Đặt vấn đề Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xu thế tất yếu của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển, đặc biệt là đối với Việt Nam để đạt mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam là một nước công nghiệp hóa hiện đại hóa, đòi hỏi sự phát triển toàn diện của kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp cũng như sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đât. Chúng ta đã biết: “Đất đai là một thực thể tự nhiên được hình thành qua một thời gian dài do kết quả tác động tổng hợp của 5 yếu tố: đá mẹ, sinh vật khí hậu, địa hình và thời gian”. (Đỗ Thị Lan,2007) [1] “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày hôm nay.” (Luật đất đai 2003) [3] Vai trò to lớn của đất trong nền kinh tế được Marx khái quát: “ Đất là mẹ, sức lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất”.
(Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007) [5] Trong những năm gần đây, đường lối, chủ trương đổi mới chính sách và pháp luật về đất dai của Đảng và nhà nước đã đi vào cuộc sống, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị - xã hội. Đất đai đang được sử dụng có hiệu quả hơn. Đất xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp, dịch vụ và xây dựng đô thị tăng tương đối nhanh, bộ mặt đô thị thay đổi theo hướng văn minh hiện đại. Công tác quản lý nhà nước về đất đai có những tiến bộ bước đầu rõ rệt.
Người sử dụng đất gắn bó nhiều hơn với đất đai. Quyền sử dụng đất đã bước đầu trở thành một nguồn vốn của Nhà nước và nhân dân để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. n 2 Chính vì vậy, quá trình sử dụng đất và tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất diễn ra hết sức phức tạp và khó kiểm soát. Điều này đã tạo ra trở ngại rất lớn trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai trong cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng.
Để quản lý đất đai có hiệu quả đòi hỏi việc nắm bắt, cập nhật thông tin đầy đủ và phản ánh đúng thực trạng thông qua việc đánh giá hoạt động của các cơ quan chức năng có vai trò quản lý nhà nước về đất đai là một việc làm rất cần thiết. Bất kỳ mọi hoạt động nào đều cũng phải thực hiện theo trình tự thủ tục và phải đăng ký để cập nhật những thay đổi làm cơ sở bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của các chủ thể có liên quan, tạo điều kiện để Nhà nước hoạch định chính sách và phát triển. Vì vậy việc đánh giá hoạt động của văn phòng đăng ký đất đai là một trong những nhiệm vụ cần thiết, thường xuyên được các cấp quan tâm và chỉ đạo cơ quan quản lý đất đai ở cấp mình quản lý, nhằm tăng cường thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về sử dụng đất đai ngày càng chuẩn xác hơn. Vì đây là công tác trọng tâm của ngành Quản lý.
Xuất phát từ những vấn đề trên và nhận thức được tầm quan trọng của công tác đánh giá các hoạt động của cơ quan chức năng trong lĩnh vực quản lý đất đai, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Tài nguyên & Môi trường , Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS. Nguyễn Thị Lợi em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012 đến tháng 6 năm 2014”. Mục tiêu của đề tài Nắm được cơ sở lý luận của công tác quản lý nhà nước về đất đai, quy trình và hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. n 3 Tìm ra những mặt tích cực và hạn chế trong các hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, từ đó đưa ra những giải pháp để khắc phục những hạn chế của các hoạt động này.
Yêu cầu của đề tài Nắm chắc Luật đất đai 2003, các Nghị định, Thông tư, văn bản luật và dưới luật khác có liên quan tới các hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Số liệu phải khách quan trung thực. Đề xuất các giải pháp trên cơ sở các văn bản pháp quy và những kinh nghiệm đã thu được. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Đây là cơ hội tốt cho sinh viên thực hành khảo sát thực tế, áp dụng những kiến thức lý thuyết vào thực tiễn, và có cơ hội gặp gỡ, học tập, áp dụng những kiến thức với những người có kinh nghiệm và người dân địa phương. Có được cái nhìn tổng thể về tình hình hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất của cả nước nói chung và của địa phương nói riêng. Có thể so sánh được một số tiêu chí về sự hiểu biết của người dân trên địa bàn huyện về văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Ý nghĩa trong thực tiễn Nghiên cứu thực trạng hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Định Hóa, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp cho hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoạt động tốt hơn.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lý luận Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là cơ quan dịch vụ công có chức năng tổ chức thực hiện đăng ký sử dụng đất và chỉnh lý thống nhất biến động về sử dụng đất, quản lý hồ sơ địa chính; giúp cơ quan Tài nguyên và Môi trường cấp trên trong việc thực hiện thủ tục hành chính về quản lý, sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp có thu, có con dấu riêng và được mở tài khoản theo quy định của pháp luật.
Cơ sở pháp lý - Luật đất đai năm 2003 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2004. [3] - Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành luật đất đai.[3] - Quyết định 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên-Môi Trường ban hành quy định về GCNQSDĐ .[12] - Quyết định số 25/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài Nguyên-Môi Trường về việc ban hành kế hoạch triển khai luật đất đai.[13] - Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT - BTP - BTNMT ngày 16 tháng 6 năm 2005 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đai.[15] - Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT – BTNMT – BNV – BTC ngày 15 tháng 3 năm 2010 hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế và cơ chế tài chính của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất n 5 2. Khái quát về Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất 2. Các nội dung của quản lý nhà nước về đất đai Mục II điều 6 luật Đất đai 2003 quy định các nội dung quản lý nhà nước về đất đai: [5] Nội dung 1: Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
Nội dung 2: Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Nội dung 3: Khảo sát đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất Nội dung 4: Quản lý quy hoạch kế hoạch sử dụng đất. Nội dung 5: Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Nội dung 6: Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDđất.
Nội dung 7: Thống kê, kiểm kê đất đai. Nội dung 8: Quản lý tài chính về đất đai. Nội dung 9: Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản. Nội dung 10: Quản lý giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Nội dung 11: Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai. Nội dung 12: Giải quyết các tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai. Nội dung 13: Quản lý các dịch vụ công về đất đai. Khái niệm và phân loại của Văn phòng đăng ký QSDĐ 2.
Khái niệm đăng ký đất đai Đăng ký đất đai là thủ tục hành chính do cơ quan Nhà nước thực hiện đối với các đối tượng là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, sở hữu tài sản trên đất (gọi chung là người sử dụng); là việc ghi nhận về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản trên đất đối với một thửa đất xác định và HSDC và cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu tài sản trên đất cho những chủ sử dụng đất hợp pháp qua đó xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước với người sử dụng. Đăng ký đất đai được chia thành 2 giai đoạn: (1) đăng ký lần đầu và (2) đăng ký biến động đất đai.[2] Đăng ký lần đất đai lần đầu là việc đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản trên đất đối với thửa đất thực hiện lần đầu. [2] Đăng ký lần đầu được thực hiện trong các trường hợp sau: (1) Được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng; (2) Ngưới đang sử dụng mà thửa đất đó chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đăng ký biến động về đất đai được thực hiện đối với ngưới sử dụng thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc giấy tờ hợp lệ theo quy định của pháp luật mà có thay đổi về việc sử dụng đất.