phần Mở đầu và phần Kết luận, đề án gồm 03 phần như sau: Phần 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp. Phần 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Sơn La. Phần 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Sơn La 5 PHẦN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1.1 Khái quát chung về Quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp 1.1 Một số khái niệm 1.1 Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên. Sản xuất nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm các tiểu ngành: nông nghiệp( trồng trọt, chăn nuôi), lâm nghiệp, thuỷ sản, diêm nghiệp. Theo Luật Công nghệ Cao (2008): “Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng, thân thiện với môi trường, có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất,dịch vụ mới hoặc hiện đại hoá ngành sản xuất, dịch vụ hiện có”. Trên thế giới có thể có nhiều cách hiểu hoặc khái niệm về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tuy nhiên, theo Vụ Khoa học Công nghệ - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Đề án “Phát triển nông nghiệp công nghệ cao đến năm 2020” đã đưa ra khái niệm: “Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là nền nông nghiệp được áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: Công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ”.
Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp là quá trình tổ chức thực hiện các dự án, đề án ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở các kết quả nghiên cứu hoặc chuyển giao công nghệ, bao gồm các dự án, đề án có hoạt động triển khai thực nghiệm nhằm tạo ra sản phẩm nông nghiệp đạt hiệu quả cao ở quy mô sản xuất nhỏ; xây dựng mô hình và đầu tư sản xuất sản phẩm để tạo ra các sản phẩm năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao, thân thiện môi trường, đạt các tiêu chuẩn xuất khẩu.2 Quản lý nhà nước về Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp Quản lý là một hiện tượng khách quan trong mọi hình thái kinh tế- xã hội. Nó xuất hiện là tất yếu do lao động mang tính tập thể và các hoạt động mang tính cộng đồng, xã hội quyết định. Có nhiều cách trình bày, diễn đạt khác nhau về khái niệm quản lý, nhưng phổ biến có 2 cách tiếp cận sau: Tiếp cận thứ nhất: Quản lý là một quá trình, trong đó chủ thể quản lý tổ chức, điều hành, tác động có định hướng, có chủ đích một cách khoa học và nghệ thuật vào đối tượng quản lý nhằm đạt kết quả tốt nhất theo mục tiêu đã đề ra thông qua việc sử dụng các phương pháp và công cụ quản lý thích hợp. Tiếp cận thứ hai: Quản lý được hiểu là một hệ thống, bao gồm các thành tố: đầu vào, đầu ra, quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra, môi trường và mục tiêu của quản lý.
Các yếu tố trên luôn tác động qua lại lẫn nhau. Một mặt, chúng đặt ra các yêu cầu, những vấn đề quản lý phải giải quyết. Mặt khác, chúng ảnh hưởng tới hiệu quả và hiệu lực của quản lý. Hai cách tiếp cận trên được nghiên cứu và vận dụng không chỉ trong lĩnh vực quản lý kinh tế, mà cả trong các lĩnh vực khác như văn hóa và xã hội, an ninh và quốc phòng, không chỉ giới hạn nghiên cứu trên tầm vĩ mô, mà cả phạm vi các đơn vị vi mô là tổ chức, doanh nghiệp.
Hiện nay trong Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp luật không có định nghĩa cụ thể cho quản lý nhà nước, tuy nhiên, theo từ điển luật học giải thích về quản lý nhà nước như sau: “ Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi. Bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất. Chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.” Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản: Quản lý nhà nước là hoạt động của các cơ quan nhà nước bằng quyền lực của mình nhằm tổ chức, điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của các chủ thể để đạt được các mục tiêu đề ra. Công tác quản lý nhà nước không chỉ được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước mà còn có sự chung tay hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể và nhân dân góp phần thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
7 Hiện nay trong các văn bản luật chưa có khái niệm chính xác về Quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên, từ các khái niệm được đề cập trên, có thể hiểu một các khái quát: Quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để đảm bảo việc thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực này tuân thủ các quy định của Pháp luật, đạt hiệu quả cao, phát huy các tiềm năng, thế mạnh của vùng miền.2 Đặc điểm quản lý nhà nước về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao 1.1 Quản lý nhà nước về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có tính phức tạp cao Việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất NN diễn ra trong phạm vi rộng cả về không gian và thời gian, có liên quan mật thiết với nhiều ngành. Chính vì thế, quản lý nhà nước về UDCNC trong sản xuất NN cũng rất phức tạp. Không chỉ vậy, một số vấn đề khác như: điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ không đồng đều giữa các khu vực,… khiến cho mức độ phức tạp của công tác QLNN về UDCNC trong sản xuất NN gia tăng.2 Quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp khó khăn hơn các ngành khác Xuất phát điểm của nền nông nghiệp nước ta khá thấp so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Có thể thấy, nền nông nghiệp Việt Nam có một số đặc điểm: lạc hậu, nhỏ lẻ, không đồng đều giữa các vùng miền, công nghiệp chế biến kém phát triển.
Do xuất phát điểm thấp nên khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá thì công tác QLNN về UDCNC trong sản xuất NN gặp rất nhiều khó khăn. Việc sản xuất nông nghiệp diễn ra chủ yếu ở các khu vực nông thôn với điều kiện cơ sở hạ tầng kém phát triển, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, việc canh tác nông nghiệp truyền thống là chủ yếu, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên khác nhau. Do đó, việc thực thi các văn bản pháp luật, các chính sách hỗ trợ, phân bổ và thu hút vốn và đầu tư khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Nông dân là chủ thể chính trong sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên đây là đối tượng còn thiếu rất nhiều các kiến thức, kỹ năng cần thiết về NNUDCNC, thiếu vốn đầu tư cho việc áp dụng máy móc, thiết bị, quy trình hiện đại, trình độ sản xuất NN 8 không đồng đều giữa các vùng miền.
Chính vì thế, công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với NNUDCNC gặp không ít khó khăn. Việc ban hành và thực hiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cũng gặp phải nhiều khó khăn do sự thay đổi thường xuyên và phát sinh liên tục về giống, phân bón, thuốc, thức ăn gia súc, … 1.3 Có sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp Ngành nông nghiệp nói chung và NNUDCNC nói riêng với nhiều giai đoạn từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ đều có liên hệ mật thiết với nhiều ngành khác như kế hoạch, đầu tư, khoa học công nghệ, môi trường, công thương,… Do đó, để đảm bảo các hoạt động sản xuất tuân thủ theo các quy trình, thủ tục, đảm bảo yêu cầu thì các ngành cần có sự phối hợp chặt chẽ. Mặt khác, hoạt động sản xuất NNUDCNC diễn ra trên phạm vi rộng với sự đa dạng về vùng miền, khác biệt về tập quán canh tác, phân bố đất đai và dân cư không đồng đều, vì vậy, công tác QLNN về UDCNC trong sản xuất NN cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều ngành, nhiều cấp khác nhau để đạt được các mục tiêu phát triển đề ra.3 Chức năng quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp Trong quá trình phát triển NNUDCNC, QLNN có vai trò quan trọng, góp phần vào điều chỉnh, hướng dẫn quá trình vận động nội tại của nông nghiệp phù hợp với các điều kiện khách quan và chiến lược phát triển kinh tế- xã hội chung của nền kinh tế. Một số chức năng QLNN về UDCNC trong sản xuất NN bao gồm: Thứ nhất, Nhà nước tạo lập môi trường.
Một môi trường thuận lợi sẽ là tiền đề quan trọng để giúp cho NNUDCNC phát triển.