Tổng quan nghiên cứu

Khu vực phía nam Sông Đào giữ vai trò quan trọng trong không gian phát triển đô thị của thành phố Nam Định với tổng diện tích tự nhiên đạt 1.361,33 ha, chiếm 21,39% tổng diện tích toàn thành phố và quy mô dân số ghi nhận 20.642 người. Trước tốc độ đô thị hóa nhanh chóng với hơn 61% lực lượng lao động chuyển dịch sang khu vực phi nông nghiệp, bài toán cân bằng giữa việc chuyển đổi quỹ đất canh tác và phát triển hạ tầng kỹ thuật đang đặt ra nhiều thách thức gay gắt. Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề bất cập trong việc thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2018, chỉ rõ những sai lệch giữa kế hoạch được phê duyệt và thực tiễn triển khai. Mục tiêu cụ thể của đề tài là đánh giá toàn diện kết quả thực hiện quy hoạch đất nông nghiệp và phi nông nghiệp tại 3 đơn vị hành chính gồm phường Cửa Nam, xã Nam Phong, xã Nam Vân; phân tích các yếu tố kinh tế, xã hội, chính sách bồi thường tác động đến tiến độ dự án; từ đó xây dựng phương án định hướng sử dụng đất đến năm 2020 có tính khả thi cao. Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi không gian 3 phường, xã cửa ngõ phía nam thành phố với chuỗi dữ liệu xuyên suốt từ năm 2011 đến năm 2018 và tầm nhìn điều chỉnh đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về đất đai, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy giúp chính quyền địa phương tối ưu hóa 1.361,33 ha tài nguyên đất, bảo vệ diện tích 132 ha chuyên canh hoa cây cảnh giá trị cao và giảm thiểu tình trạng chậm tiến độ tại các dự án hạ tầng trọng điểm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết đánh giá đất đai bền vững của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc cùng nguyên lý phân bổ tối ưu nguồn lực đất đai trong kinh tế học không gian. Đề tài vận dụng mô hình quản trị nhà nước đa mục tiêu, kết hợp giữa quy hoạch vĩ mô mang tính pháp lý với cơ chế thị trường nhằm giải quyết xung đột lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất. Ba khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa xuyên suốt gồm: quy hoạch sử dụng đất theo Điều 3 Luật Đất đai năm 2013, kế hoạch chuyển mục đích sử dụng đất định kỳ, và hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường trong quản lý địa chính. Về mặt thể chế, đề tài bám sát các căn cứ pháp lý then chốt: Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật, Nghị định số 44/2014/NĐ-CP về định giá đất, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT quy định chi tiết lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, cùng Quyết định số 1008/QĐ-UBND ngày 21 tháng 6 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định phê duyệt quy hoạch sử dụng đất thành phố Nam Định đến năm 2020.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập đồng bộ. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo thống kê đất đai, bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính lưu trữ tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Nam Định, Chi cục Thống kê và Ủy ban nhân dân 3 xã phường giai đoạn 2010 - 2018. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát xã hội học với cỡ mẫu 107 phiếu điều tra ngẫu nhiên người dân trực tiếp sử dụng đất tại các khu vực chịu ảnh hưởng của quy hoạch, kết hợp 20 phiếu phỏng vấn chuyên sâu đối với cán bộ quản lý địa chính và lãnh đạo các phòng ban chuyên môn. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả 3 đơn vị hành chính và các nhóm đối tượng bị thu hồi đất. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp so sánh đối chiếu giữa số liệu quy hoạch phê duyệt và hiện trạng thực tế, cùng phương pháp tổng hợp phân tích đa chiều trên phần mềm Microsoft Excel được lựa chọn. Việc ứng dụng các phương pháp này giúp định lượng hóa chính xác tỷ lệ hoàn thành các chỉ tiêu sử dụng đất theo từng loại hình cụ thể, làm rõ mối tương quan giữa đơn giá bồi thường với mức độ đồng thuận của 107 hộ dân, đồng thời loại bỏ các sai số định tính. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được triển khai thực hiện từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 5 năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc thực hiện chỉ tiêu giảm diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2018 đạt kết quả rất thấp so với kế hoạch đề ra. Năm 2010 diện tích đất nông nghiệp là 811,29 ha, chỉ tiêu quy hoạch duyệt đến năm 2018 phải giảm xuống còn 709,37 ha (giảm 101,92 ha để phục vụ đô thị hóa). Tuy nhiên, kết quả thực tế đến năm 2018 diện tích đất nông nghiệp vẫn duy trì ở mức 807,73 ha (chiếm 59,33% diện tích tự nhiên), chỉ giảm được 3,56 ha, tương đương tỷ lệ thực hiện kế hoạch giảm chỉ đạt 3,49%. Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp thực tế còn 726,77 ha (vượt 95,58 ha so với quy hoạch duyệt 631,19 ha); đất nuôi trồng thủy sản thực tế là 80,71 ha (vượt 7,77 ha so với quy hoạch 72,94 ha).

Thứ hai, nhóm đất phi nông nghiệp không đạt mục tiêu mở rộng theo phương án quy hoạch đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định phê duyệt. Chỉ tiêu quy hoạch đất phi nông nghiệp đến năm 2018 là 649,25 ha, nhưng kết quả thực hiện mới đạt 550,68 ha, hụt 98,35 ha so với mục tiêu. Trong đó, đất ở chỉ đạt 147,65 ha so với chỉ tiêu 168,08 ha (thiếu hụt 20,43 ha); đất chuyên dùng phục vụ phát triển hạ tầng và sản xuất kinh doanh đạt 253,23 ha so với quy hoạch 325,21 ha (thiếu hụt 71,98 ha, chỉ đạt 77,87% kế hoạch).

Thứ ba, cơ cấu sản xuất nông nghiệp nội bộ ghi nhận bước chuyển dịch đột phá tại xã Nam Phong khi chuyển đổi thành công 132 ha đất canh tác sang mô hình chuyên canh hoa và cây cảnh chất lượng cao (hoa ly, tulip, cúc vạn thọ). Mô hình này tạo ra giá trị thu nhập bình quân lên tới 430 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 8,6 lần so với canh tác lúa truyền thống có năng suất bình quân 87 tạ/ha và giá trị khoảng 50 triệu đồng/ha/năm.

Thứ tư, nhóm đất chưa sử dụng còn lại 2,92 ha (chiếm 0,21% tổng diện tích tự nhiên), toàn bộ là đất bằng chưa sử dụng phân bố xen kẽ trong các khu dân cư nông thôn và dải lưu vực ven sông, đáp ứng đúng chỉ tiêu quản lý quỹ đất dự phòng của địa phương.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến tiến độ thực hiện quy hoạch đất phi nông nghiệp bị chậm 98,35 ha xuất phát từ sự hạn chế về nguồn vốn đầu tư công của thành phố Nam Định và những vướng mắc phức tạp trong khâu giải phóng mặt bằng. Kết quả khảo sát 107 hộ dân cho thấy phần lớn người dân phản ánh đơn giá bồi thường đất nông nghiệp chưa sát với giá trị chuyển nhượng thực tế trên thị trường, đồng thời các khu tái định cư tại phía Nam Sông Đào chưa hoàn thiện đồng bộ hạ tầng kỹ thuật trước khi thu hồi đất.

Khi so sánh với các nghiên cứu tương tự tại các vùng ven đô thuộc Đồng bằng sông Hồng, tình trạng sai lệch chỉ tiêu quy hoạch có xu hướng lặp lại khi các dự án phát triển công nghiệp và đô thị thường được lập dựa trên kỳ vọng phát triển hơn là khả năng thu hút dòng vốn đầu tư thực tế. Điều này chỉ ra rằng việc lập kế hoạch sử dụng đất cấp huyện cần phải gắn kết chặt chẽ hơn nữa với kế hoạch đầu tư công trung hạn và quy hoạch xây dựng chi tiết.

Để minh họa rõ nét các phát hiện trên trong báo cáo quản lý, dữ liệu chuyển dịch đất đai cần được trình bày qua biểu đồ cột chồng so sánh cơ cấu 3 nhóm đất giữa hiện trạng năm 2010, chỉ tiêu quy hoạch năm 2018 và thực tế đạt được năm 2018. Đồng thời, một bảng ma trận luân chuyển diện tích chi tiết cho 14 loại đất tại 3 đơn vị Cửa Nam, Nam Phong và Nam Vân sẽ làm nổi bật 98,36 ha đất nông nghiệp chậm chuyển đổi, hỗ trợ đắc lực cho các cấp lãnh đạo trong việc nhận diện điểm nghẽn quy hoạch.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, rà soát và điều chỉnh các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất chưa khả thi. Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định cần chủ trì phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát, cắt giảm khoảng 50 đến 70 ha chỉ tiêu đất chuyên dùng chưa có nhà đầu tư đăng ký, đồng thời hoàn thành việc lập và phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 cho phường Cửa Nam, xã Nam Phong và xã Nam Vân trước quý IV năm 2020.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế bồi thường, giải phóng mặt bằng và xây dựng đồng bộ hạ tầng tái định cư. Hội đồng bồi thường thành phố Nam Định cần áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất tiệm cận giá thị trường theo quy định tại Nghị định số 44/2014/NĐ-CP; đồng thời đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng khu tái định cư phía Nam Sông Đào theo Quyết định số 4968/QĐ-UBND, cam kết bàn giao 100% mặt bằng tái định cư hoàn chỉnh điện, nước, giao thông trước khi thực hiện thu hồi đất, nhằm nâng tỷ lệ đồng thuận của người dân từ mức 65% hiện tại lên trên 85% trong giai đoạn 2020 - 2022.

Thứ ba, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật và công trình công cộng. Ban Quản lý dự án thành phố cần chủ động xúc tiến các mô hình đối tác công tư (PPP) và xã hội hóa nguồn vốn nhằm huy động từ 500 đến 700 tỷ đồng ngoài ngân sách, tập trung hoàn thiện các trục giao thông đối ngoại kết nối Quốc lộ 21 và Quốc lộ 10 trong giai đoạn 2020 - 2023.

Thứ tư, hỗ trợ nhân rộng mô hình nông nghiệp đô thị sinh thái giá trị cao. Ủy ban nhân dân xã Nam Phong và xã Nam Vân cần phối hợp cùng Hội Nông dân tổ chức chuyển đổi linh hoạt thêm 40 đến 50 ha đất trồng lúa năng suất thấp sang trồng hoa, cây cảnh công nghệ cao, duy trì mức doanh thu tối thiểu 400 đến 450 triệu đồng/ha/năm đến năm 2025 gắn với quy hoạch vành đai xanh sinh thái ven sông Đào.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và đô thị (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Nam Định, Phòng Quản lý Đô thị) sử dụng dữ liệu đánh giá 1.361,33 ha đất tự nhiên làm căn cứ thực tiễn để lập quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021 - 2030 và kế hoạch sử dụng đất hàng năm sát với nhu cầu phát triển.

Nhóm 2: Các doanh nghiệp, chủ đầu tư dự án bất động sản và hạ tầng công nghiệp tham khảo hiện trạng 550,68 ha đất phi nông nghiệp cùng các phân tích về vướng mắc mặt bằng để tính toán dòng tiền, tiến độ giải phóng mặt bằng và tối ưu hóa phương án đầu tư.

Nhóm 3: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản lý đất đai, Quy hoạch đô thị, Quản lý tài nguyên khai thác luận văn như một công trình mẫu mực về phương pháp đánh giá thực hiện quy hoạch kết hợp khảo sát định lượng 107 hộ dân và 20 chuyên gia tại khu vực chuyển tiếp nông thôn - đô thị.

Nhóm 4: Chính quyền địa phương cấp cơ sở (Ủy ban nhân dân phường Cửa Nam, xã Nam Phong, xã Nam Vân) ứng dụng các bài học kinh nghiệm về công khai minh bạch 100% thông tin quy hoạch, giải quyết tranh chấp đất đai và nâng cao hiệu quả vận động quần chúng nhân dân trong công tác bồi thường tái định cư.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính dẫn đến việc chỉ tiêu đất phi nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2018 bị hụt 98,35 ha so với quy hoạch là gì? Nguyên nhân chủ yếu do việc bố trí vốn đầu tư công chưa kịp thời và công tác giải phóng mặt bằng gặp nhiều trở ngại về đơn giá đền bù. Khảo sát 107 hộ dân cho thấy hạ tầng khu tái định cư triển khai chậm, dẫn đến 71,98 ha đất chuyên dùng phục vụ hạ tầng và sản xuất kinh doanh chưa thể bàn giao mặt bằng theo đúng tiến độ kế hoạch.

Hiện trạng sử dụng đất năm 2018 tại 3 đơn vị phía nam Sông Đào có cơ cấu như thế nào? Tổng diện tích tự nhiên toàn khu vực đạt 1.361,33 ha. Trong đó, đất nông nghiệp chiếm 807,74 ha (59,33%), đất phi nông nghiệp chiếm 550,68 ha (40,45%) với 147,65 ha đất ở và 253,23 ha đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng chỉ còn 2,92 ha (0,21%). Cơ cấu này thể hiện rõ đặc trưng của vùng ven đô đang trong tiến trình đô thị hóa mạnh mẽ.

Hiệu quả kinh tế của mô hình chuyển đổi cây trồng tại xã Nam Phong được ghi nhận ra sao? Xã Nam Phong đã chuyển đổi thành công 132 ha đất canh tác sang trồng hoa ly, hoa tulip và cây cảnh, mang lại giá trị thu nhập bình quân 430 triệu đồng/ha/năm. Mức thu nhập này vượt trội hoàn toàn so với sản xuất lúa truyền thống có năng suất 87 tạ/ha và giá trị thu nhập chỉ đạt khoảng 50 triệu đồng/ha/năm.

Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu được triển khai như thế nào để đảm bảo tính đại diện? Nghiên cứu áp dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng với quy mô 107 phiếu phỏng vấn người dân tại 3 đơn vị Cửa Nam, Nam Phong, Nam Vân và 20 phiếu phỏng vấn sâu cán bộ quản lý. Cỡ mẫu này phản ánh khách quan quan điểm đa chiều về tính minh bạch quy hoạch, đơn giá bồi thường và năng lực thực thi chính sách tại địa phương.

Định hướng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại khu vực này tập trung vào trọng tâm nào? Định hướng tập trung vào việc rà soát cắt giảm các chỉ tiêu đất chuyên dùng thiếu khả thi, hoàn thiện hạ tầng các trục giao thông đối ngoại kết nối Quốc lộ 21 và Quốc lộ 10, mở rộng không gian thương mại dịch vụ tại phường Cửa Nam với thu nhập bình quân 39 triệu đồng/người/năm và giữ vững 132 ha vùng hoa sinh thái tại xã Nam Phong.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý và biến động của 1.361,33 ha đất tự nhiên tại 3 đơn vị phường xã phía nam Sông Đào giai đoạn 2011 - 2018.
  • Làm rõ nguyên nhân sai lệch chỉ tiêu khi đất nông nghiệp chậm giảm 98,36 ha và đất phi nông nghiệp thiếu hụt 98,35 ha so với phương án quy hoạch được phê duyệt.
  • Ghi nhận hiệu quả kinh tế vượt trội của mô hình chuyên canh hoa cây cảnh tại xã Nam Phong đạt doanh thu 430 triệu đồng/ha/năm trên diện tích 132 ha.
  • Lượng hóa các rào cản xã hội học về đơn giá bồi thường và tái định cư dựa trên phân tích thực chứng 107 phiếu điều tra người dân và 20 cán bộ chuyên môn.
  • Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ về thể chế, tài chính, bồi thường và nông nghiệp sinh thái đến năm 2020.

Đóng góp then chốt của luận văn là cung cấp bức tranh thực chứng rõ nét về hiệu quả sử dụng đất, trở thành tài liệu tham khảo khoa học quan trọng cho công tác lập quy hoạch sử dụng đất thành phố Nam Định giai đoạn tiếp theo. Trong thời gian tới từ năm 2020 đến năm 2025, chính quyền địa phương cần tiếp tục số hóa cơ sở dữ liệu địa chính và chuẩn hóa quy trình tham vấn cộng đồng. Các cơ quan quản lý, nhà đầu tư và viện nghiên cứu hãy chủ động khai thác các phát hiện từ công trình này để nâng cao hiệu quả quản trị và phát triển bền vững tài nguyên đất đai.