mở đầu cho sự ra đời và phát triển của khu vực kinh tế tập thể, HTX ở Việt Nam. Sự phát triển kinh tế tập thể, HTX cùng với kết quả của cải cách ruộng đất đã góp phần giải phóng nông dân thoát khỏi sự ràng buộc của phƣơng thức sản xuất phong kiến, đƣa nông dân lên vị trí ngƣời làm chủ, có những đóng góp tích cực trong việc đảm bảo hậu cần cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, động viên sức ngƣời, sức của cho tiền tuyến. - Từ năm 1955-1965, ngay sau khi miền Bắc đƣợc giải phóng, Đảng, Nhà nƣớc ta đã chú trọng chỉ đạo xây dựng, phát triển HTX trong các ngành kinh tế, 8 Chỉ trong một thời gian ngắn, sau giai đoạn thí điểm, đến năm 1960 cả nƣớc đã có hơn 50.000 HTX đƣợc thành lập trong các lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thƣơng mại, ngƣ nghiệp, tín dụng. thu hút đại bộ phận nông dân, hộ kinh tế cá thể và ngƣời lao động tham gia.
Các HTX góp phần to lớn vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, hình thành quan hệ sản xuất mới, khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn tƣ liệu sản xuất, đất đai và sức lao động; đƣa những hộ nông dân, ngƣời sản xuất nhỏ, thợ thủ công, tiểu thƣơng vào làm ăn hợp tác trong các HTX theo chủ trƣơng của Đảng, góp phần thực hiện thắng lơi công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. - Từ năm 1965-1975, khi xảy ra chiến tranh với Đế quốc Mỹ, khu vực kinh tế tập thể, HTX đƣợc củng cố, phát triển và trở thành một lực lƣợng kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của hậu phƣơng lớn miền Bắc. Đến cuối năm 1974, toàn miền Bắc có hơn 46.000 HTX trong các ngành, lĩnh vực, các xã viên vừa sản xuất vừa chiến đấu với khẩu hiệu "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một ngƣời", "tay cày tay súng", vừa sản xuất nhiều lƣơng thực thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng chi viện cho miền Nam, vừa tổ chức các đơn vị tự vệ tham gia chiến đấu bảo vệ quê hƣơng. - Từ năm 1975-1997, sau chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975, kinh tế tập thể, HTX đƣợc phát triển và lan rộng tới các tỉnh, thành phố phía Nam.
Đến năm 1986, năm đƣợc coi là thời kỳ phát triển cao nhất của khu vực kinh tế tập thể, HTX, cả nƣớc có khoảng 76.000 HTX trong các ngành, lĩnh vực thu hút tới hơn 20 triệu xã viên tham gia, đóng góp tích cực cho nền kinh tế với việc các HTX nông nghiệp sản xuất 80% sản lƣợng lƣơng thực, thực phẩm của cả nƣớc, các HTX công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất ra một khối lƣợng hàng hóa chiếm 30% giá trị sản lƣợng công nghiệp toàn quốc, các HTX mua bán đã chiếm gần 20% tổng mức lƣu chuyển hàng hóa bán lẻ của thị trƣờng và đại lý thu mua ủy thác hơn 60% sản lƣợng hàng hóa nông sản, thực phẩm cho cả nƣớc, 9 các HTX vận tải vận chuyển hơn 45% khối lƣợng hàng hóa và 50% khối lƣợng hành khách vận chuyển của các địa phƣơng. - Từ năm 1997 - nay, thực hiện đƣờng lối đổi mới của Đảng, khu vực kinh tế tập thể, HTX đã có những thay đổi đáng kể. Khi cơ chế quản lý tập trung bao cấp đƣợc xóa bỏ, cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc từng bƣớc đƣợc hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế, phần lớn các HTX rơi vào tình trạng khó khăn, sản xuất - kinh doanh thua lỗ, bị giải thể. Tuy nhiên cũng có một bộ phận HTX đã kịp thời chuyển đổi thích ứng với cơ chế mới, thực hiện hoạt động có hiệu quả.
Kể từ khi Luật HTX đầu tiên ra đời (tháng 3/1996) và chính thức có hiệu lực từ 1/1/1997 và tiếp đó là Luật HTX 2003 và Luật HTX 2012 đƣợc ban hành đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho khu vực HTX hoạt động và phát triển. Các HTX từng bƣớc chuyển đổi và đăng ký lại cho phù hợp và thích ứng ngày càng tốt hơn với sự biến động của cơ chế thị trƣởng, mô hình HTX mới, mô hình HTX phát triển sản xuất kinh doanh gắn với chuỗi giá trị đƣợc hình thành đã góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nƣớc. Đặc điểm của hợp tác xã - Hợp tác xã trƣớc hết đƣợc xác định là một tổ chức kinh tế có tính tập thể. Hợp tác xã đƣợc xác định là một tổ chức kinh tế, bởi lẽ đây cũng là một tô chức đƣợc thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, mà cụ thể là hoạt động theo quy định của Luật hợp tác xã và các văn bản hƣớng dẫn Luật hợp tác xã.
Việc khẳng định hợp tác xã là một tổ chức kinh tế đƣợc quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 3 Luật hợp tác xã năm 2012, và tại khoản 16 Điều 3 Luật Đầu tƣ năm 2014. Tuy nhiên, hợp tác xã không phải là một tổ chức kinh tế thông thƣờng mà là tổ chức kinh tế mang tính tập thể. Đặc điểm này xuất phát từ đặc trƣng hợp tác xã là tổ chức đƣợc lập nên dƣới sự tham gia của tập thể nhiều xã viên cùng tự nguyện hợp tác, tƣơng trợ cùng nhau giải quyết các yêu cầu chung, mục đích 10 chung trong việc sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế. Hợp tác xã cũng đƣợc xác định là sự thể hiện của hình thức kinh tế tập thể, sự sở hữu tập thể.
- Hợp tác xã là tổ chức kinh tế vừa thể hiện tính kinh doanh vừa mang tính xã hội. Hợp tác xã là tổ chức kinh tế mang tính xã hội, bởi bên cạnh việc cùng sản xuất và cùng kinh doanh, tạo ra thu nhập thì hợp tác xã còn tạo điều kiện cho tất cả các thành viên của mình cùng lao động sản xuất, đóng góp trên cơ sở tự nguyện và đƣợc hƣởng lợi từ việc lao động của mình. - Hợp tác xã có số lƣợng thành viên tối thiểu là 07 thành viên. Đặc điểm này xuất phát từ việc để thành lập hợp tác xã thì ít nhất phải có ít nhất 07 thành viên tự nguyện tham gia thành lập hợp tác xã.
Thành viên của hợp tác xã có thể là cá nhân, hộ gia đình, và cũng có thể là pháp nhân. Trong đó, nếu là cá nhân thì phải từ đủ 18 tuổi trở lên, đầy đủ năng lực hành vi dân sự; nếu là hộ gia đình thì phải có ngƣời đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật. - Hợp tác xã có tƣ cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn của mình. + Hợp tác xã là tổ chức đƣợc thành lập một cách hợp pháp theo quy định của Luật hợp tác xã.
+ Hợp tác xã cũng có cơ cấu tổ chức nhƣ cơ cấu tổ chức của một pháp nhân, cũng có cơ quan điều hành, có điều lệ theo quy định của pháp luật. + Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình. Mọi giao dịch liên quan đến hoạt động của hợp tác xã đều do hợp tác xã chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của mình. Giá trị và các nguyên tắc hoạt động của hợp tác xã Khi thành lập và điều hành một HTX, các thành viên HTX thƣờng áp dụng các giá trị và nguyên tắc để định hƣớng hoạt động của HTX.
Tƣơng tự, các 11 Chính phủ cũng sử dụng điều này để soạn thảo Luật Hợp tác xã, đó có thể đƣợc xem xét nhƣ thể hiện giá trị thực tiễn đằng sau mối quan hệ hợp tác trong HTX. Những giá trị và nguyên tắc này đƣợc phát triển trong một thời gian dài, từ khi HTX đầu tiên đƣợc thành lập vào năm 1844 bởi những ngƣời tiên phong Rochdale ở Vƣơng quốc Anh. Đến nay, giá trị và bảy nguyên tắc HTX đã đƣợc Liên minh Hợp tác xã quốc tế công bố có tính định hƣớng trong việc thành lập và hoạt động của HTX trên toàn thế giới, cụ thể nhƣ sau: * Giá trị của hợp tác xã: Các HTX hoạt động dựa trên những giá trị tự lực, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng và đoàn kết. Theo truyền thống của những nhà sáng lập, thành viên HTX tin tƣởng vào các giá trị đạo đức, cởi mở, trung thực, có trách nhiệm xã hội và quan tâm đến ngƣời khác.
* Các nguyên tắc hoạt động của hợp tác xã - Kim chỉ nam để các hợp tác xã đưa giá trị của mình vào thực tiến, bao gồm: Tại Việt Nam, 7 nguyên tắc tổ chức, hoạt động của HTX đƣợc quy định tại Điều 7, Luậy Hợp tác xã năm 2012, bao gồm: - Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi hợp tác xã. HTX tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi liên hiệp hợp tác xã. - Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên, hợp tác xã thành viên. - Thành viên, hợp tác xã thành viên có quyền bình đẳng, biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc vốn góp trong việc quyết định tổ chức, quản lý và hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; đƣợc cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối thu nhập và những nội dung khác theo quy định của điều lệ.
- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trƣớc pháp luật. 12 - Thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có trách nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định của điều lệ. Thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đƣợc phân phối chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc theo công sức lao động đóng góp của thành viên đối với hợp tác xã tạo việc làm. - Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dƣỡng cho thành viên, hợp tác xã thành viên, cán bộ quản lý, ngƣời lao động trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và thông tin về bản chất, lợi ích của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chăm lo phát triển bền vững cộng đồng thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào hợp tác xã trên quy mô địa phƣơng, vùng, quốc gia và quốc tế.