ ngã khi có mưa gió an toàn cho người tham gia giao thông, tạo mỹ quan cho đô thị. Trên một số tuyến đường cây xanh đã trồng lâu năm hiện nay đang xuống cấp, cây già côi, cây nghiêng, cây cụt dot, một phần do ý thức của người dân đối với cây xanh còn kém. Mặc khác công tác quản lý và phát triển cây xanh cần phải có một định hướng cụ thê.
Nhằm mục đích cung cấp cho các nhà quản lý, các nhà quy hoạch đô thị nhiều thông tin tin cậy, giải pháp góp phần hiệu quả trong việc quản lý và phát triển hệ thống cây xanh đô thị. Cung cấp cho Trung tâm cây xanh thành phố Hồ Chí Minh phương pháp quản lý tốt hon dé dé dàng lập kế hoạch duy trì, chăm sóc, phát triển hệ thống cây xanh đô thị và đồng thời cập nhật thường xuyên mức độ sinh trưởng, phát triển đến từng cây. Trên cơ sở đó người quản lý có các biện pháp tác động kịp thời dé phát triển hệ thống cây xanh đô thị. Với mong muốn được đóng góp một phần vào việc quản lý và phát triển hệ thống cây xanh đô thị thành phố Hồ Chí Minh được tốt hon, tác gia thực hiện đề tài: “Ứng dụng I-Tree Canopy dé đánh giá sự thay đổi hiện trạng mảng xanh đô thị (2012-2022) của các quận nội thành trong thành phô Hồ Chí Minh” nhằm đánh giá sự thay đôi hiện trạng mảng xanh đô thị tại địa điểm nghiên cứu và đề xuất vào việc quản lý cây xanh đô thị thành phố Hồ Chí Minh một cách hiệu quả.2 Mục tiêu nghiên cứu Phân tích các thành phần (Cỏ/Thân thảo, Cây/Cây bụi, Dat/Dat trống, Nước, Nhà, Đường, Khác) và sự tương tác với mảng xanh đô thị giữa năm 2012 và 2022 Đánh giá sự thay đổi hiện trạng mang xanh của đô thị thành phố Hồ Chí Minh làm cơ sở đề xuất biện pháp quản lý, phát triển hệ thống cây xanh đô thị thành phố Hồ Chí Minh được tốt hơn.3 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 1.1 Đối tượng Hệ thống mảng xanh hiện hữu và các lớp che phủ như công trình thi công, nhà, khu công nghiệp, đường xá, hệ thống kênh rạch, đất trống thể hiện trên ảnh vệ tinh ở năm 2012 và 2022 tại địa bàn nghiên cứu.2 Địa điểm Khu vực nội thành cũ (gồm 13 quận: quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú, Bình Thạnh, Phú Nhuận): điện tích 346,56 km”.3 Thời gian nghiên cứu Từ tháng 09/2022 đến 03/2023.
Chương 2 TONG QUAN VE CÁC VAN DE NGHIÊN CỨU 2.1 So lược về dia điểm nghiên cứu 2.1 Điều kiện kinh tế xã hội Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 9 triệu người sinh sống và là thành phố đông dân nhất Việt Nam. Theo số liệu thống kê năm 2020, 85% dân cư sống trong khu vực thành thị và thành phố Hồ Chí Minh cũng có gần một phan năm là dân nhập cư từ các tỉnh khác. Cơ cấu dân tộc, người Kinh chiếm 92,91% dân số thành phó, tiếp theo tới người Hoa với 6,69%, còn lại là các dân tộc Chăm, Khmer. Những người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh cư trú ở khắp các quận, huyện, nhưng tập trung nhiều nhất tại Quận 5, 6, 8, 10, 11 và có những đóng góp đáng ké cho nền kinh tế thành phố.
Sự phân bố dân cư ở thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều, ngay cả các quận nội 6. Trong khi các quận 3, 4, 5 hay 10, 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km? thì các quận 2, 9, 12 chỉ khoảng 2.000 người/km?. Ở các huyện ngoại thành, mật độ dân số rất thấp, như Cần Giờ chỉ có 96 người/km?. Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 1,9%.2 Vị trí địa lý và địa hình 2.1 Vị trí địa lý Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong tọa độ địa lý khoảng 10° 10' — 10° 3§° vĩ độ Bắc và 106°22'— 106°54' kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp tinh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.2 Địa hình Nằm trong khu vực giữa Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, nội thành thành phố Hồ Chí Minh có đạng địa hình đồng bằng thấp có bề mặt tương đối bằng phẳng và bị chia cắt bởi mạng lưới sông ngòi, kênh rạch dày đặc. Địa hình có xu hướng thấp dan từ tây bắc xuống đông nam, nhưng độ dốc nhỏ.3 Đặc điểm khí hậu và thuỷ văn 2.1 Khí hậu Khu vực nội thành thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Cũng như các tỉnh ở Nam bộ, đặc điểm chung của khí hậu - thời tiết Tp. HCM là nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa mưa - khô rõ ràng làm tác động chi phối môi trường cảnh quan sâu sắc.
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lượng bức xạ dồi dao, trung bình khoảng 140 Kcal/cm?/năm. Số giờ nắng trung bình/tháng 160 - 270 giờ. Nhiệt độ không khí trung bình 27°C.
Nhiệt độ cao tuyệt đối 40°C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 13°C. Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (28°C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 va tháng 1 (25°C). Hàng năm có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung bình 25 — 28°C. Điều kiện nhiệt độ và ánh sáng thuận lợi cho sự phát triển các chủng loại cây trồng và vật nuôi đạt năng suất sinh học cao; đồng thời đây nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ chứa trong các chất thải, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường đô thị.
Độ âm tương đối của không khí bình quân/năm 79,5%; bình quân mùa mưa 80% và trị số cao tuyệt đối tới 100%; bình quân mùa khô 74,5% và mức thấp tuyệt đối xuống tới 20%.2 Thủy văn Lượng mưa cao, bình quân/năm 1.718 mm (1908) và năm nhỏ nhất 1. Số ngày mưa trung bình/năm là 159 ngày. Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11; trong đó hai tháng 6 và 9 thường có lượng mưa cao nhất. Các tháng 1, 2, 3 mưa rat ít, lượng mưa không đáng kể.
Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, có khuynh hướng tăng dần theo trục Tây Nam - Đông Bắc. Đại bộ phận các quận nội thành và các huyện phía Bắc thường có lượng mưa cao hơn các quận huyện phía Nam và Tây Nam. Thành phó Hồ Chí Minh cũng có thêm kênh rạch khá nhiều, như Nhiêu Lộc — Thị Nghè, Tàu Hũ, Bến Cát, Kênh Tẻ, Tham Lương, Lò Gốm, Bến Nghé, Cầu Bông, Kênh Đối,. Với một hệ thống sông ngòi lẫn kênh rạch nhiều như vậy thì Thành phố Hồ Chí Minh không khó khăn trong việc tưới tiêu, nhưng lại phải chịu sự tác động từ thủy triều, chúng xâm nhập sâu vào phần đất liền, khiến cho khu vực đất nông nghiệp dần dần bị thu hẹp lại, cùng với việc hệ thống thoát nước cũng gặp phải khó khăn.