ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu. Bên cạnh đó, việc phát triển kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn cũng nằm trong tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước, vì lao động nông thôn chiếm gần 70% lao động cả nước nhằm tiến tới mục tiêu phát triển bền vững, lâu dài. Lịch sử nông thôn Việt Nam từ bao đời nay gắn liền với phát triển nông nghiệp và các làng nghề thủ công. Đây là một trong những nét đẹp về truyền thống kinh tế, văn hóa, xã hội của nông thôn Việt Nam.
Nghề thủ công Việt Nam vốn có truyền thống từ lâu đời. Truyền thống đó gắn liền với tên những làng nghề, phố nghề và được biểu hiện bằng những Khóa mặt hàngluận tốt nghiệp môi trường sản phẩm thủ công truyền thống, với những nét độc đáo, tinh xảo, hoàn mỹ. Các thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng. Dưới bàn tay khéo léo và sự tài hoa, óc quan sát tinh tế của những người thợ thủ công, từ nguyên liệu thô sơ, họ đã tạo ra những sản phẩm có giá trị không những về kinh tế mà còn có giá trị nghệ thuật to lớn.
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ có sức thu hút rất lớn với cả người tiêu dùng Việt Nam và người tiêu dùng nước ngoài. Nhiều mặt hàng đã được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Trong đó có sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ với lịch sử phát triển lâu đời. Hiện nay, đồ gỗ là một trong những mặt hàng rất có thế mạnh của Việt Nam: đạt tổng kim ngạch xuất khẩu đứng thứ năm sau dầu thô, dệt may, giày dép và thủy sản.
Thị phần đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam hiện có mặt trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới tập trung ở 3 thị trường trọng điểm là Mỹ, EU và Nhật Bản. Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, Việt Nam hiện đã vươn lên đứng thứ 4 trong số các nước và khu vực xuất khẩu đồ gỗ thủ công mỹ nghệ vào thị trường Nhật Bản, sau Trung Quốc, Đài Loan và 1 Thái Lan. Nhìn chung những năm gần đây, ngành thủ công đồ gỗ mỹ nghệ đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước cũng như gìn giữ và phát huy những nét đẹp tinh hoa dân tộc. Đông Anh là một huyện có nền kinh tế khá phát triển của thành phố Hà Nội, có điều kiện thuận lợi phát triển các làng nghề truyền thống.
Vân Hà là một xã thuộc huyện Đông Anh có nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ từ lâu đời. Nói đến sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ của xã Vân Hà không thể không kể đến làng nghề điêu khắc gỗ mỹ nghệ truyền thống thôn Thiết Ứng. Từ thời nhà Nguyễn, các nghệ nhân Thiết Ứng đã được triệu vào cung đề xây cung điện, lăng tẩm và nhiều người trong số đó đã được sắc phong. Ngày 26/02/2010, làng Thiết Ứng được UBND TP.Hà Nội trao bằng công nhận làng nghề điêu khắc gỗ mỹ nghệ truyền thống (http://www.com /v_pag es /useful/useful.
Khóa luận tốtHà đãnghiệp môi trường Đa dạng về chủng loại, phong phú về mẫu mã, sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ Thiết Ứng, Vân và đang từng bước phát triển và mở rộng thị trường không những trong nước mà còn xuất khẩu ra một số nước như: Hà Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Âu,… và đặc biệt là Trung Quốc. Trong những năm gần đây, Trung Quốc là một bạn hàng lớn và không thể tách rời đối với sự phát triển của xã. Tuy nhiên, sự mở rộng thị trường này không hẳn là hoàn toàn có lợi bởi lẽ sức mua của Trung Quốc rất lớn, hàng sản xuất ra chủ yếu để xuất sang Trung Quốc, vì thế vô tình chúng ta đã bị phụ thuộc vào họ. Tuy quy mô sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ của xã đã mở rộng và phát triển nhưng với mô hình sản xuất của một ngành thủ công nghiệp nên việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm vẫn còn tồn tại rất nhiều khó khăn.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc đánh giá đúng thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ và để trả lời cho những câu hỏi “sản xuất như thế nào? Tiêu thụ ở đâu? Chất lượng sản phẩm ra sao?.”, tôi đã chọn đề tài: 2 “Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ của hộ gia đình trên địa bàn xã Vân Hà, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu.2 Mục tiêu nghiên cứu.1 Mục tiêu chung. Trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ đồ gỗ mỹ nghệ tại xã Vân Hà, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội mà đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ của xã trong thời gian tới.2 Mục tiêu cụ thể. Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nói chung và sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ nói riêng; Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ KhóaPhân luận tốt nghiệp môi trường trên địa bàn xã Vân Hà; tích các yếu tố ảnh hưởng tới việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ của xã; Đề xuất giải pháp nhằm đầy mạnh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ của xã Vân Hà, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội trong thời gian tới.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.1 Đối tượng nghiên cứu. Khách thể nghiên cứu: Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ trên địa bàn xã Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội; Các yếu tố ảnh hưởng tới việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ của xã.
Chủ thể nghiên cứu: hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân trong xã Vân Hà tham gia hoạt động sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ.2 Phạm vi nghiên cứu. Phạm vi nội dung: Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ. Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ trên địa bàn xã Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội. Các giải pháp đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ của hộ trong xã.
Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn xã Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội. Về thời gian: Các số liệu thứ cấp được thu thập trong 3 năm: 2012, 2013, 2014. Thời gian nghiên cứu đề tài: 14/01/2015 – 02/06/2015. Khóa luận tốt nghiệp môi trường 4 PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Lý luận về sản xuất 2.1 Khái niệm về sản xuất Tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà quan điểm về sản xuất cũng khác nhau.
Hiện nay, theo quan niệm đơn giản và phổ biến thì sản xuất được hiểu là một quá trình tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Sản xuất là sự kết hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm. Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất không có sẵn trong tự nhiên nhưng lại cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Đầu vào là các yếu tố được sử dụng trong sản xuất như vốn, lao động, nguyên vật liệu,… Khóa hóa, dịchluận vụ không tốt nghiệp môi trường Đầu ra là kết quả của quá trình sản xuất, nó bao gồm sản phẩm hàng có sẵn trong tự nhiên nhưng lại cần thiết cho hoạt động sống của con người.
Đầu vào và đầu ra có mối quan hệ mật thiết với nhau và không thể tách rời, chúng có mối quan hệ biện chứng thông qua hàm sản xuất: Q = f(xi). Trong tài khoản quốc gia, Liên hiệp quốc khi xây dựng phương pháp thống kê tài khoàn quốc gia đã đưa ra khái niệm về sản xuất như sau: Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tích sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác. Tất cả những hàng hóa dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền. 5 Sản xuất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người.
Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng hay để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: Sản xuất cái j? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết để làm ra sản phẩm? Tùy theo sản phẩm, sản xuất được phân thành 3 khu vực: Khu vực một của nền kinh tế: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản; Khu vực hai của nền kinh tế: Khai thác mỏ, Công nghiệp chế tạo, Xây dựng; Khu vực ba của nền kinh tế: Dịch vụ.2 Các yếu tố của sản xuât Sức lao động:là các hoạt động của con người được sử dụng trong Khóa luận tốt nghiệp môi trường sản xuất. Chi phí thanh toán toán cho sức lao động là lương. Sức lao động của con người là yếu tố quyết định mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động.
Chất lượng lao động là một trong những yếu tố quyết định đến kết quả và hiệu quả sản xuất. Đối tượng lao động: là một khái niệm trong kinh tế chính trị Marx- Lenin chỉ về bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con người tác động vào nhằm biến đôi nó theo mục đích của mình. Đối tượng lao động gồm có hai loại là loại có sẵn (các loại khoáng sản có trong long đất, thủy, hải sản ở sông, biển, đất đá ở núi, gỗ trong rừng nguyên thủy,…) loại thứ hai là loại đã qua chế biến (loại này thường là đối tượng lao động của các ngành công nghiệp chế biến như công nghiệp giày da, điện tử,…).