CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN ĐÁ 1. KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN ĐÁ 1. Một số khái niệm Vật liệu xây dựng là sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ, vô cơ, kim loại được sử dụng để tạo nên công trình xây dựng. Vật liệu xây dựng có rất nhiều loại hình sản phẩm, trong đó vật liệu ốp lát là vật liệu xây dựng được sử dụng để ốp, lát các công trình xây dựng chiếm vị trí rất quan trọng, nhất là vật liệu ốp lát bằng đá Granite.
Đá granite là một trong những loại vật liệu xây dựng cao cấp, có nhiều tính năng ưu việt hơn so với các loại vật liệu khác như độ bền, độ bóng, màu sắc tự nhiên (màu sắc đá Granite Việt Nam rất đa dạng, có những màu sắc rất đẹp và đặc biệt chỉ có ở Việt Nam như Granite màu vàng, màu đỏ Ruby, tím, hồng, đen, xanh, trắng…), khả năng chịu nhiệt cao…; là sản phẩm có giá trị cao, được sử dụng để thay thế các loại vật liệu nhân tạo, tự nhiên khác vì đá Granite có vẻ đẹp tự nhiên, rất bền vững, làm tăng giá trị các công trình kiến trúc… nên rất được người tiêu dùng ưa chuộng, nhất là các nước phát triển trên thế giới. Sản phẩm đá ốp lát Granite là vật liệu dùng để ốp trụ, lát nền, lát đường đi, làm mặt bàn, ghế các loại và các sản phẩm điêu khắc khác…Tùy theo mục đích sử dụng đá Granite được chế biến với nhiều hình thức như đánh bóng, tạo nhám bề mặt (băm, khò lửa, phun cát, chẻ tự nhiên…); có nhiều chủng loại, kích cỡ đáp ứng nhu cầu, tính chất sử dụng khác nhau… Kích thước phổ biến tối thiểu là 20x20cm, tối đa là 190x300cm với chiều dày từ 1-30cm. Sản xuất Liên Hiệp quốc khi xây dựng phương pháp thống kê tài khoản quốc gia Luan van 9 đã đưa ra định nghĩa sau về sản xuất: “Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác. Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền”.57] Khái niệm sản xuất áp dụng trong hệ thống Tài khoản quốc gia Việt Nam phù hợp với phạm trù sản xuất của hệ thống Tài khoản quốc gia 1993 của Liên Hiệp quốc nhưng có một điểm khác là không bao gồm các hoạt động bất hợp pháp bị cấm trong Hiến pháp và các bộ Luật hiện hành như : Buôn lậu ma túy, hoạt động mại dâm, hoạt động mê tín dị đoan.58] Như vậy, sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại và đảm bảo sản phẩm đó không vi phạm pháp luật.
Về thực chất sản xuất là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào biến chúng thành các sản phẩm hoặc dịch vụ ở đầu ra. Ta có thể hình dung quá trình này qua sơ đồ sau: Đầu vào Chuyển hóa Đầu ra - Nguồn nhân lực - Nguyên liệu - Công nghệ - Làm biến đổi - Hàng hóa - Máy móc, thiết bị - Tăng thêm giá trị - Dịch vụ - Tiền vốn - Khoa học và công nghệ Chế biến công nghiệp Chế biến công nghiệp là quá trình diễn ra trong các cơ sở sản xuất, sử dụng công nghệ, thiết bị, lao động kỹ thuật để chế biến nguyên liệu động, thực vật ra sản phẩm. Ở giai đoạn này trình độ công nghệ, thiết bị, tay nghề Luan van 10 của công nhân có vai trò quyết định chất lượng của sản phẩm và mức độ tăng giá trị của nông, lâm sản qua khâu chế biến (phương pháp, trình độ, bí quyết công nghệ, máy móc thiết bị và trình độ tay nghề của công nhân). Chế biến đá Chế biến đá là quá trình chuyển hóa đá nguyên liệu dưới tác dụng của thiết bị, máy móc hoặc công cụ, hóa chất để tạo thành các sản phẩm có hình dáng, kích thước làm thay đổi hẳn so với nguyên liệu ban đầu.
Ngành chế biến đá Ngành chế biến đá là ngành công nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Nó khai thác nguồn nguyên liệu đá từ tự nhiên thông qua quá trình chế biến tạo thành nhiều loại sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu khác nhau của xã hội. Các nguồn lực của ngành công nghiệp chế biến đá Trong nền kinh tế quốc dân có rất nhiều ngành, mỗi một ngành bao gồm nhiều đơn vị và bên trong mỗi ngành tồn tại nhiều cấu trúc khác nhau như : Cấu trúc lao động ngành, cấu trúc thị trường, cấu trúc quy mô các doanh nghiệp trong ngành, cấu trúc máy móc thiết bị của ngành. [12] Dựa vào cấu trúc của ngành, các nguồn lực của ngành chế biến đá bao gồm : Nguồn lực về vốn, nguồn lực về nguyên liệu, nguồn lực về lao động và máy móc thiết bị để đánh giá khả năng phát triển của ngành.
Đặc điểm của ngành công nghiệp chế biến đá và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế – xã hội a. Đặc điểm của ngành công nghiệp chế biến đá * Ðối tượng lao động của ngành CNCB đá Ðối tượng lao động của ngành CNCB đá chính là đá và những sản phẩm từ đá đã qua gia công chế biến, là những phôi liệu trong quá trình gia công sản xuất. Trong thực tiễn sản xuất, đá và những sản phẩm từ đá đã qua gia công chế biến với kích thước, tiết diện và kích cỡ khác nhau sẽ được biến Luan van 11 đổi theo quy trình công nghệ, sản phẩm của quá trình gia công biến đổi ấy là những vật phẩm, thiết bị, phương tiện. hữu ích theo yêu cầu sử dụng.
* Công cụ lao động của ngành CNCB đá - Công cụ lao động chủ yếu: Các loại dụng cụ cầm tay và các loại máy móc thiết bị như : Xe đào, xe nâng, máy khoan, máy cưa dây, cưa dàn, máy mài liên tục 10-16 đầu mài tự động, máy cắt mài cạnh, máy đánh bóng,. - Dụng cụ đo : Thước kẻ, thước đo, thước đo góc,. - Dụng cụ phụ : Hạt thép,. - Ngoài ra, trong quá trình gia công sản xuất, còn có các tài liệu như bản vẽ kỹ thuật, bản vẽ quy trình công nghệ chế biến.
Ảnh hưởng của ngành đến sự phát triển kinh tế – xã hội Ngoài những nội dung đã được trình bày ở phần ý nghĩa của sự phát triển ngành công nghiệp chế biến đá. Ngành công nghiệp chế biến đá phát triển tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp, kéo các ngành kinh tế phụ trợ phát triển theo góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu, tạo ra nhiều sản phẩm từ đá phục vụ cho nhu cầu xã hội. Bên cạnh đó, việc bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng để phát triển ngành, trong đó phải chú trọng các yếu tố sau: Trong CNCB đá, chất thải rắn chủ yếu phát sinh trong quá trình sản xuất bao gồm: phế phẩm, phế liệu, bột đá, phôi đá. Tùy theo mục đích sản xuất các sản phẩm cuối cùng mà chất thải rắn phát sinh với lượng khác nhau.
Vấn đề phát sinh bột đá tại các công đoạn chế biến từ khâu cắt, xẻ đến khâu đánh nhẵn là rất lớn. Hiện nay, một số cơ sở chế biến đá đã có một số công nghệ chất thải rắn hiệu quả như: đối với bột đá thải ra trong quá trình cưa, xẻ, đánh bóng thì sử dụng nước lắng đọng bột đá để làm nguyên liệu kết hợp với hóa chất, xi măng tạo ra sản phẩm vật liệu xây dựng khác như : gạch, đá ép,.dùng để lát vỉa hè; đối với phế phẩm, phế liệu, phôi đá cũng làm san lấp hoặc làm vật liệu xây dựng thông thường khác. Luan van 12 Trong công nghiệp khai thác đá, phần lớn các nhà máy khai thác đá chưa có phương pháp để thu hồi bụi nên nguy cơ gây ô nhiễm môi trường thường phát sinh trong quá trình khai thác đá là rất lớn. Ý nghĩa của phát triển ngành CNCB đá Chỉ qua chế biến đá dạng nguyên liệu mới thành hàng loạt các sản phẩm thỏa mãn mọi nhu cầu của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội.
Thông qua hoạt động chế biến đá thúc đẩy việc sử dụng đá được hợp lý, đúng mục đích và tránh việc sử dụng lãng phí. Qua chế biến để nâng cao chất lượng đá, giá trị và giá trị sử dụng của đá. Chế biến đá còn cho phép tận dụng phế liệu trong khâu khai thác, chế biến thành các sản phẩm hữu ích (như làm nền, lát vỉa hè, tận dụng làm đá xây dựng, làm nguyên liệu để sản xuất đá granite nhân tạo,.) Phát triển ngành công nghiệp chế biến đá là thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tăng giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần đóng góp vào nguồn thu ngân sách, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho chủ doanh nghiệp và người lao động. Việc phát triển ngành công nghiệp chế biến đá tập trung, theo quy hoạch nhằm góp phần bảo vệ môi trường và khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên có hiệu quả hơn.
NỘI DUNG CỦA PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN ĐÁ Phát triển công nghiệp nói chung và CNCB đá nói riêng là một quá trình vận động đi lên theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn về mọi mặt của ngành sản xuất này. Có nhiều cách biểu hiện như hoàn thiện về chiều rộng, chiều sâu và các mối liên kết mọi mặt. Chúng ta sẽ đề cập tới từng vấn đề. Phát triển theo chiều rộng ngành CNCB đá Sự phát triển công nghiệp theo chiều rộng theo các lý thuyết trong kinh tế phát triển thường gắn liền với sự gia tăng quy mô công nghiệp.
Sự gia tăng Luan van 13 quy mô này bắt đầu từ việc gia tăng các nguồn lực đi liền với gia tăng số lượng cơ sở sản xuất hay gia tăng quy mô từng cơ sở sản xuất công nghiệp và kết quả của quá trình đó là sản lượng công nghiệp cũng tăng theo. Tỷ lệ gia tăng giữa đầu vào và đầu ra tùy thuộc vào trình độ công nghệ để sản xuất đạt được tính kinh tế của quy mô nào. Trước hết chúng ta sẽ xem xét sự gia tăng sản lượng đầu ra. Gia tăng sản lượng và giá trị sản lượng ngành CNCB đá Sản lượng CNCB đá là kết quả của quá trình sản xuất trong các cơ sở công nghiệp này.