Mở đầu Chƣơng I. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Chƣơng II. Đánh giá việc thực hiện các quyền sử dụng đất của hộ gia đình cá nhân trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội , giai đoạn 2011-2016. Chƣơng III.
Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cƣờng việc thực hiện các quyền sử dụng đất của hộ gia đình cá nhân trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội giai đoạn 2016-2020 Kết luận và kiến nghị 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất 1. Quyền sở hữu Quyền sở hữu là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội cũng nhƣ trong pháp luật dân sự. Nó là một trong những tiền đề vật chất cho sự phát triển kinh tế vì quyền sở hữu chính là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể đƣợc thực hiện trong quá trình chiếm hữu sử dụng và định đoạt tài sản.
Mức độ xử sự ấy quy định giới hạn và khả năng thực hiện của họ trong quá trình học tập nghiên cứu khoa học tham gia lao động sản xuất kinh doanh. Điều đó tác động trực tiếp đến nền kinh tế thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế [8]. Vì giữ một vai trò quan trọng nhƣ vậy nên quyền sở hữu là một trong những chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản, bảo đảm trật tự xã hội trong giao lƣu dân sự. Bộ luật dân sự năm 2005 và Bộ luật dân sự 2015 đều dành một phần trong bộ luật để quy định về quyền sở hữu và tài sản.
Nhƣng Bộ luật dân sự 2015 có những điểm mới và tiến bộ đáng kể so với Bộ luật dân sự 2005 nhằm thể chế hóa đầy đủ, đồng thời tăng cƣờng các biện pháp để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con ngƣời, quyền công dân trong các lĩnh vực của đời sống dân sự. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng là quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của chủ sở hữu. Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản. Quyền sử dụng: là quyền khai thác công dụng, hƣởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.
Quyền định đoạt: là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó. Nhƣ vậy, theo Bộ luật Dân sự năm 2005, chiếm hữu là một trong ba quyền năng của quyền sở hữu mà chủ sở hữu tài sản có đƣợc đối với tài sản của mình. Với quy định nhƣ vậy thì chủ sở hữu phải có quyền sở hữu thì mới phát sinh quyền năng chiếm hữu, quy định này không hợp lý đối với những trƣờng hợp xuất phát từ tình 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trạng chiếm hữu hợp pháp của các chủ thể mà đã cho phép xác lập quyền sở hữu hợp pháp cho họ trong điều 239, điều 240 Bộ luật Dân sự năm 2005 nhƣ: Xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định đƣợc chủ sở hữu; xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm chƣa đƣợc tìm thấy [16]. Khác với Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2015 không định nghĩa quyền chiếm hữu với ý nghĩa là một trong ba thành tố của quyền sở hữu, mà đã bổ sung chế định chiếm hữu thành một chế định độc lập với quy định về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản.
Theo quy định tại điều 179 Bộ luật dân sự năm 2015: "Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhƣ chủ thể có quyền đối với tài sản. Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của ngƣời không phải là chủ sở hữu” [19]. Quy định mới về chiếm hữu trong Bộ luật Dân sự năm 2015 đã cụ thể hóa nội dung, tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về việc tôn trọng và bảo vệ quyền con ngƣời, quyền sở hữu, quyền bình đẳng trƣớc pháp luật và trong đời sống dân sự. Bảo đảm trật tự xã hội, sự ổn định của giao dịch, giá trị kinh tế của tài sản, sự thiện chí trong quan hệ dân sự.
Đối với ngƣời chiếm hữu vật thì họ có quyền yêu cầu Nhà nƣớc can thiệp để chống lại hành vi của ngƣời khác làm ảnh hƣởng đến việc chiếm giữ ổn định và hợp pháp của mình. Về hình thức sở hữu, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận 03 hình thức sở hữu (sở hữu toàn dân, sở hữu riêng và sở hữu chung) thay vì việc ghi nhận 06 hình thức sở hữu (sở hữu nhà nƣớc, sở hữu tập thể, sở hữu tƣ nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp) nhƣ trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Việc quy định hình thức sở hữu nhƣ vậy có ý nghĩa quan trọng: Thứ nhất, sự phân loại này bảo đảm tính thống nhất với nội dung, tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về sở hữu trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa đã đƣợc ghi nhận tại các điều 32, 51 và 53, đồng thời cũng phù hợp với nguyên tắc xác định hình thức sở hữu, theo đó, khi xác định hình thức sở hữu thì 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cần phải căn cứ vào sự khác biệt trong cách thức thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản chứ không phải căn cứ vào yếu tố ai là chủ thể cụ thể của quyền sở hữu nhƣ quy định hiện hành [9]. Thứ hai, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì Nhà nƣớc là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý các tài sản thuộc sở hữu toàn dân, do đó, có thể xác định Nhà nƣớc chính là chủ thể có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tài sản này.
Vì vậy, trên cơ sở sở hữu toàn dân, Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận cụ thể vai trò của Nhà nƣớc trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản công [9]. Thứ ba, tài sản thuộc hình thức sở hữu toàn dân (trong Bộ luật Dân sự năm 2005 đƣợc gọi là hình thức sở hữu nhà nƣớc) là một hình thức sở hữu đặc biệt, không thể coi là một dạng của sở hữu riêng hoặc sở hữu chung, do đó, các quy định này tạo ra một chế độ pháp lý riêng biệt đối với hình thức sở hữu này [9]. Quyền sở hữu về đất đai Sở hữu đất đai có thể đƣợc hiểu ở nhiều hình thức khác nhau, nhƣng xét cho cùng trong mọi xã hội, mọi hình thái kinh tế - xã hội có nhà nƣớc, sở hữu đất đai cũng chỉ tồn tại ở hai chế độ sở hữu cơ bản, đó là sở hữu tƣ và sở hữu công. Cũng có thể trong một chế độ xã hội, một quốc gia chỉ tồn tại một chế độ sở hữu hoặc là chế độ sở hữu công cộng, hoặc là chế độ sở hữu tƣ nhân về đất đai.
Hoặc cũng có thể là sự đan xen của cả hai chế độ sở hữu đó, trong đó có những hình thức phổ biến của một chế độ sở hữu nhất định [22]. Ở Việt Nam, chế độ sở hữu về đất đai đƣợc hình thành và phát triển theo tiến trình lịch sử nhất định, mang dấu ấn và chịu sự chi phối của những hình thái kinh tế - xã hội nhất định trong lịch sử. Nghiên cứu quá trình hình thành chế độ và các hình thức sở hữu đất đai ở Việt Nam cho thấy, chế độ sở hữu công về đất đai ở Việt Nam đã đƣợc xác lập từ thời phong kiến ở các hình thức và mức độ khác nhau. Tuy nhiên, quyền sở hữu toàn dân về đất đai chỉ đƣợc hình thành theo Hiến pháp 1959 và đƣợc khẳng định từ khi Hiến pháp 1980 ra đời và sau đó tiếp tục khẳng định và củng cố trong Hiến pháp 1992.
Điều 17 Hiến pháp 1992 khẳng định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nƣớc, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nƣớc đầu tƣ vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nƣớc, đều thuộc sở hữu toàn dân”. Điều 18, Hiến pháp 1992 khẳng định: “Nhà nƣớc thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật”. Luật Đất đai 1993 (Luật đất đai sửa đổi, bổ sung 1998, 2001) cũng đã thể chế hóa chính sách đất đai của Đảng và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về chế độ sở hữu đất đai quy định các nguyên tắc quản lý và sử dụng đất đai: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nƣớc thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm, đúng mục đích và có hiệu quả, bảo vệ và cải tạo bồi dƣỡng đất, bảo vệ môi trƣờng để phát triển bền vững. Luật Đất đai 2003 đã quy định cụ thể hơn về chế độ“sở hữu đất đai” (Điều 5), “Quản lý Nhà nƣớc về đất đai” (Điều 6), “Nhà nƣớc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý Nhà nƣớc về đất đai ” (Điều 7) [15].
Luật đất đai 2013 quy định cụ thể ở Điều 1 và 2 khẳng định: Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất đối với đất đai thuộc lãnh thổ của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cơ quan nhà nƣớc thực hiện quyền hạn và trách nhiệm đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, thực hiện nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nƣớc về đất đai. Điều 4, Luật đất đai 2013 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nƣớc trao quyền sử dụng đất cho ngƣời sử dụng đất theo quy định của Luật này” [18].