Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi Ngân sách nhà nước Chương 2: Thực trạng quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Văn phòng cơ quan lãnh đạo tỉnh Tiền Giang Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi Ngân sách nhà nước tại Văn phòng cơ quan lãnh đạo tỉnh Tiền Giang 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Các khái niệm về ngân sách và quản lý chi ngân sách 1. Ngân sách nhà nƣớc 1. Khái niệm quản lý chi ngân sách “Quản lý chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Do đó, Chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước” (Nguồn Luật Ngân sách 2015) NSNN - với ý nghĩa là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước, ra đời từ rất sớm cùng với sự hình thành của Nhà nước. Và trong lịch sử, thuật ngữ NSNN xuất hiện khi Nhà nước đã phát triển đến một giai đoạn nhất định mà ở đó sự phân biệt giữa tài chính công và tài chính tư đã trở nên cần thiết như một nhu cầu cần thiết. Qua đó có thể thấy NSNN là một phạm trù kinh tế mang tính lịch sử, phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội trong điều kiện còn tồn tại trong quan hệ hàng hóa - tiền tệ và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của nhà nước.
Điều này có ý nghĩa là sự ra đời và tồn tại của NSNN gắn liền với sản xuất hàng hóa, với sự ra đời, tổn tại của nhà nước. Thuật ngữ NSNN được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia. Trên thực tế người ta đưa ra nhiều định nghĩa về NSNN không giống nhau và tùy thuộc vào các góc độ xem xét khác nhau. Cụ thể: - Theo bách khoa toàn thư về kinh tế học và khoa học quản lý do A.
Silem biên soạn, NSNN (le budget) là một bản dự báo và cho phép thực hiện các khoản thu và các khoản chi trong năm của Nhà nước. Định nghĩa của nhà khoa học người pháp này nhằm nhấn mạnh tính kế hoạch thu, chi đã được phê chuẩn của Nhà nước trong một niên hạn nhất định (một năm) mà chưa chú ý đến vị trí, tầm quan trọng cũng như bản chất của NSNN. 14 - Theo luật NSNN của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 25/06/2015, định nghĩa: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. (theo luật ngân sách 2015) - Theo giáo trình lý thuyết tài chính: “NSNN là phạm trù kinh tế và phạm trù lịch sử.
NSNN được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu”. - Theo giáo trình quản lý tài chính công: “NSNN là dự toán hàng năm về toàn bộ các nguồn tài chính được huy động cho Nhà nước và sử dụng các nguồn tài chính đó nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước do hiến pháp quy định”. - Qua đó có thể thấy NSNN, trước hết là một khái niệm thuộc phạm trù kinh tế học hay hẹp hơn là tài chính học. Xét từ góc độ này, NSNN được hiểu là bản dự toán các khoản thu và chi tiền tệ của một quốc gia, được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quyết định để thực hiện trong thời hạn nhất định, thường là một năm.
Hệ thống ngân sách nhà nƣớc Việt Nam Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống ngân sách Nhà nƣớc Ngân sách Nhà nƣớc Ngân sách trung ương Ngân sách địa phương Ngân sách cấp tỉnh Ngân sách cấp huyện Đơn vị dự toán cấp huyện Đơn vị sự nghiệp Cấp xã trực thuộc (Nguồn luật ngân sách 2015) 1. Ngân sách Nhà nƣớc chi cho hoạt động đơn vị Ngân sách chi cho hoạt động đơn vị mang bản chất của NSNN, đó chính là các mối quan hệ giữa ngân sách chi cho hoạt động đơn vị với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh trong quá trình phân bổ, sử dụng với bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa. Ngân sách chi cho hoạt động đơn vị là công cụ quan trọng của chính quyền cấp tỉnh trong việc ổn định và phát triển KT - XH trên địa bàn. Khi xem xét ngân sách chi cho hoạt động đơn vị không tách rời khỏi NSNN cấp trên.
Theo đó, ngân sách chi cho hoạt động đơn vị là toàn bộ các khoản thu - chi được quy định dựa vào dự toán trong một năm do HĐND tỉnh quyết định và giao cho UBND tỉnh tổ chức chấp hành nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp tỉnh. Quan niệm trên có thể giúp chúng ta hình dung được ngân sách chi cho hoạt động đơn vị và cơ quan quyết định cũng như cơ quan chấp hành ngân sách chi cho hoạt động đơn vị. Tuy nhiên, quan điểm trên chưa phản ánh được các mối quan hệ tiền tệ mà thực chất là quan hệ lợi ích kinh tế chứa đựng trong ngân sách chi cho hoạt động đơn vị.Thực tiễn chỉ ra rằng khi các khoản thu, chi ngân sách chi cho hoạt động đơn vị diễn ra tất yếu sẽ nảy 16 sinh sự vận động của nguồn tài chính từ chủ thể (người) nộp đến ngân sách chi cho hoạt động đơn vị, từ ngân sách chi cho hoạt động đơn vị đến những mục đích sử dụng nào đó. Toàn bộ quá trình thu tác động đến lợi ích, nghĩa vụ của người nộp và toàn bộ các khoản chi sẽ mang lại lợi ích cho dân cư, hộ gia đình.
Sự vận động của các nguồn tài chính vào ngân sách chi cho hoạt động đơn vị đến các mục đích sử dụng khác nhau chứa đựng các mối quan hệ cụ thể: - Quan hệ giữa chính quyền cấp tỉnh với các cấp chính quyền cấp trên: thể hiện trong việc xác định cho các huyện nguồn thu được phân chia giữa các cấp ngân sách và thể hiện trong sự hỗ trợ bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp huyện. - Quan hệ giữa chính quyền nhà nƣớc với nhân dân trong tỉnh: thể hiện khi ngân sách cấp trên cấp kinh phí ủy quyền, chuyển giao cho tỉnh thực hiện. Đó là chương trình quốc gia như chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình, chương trình phổ cập giáo dục. - Quan hệ giữa cấp chính quyền tỉnh với các tổ chức cá nhân trong và ngoài nƣớc: đó là mối quan hệ thông qua việc biếu tặng, giúp đỡ, tài trợ của các tổ chức cá nhân đó đối với tỉnh.
- Quan hệ giữa cấp chính quyền tỉnh với tổ chức Đảng và các tổ chức chính trị xã hội khác trong việc hình thành và sử dụng quỹ ngân sách. Quan hệ này được thể hiện ngân sách cấp kinh phí cho các hoạt động của Đảng và các tổ chức chính trị xã hội trong. Tất cả các mối quan hệ được trình bày ở trên phản ánh các nội dung thu và chi ngân sách cấp tỉnh. Tóm lại, ngân sách chi cho hoạt động đơn vị là quỹ tiền tệ tập trung của tỉnh được hình thành bằng các nguồn thu và đảm bảo các khoản chi trong phạm vi tỉnh.
Nó phản ánh những mối quan hệ một bên là chính quyền cấp tỉnh với một bên là các chủ thể khác thông qua sự vận động của các nguồn tài chính, nhằm đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền tỉnh. Quản lý ngân sách nhà nƣớc chi cho hoạt động đơn vị cấp tỉnh Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình mà chủ thể quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt tới các mục tiêu đã định. Trong hoạt động quản lý, các vấn đề về: chủ thể quản lý, 17 đối tượng quản lý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải xác định đúng đắng. Quản lý NSNN là một nội dung trọng yếu của quản lý tài chính, do Nhà nước điều hành và là một mặt của quản lý kinh tế - xã hội quan trọng, do đó trong quản lý NSNN cần được nhận thức đẩy đủ.
Quản lý Ngân sách chi cho hoạt động đơn vị là hoạt động của các chủ thể quản lý thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác động và điều chỉnh hoạt động của ngân sách cấp tỉnh nhằm đạt được mục tiêu đã định. Quản lý NSNN chi cho hoạt động đơn vị cấp tỉnh phải đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, phải gắn với mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế, các khoản chi của ngân sách phải gắn với nhiệm vụ phát triển KT - XH của tỉnh trong từng thời kỳ. Đối tượng của quản lý ngân sách chi cho hoạt động đơn vị là các hoạt động của NSNN cấp tỉnh. Cụ thể hơn đó là các hoạt động thu, chi bằng tiền của ngân sách chi cho hoạt động đơn vị.
Trong quản lý NSNN, các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý và nhiều công cụ khác nhau như phương pháp tổ chức, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, hệ thống pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý NSNN, các công cụ pháp luật như chính sách, cơ chế quản lý tài chính, kế toán, thống kê, các định mức, tiêu chuẩn về tài chính, đòn bẩy kinh tế, các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý NSNN v. Hệ thống pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý NSNN: được sử dụng để quản lý và điều hành các hoạt động quản lý NSNN được xem như một loại công cụ quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng.