Luận văn thạc sĩ hus điều tra đánh giá mức độ ô nhiễm và đề xuất phương pháp xử lý thuốc bảo vệ thực vật ddt tại xã định trung thành phố vĩnh yên tỉnh vĩnh phúc

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hus điều tra đánh giá mức độ ô nhiễm và đề xuất phương pháp xử lý thuốc bảo vệ thực vật ddt tại xã, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2016

79
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: Hiện trạng ô nhiễm DDT trong môi trƣờng tại Việt Nam

1.1. Hiện trạng ô nhiễm DDT khu vực nghiên cứu theo các kết quả điều tra trƣớc

1.2. Kết quả phân tích mẫu khu vực ô nhiễm tại xã Định Trung (năm 2012)

1.3. Giới thiệu chung về DDT

1.3.1. Tính chất vật lý

1.3.2. Tính chất hóa học

1.3.3. Tác dụng sinh học của DDT

2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu

2.2. Dụng cụ, thiết bị và hóa chất

2.2.1. Dụng cụ và thiết bị

2.3. Phƣơng pháp điều tra và khảo sát thực địa

2.3.1. Khảo sát về hiện trạng môi trường

2.3.2. Các phƣơng pháp phân tích

2.3.3. Phƣơng pháp xử lý số liệu và tổng hợp viết báo cáo

2.4. Các phƣơng pháp nghiên cứu xử lý DDT trong đất nhiễm

2.4.1. Đồng nhất mẫu

2.4.2. Thực nghiệm phương pháp xử lý DDT bằng cách sử dụng hệ ôxi hóa Fe-TAML/H2O2

2.4.3. Phương pháp phân tích DDT

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Một số tính chất cơ bản của mẫu đất nghiên cứu

3.2. Kết quả điều tra, đánh giá hiện trạng ô nhiễm DDT tại khu vực nghiên cứu

3.2.1. Kết quả hiện trạng ô nhiễm DDT môi trường nước tại khu vực nghiên cứu

3.2.2. Kết quả hiện trạng ô nhiễm DDT môi trường bùn, đất khu vực nghiên cứu

3.2.3. Phân vùng ô nhiễm DDT

3.2.4. Kết quả nghiên cứu khả năng phân hủy DDT bằng hệ ôxi hóa Fe-TAML/H2O2 trong phòng thí nghiệm

3.2.4.1. Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ H2O2 đến sự phân hủy của DDT
3.2.4.2. Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ Fe-TAML đến sự phân hủy của DDT

3.2.5. Đề xuất quy trình xử lý nguồn ô nhiễm DDT bằng phƣơng pháp cô lập sử dụng hệ phản ứng Fe-TAML/H2O2 tuần hoàn nhiều lần

3.2.5.1. Nội dung quy trình xử lý đất nhiễm DDT
3.2.5.2. Đề xuất quá trình thi công xử lý khu vực ô nhiễm DDT
3.2.5.3. Yêu cầu của hố chôn lấp cô lập và hố xử lý đất nhiễm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về ô nhiễm DDT và tác động tại xã Định Trung

Ô nhiễm DDT là một vấn đề nghiêm trọng tại xã Định Trung, Vĩnh Yên. DDT, một loại thuốc bảo vệ thực vật, đã được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp nhưng lại để lại hậu quả nghiêm trọng cho môi trường và sức khỏe con người. Tại đây, các kho thuốc cũ đã gây ra ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Việc đánh giá mức độ ô nhiễm DDT là cần thiết để có biện pháp xử lý hiệu quả.

1.1. Tình hình ô nhiễm DDT tại xã Định Trung

Khu vực xã Định Trung đã ghi nhận mức độ ô nhiễm DDT cao, với hàm lượng vượt quá giới hạn cho phép. Các mẫu đất được phân tích cho thấy nồng độ DDT lên tới hàng nghìn mg/kg, gây nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng.

1.2. Tác động của DDT đến sức khỏe con người

DDT có thể gây ra nhiều bệnh tật nghiêm trọng như ung thư, bệnh hô hấp và các vấn đề về sinh sản. Việc tiếp xúc lâu dài với DDT có thể dẫn đến tích lũy trong cơ thể, gây ra các tác động tiêu cực đến sức khỏe.

II. Nguyên nhân gây ô nhiễm DDT tại xã Định Trung

Nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm DDT tại xã Định Trung bao gồm việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng cách và quản lý kho thuốc lỏng lẻo. Trong thời kỳ chiến tranh, nhiều kho thuốc đã bị phá hủy, dẫn đến phát tán DDT ra môi trường.

2.1. Quản lý kho thuốc bảo vệ thực vật

Quản lý kho thuốc bảo vệ thực vật tại xã Định Trung chưa được thực hiện nghiêm túc, dẫn đến tình trạng thuốc bị rò rỉ và phát tán ra môi trường. Việc này đã tạo ra các khu vực ô nhiễm nghiêm trọng.

2.2. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng cách

Nhiều nông dân vẫn sử dụng DDT mà không tuân thủ các quy định an toàn, dẫn đến ô nhiễm đất và nước. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn đe dọa sức khỏe của người dân.

III. Phương pháp xử lý ô nhiễm DDT hiệu quả tại xã Định Trung

Để xử lý ô nhiễm DDT tại xã Định Trung, cần áp dụng các phương pháp khoa học hiện đại. Một trong những phương pháp hiệu quả là sử dụng hệ ôxi hóa Fe-TAML/H2O2, giúp phân hủy DDT trong đất.

3.1. Phương pháp ôxi hóa Fe TAML H2O2

Phương pháp này sử dụng hệ xúc tác Fe-TAML kết hợp với H2O2 để phân hủy DDT. Nghiên cứu cho thấy phương pháp này có hiệu quả cao trong việc giảm nồng độ DDT trong đất.

3.2. Các biện pháp bổ sung trong xử lý ô nhiễm

Ngoài phương pháp ôxi hóa, cần kết hợp các biện pháp như cô lập khu vực ô nhiễm và tái sử dụng đất sau khi xử lý. Điều này giúp đảm bảo an toàn cho cộng đồng và môi trường.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng phương pháp xử lý ô nhiễm DDT tại xã Định Trung đã mang lại hiệu quả tích cực. Nồng độ DDT trong đất đã giảm đáng kể, giúp cải thiện chất lượng môi trường.

4.1. Kết quả phân tích sau xử lý

Sau khi áp dụng phương pháp xử lý, nồng độ DDT trong đất đã giảm xuống dưới mức cho phép. Điều này chứng tỏ tính hiệu quả của phương pháp ôxi hóa Fe-TAML/H2O2 trong việc xử lý ô nhiễm.

4.2. Ứng dụng mô hình xử lý tại các khu vực khác

Mô hình xử lý ô nhiễm DDT tại xã Định Trung có thể được áp dụng tại các khu vực khác có tình trạng ô nhiễm tương tự. Việc này không chỉ giúp cải thiện môi trường mà còn bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho xử lý ô nhiễm DDT

Việc xử lý ô nhiễm DDT tại xã Định Trung là một bước quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường. Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp xử lý hiệu quả hơn để đảm bảo an toàn cho cộng đồng.

5.1. Tầm quan trọng của việc xử lý ô nhiễm

Xử lý ô nhiễm DDT không chỉ giúp cải thiện chất lượng môi trường mà còn bảo vệ sức khỏe của người dân. Đây là nhiệm vụ cấp bách cần được thực hiện ngay.

5.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu các phương pháp xử lý ô nhiễm mới, đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng về tác hại của DDT. Việc này sẽ góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe con người.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus điều tra đánh giá mức độ ô nhiễm và đề xuất phương pháp xử lý thuốc bảo vệ thực vật ddt tại xã định trung thành phố vĩnh yên tỉnh vĩnh phúc

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) có vai trò rất quan trọng trong phòng trừ và bảo vệ cây trồng trước sâu bệnh, côn trùng, nấm và các dịch hại gây bệnh khác. Ngoài ra, một số sản phẩm được sử dụng để phòng chống mối, mọt, bảo vệ quân trang, quân dụng và phòng chống bệnh tật ở người (sốt rét). Trong những năm 1960 - 1990, do sự hiểu biết về thuốc BVTV còn hạn chế, chỉ coi trọng mặt tích cực của các loại hóa chất này là bảo quản, phòng trừ bệnh tật và dịch hại nên công tác quản lý, giám sát trong hoạt động sản xuất, vận chuyển, phân phối còn lỏng lẻo dẫn đến một lượng lớn các thuốc BVTV bị thất thoát, đổ vỡ hoặc bị chôn vùi trong lòng đất gây nên hậu quả về ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng. Một trong những thuốc BVTV phổ biến nhất là Diclo Diphenyl Tricloetan (DDT).

DDT là một dạng hợp chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (Persistant organic pollutants- POPs) từng được sản xuất phục vụ cho các mục đích diệt trừ sâu hại thực vật, diệt côn trùng, diệt các vectơ truyền bệnh trong y tế và bảo vệ các công trình xây dựng… DDT rất khó bị phân hủy trong môi trường, khi xâm nhập vào cơ thể chúng rất chậm bị đào thải và tích lũy trong các mô tế bào gây ra nhiều chứng bệnh nguy hiểm. DDT sau đó đã được cấm sử dụng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp trên toàn thế giới theo Công ước Stockholm, nhưng về một mặt nào đó, người ta vẫn tiếp tục tranh cãi về việc sử dụng DDT trong kiểm soát vector gây bệnh. Tại Việt Nam hiện nay, một lượng lớn DDT vẫn còn tồn lưu trong các kho thuốc bảo vệ thực vật, vật tư y tế và một số ngành khác. Đặc biệt, do thời gian quá lâu các kho chứa đã bị đổ nát và việc quản lý thiếu chặt chẽ từ thời điểm ban đầu, nên các loại thuốc trừ sâu nói chung và DDT nói riêng đã bị phân tán ra những khu vực rộng lớn và lẫn vào đất tạo nên những khu vực ô nhiễm nguy hiểm, hàng ngày, hàng giờ đe dọa, gây hại cho cộng đồng dân cư.

Một trong các trường hợp đó là khu vực xã Định Trung, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây, trong khu vực dân cư, DDT tại các nhà kho cũ đã gây ô nhiễm tới môi trường đất và các hoạt động sinh hoạt của người dân xung quanh khu vực bị ô nhiễm DDT. Do đó, việc nghiên cứu xử lý ô 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiễm DDT là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn đối với công tác bảo vệ môi trường và cuộc sống con người. Nhằm xử lý thuốc BVTV clo hữu cơ, Bộ Khoa Học Công nghệ và Môi trường đã có hướng dẫn theo quyết định số 1972/1999/QĐ-BKHCNMT ngày 10/11/1999 để xử lý bằng các phương pháp phân hủy bằng vi sinh vật, phân hủy bằng kiềm đặc nóng, hoặc tiêu hủy nhiệt.

Tuy nhiên, các phương pháp đó vẫn còn bất cập trong việc xử lý DDT tại khu vưc ô nhiễm xã Định Trung, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc do hiệu quả xử lý bằng vi sinh hoặc kiềm nóng đối với DDT là rất thấp, lượng thuốc DDT và đất nhiễm lại quá lớn không thể áp dụng phương pháp tiêu hủy nhiệt [3]. Khu vực ô nhiễm tại xã Định Trung hiện nay trên địa điểm mà trước đây là khu vực kho thuốc trừ sâu, kho hoá chất nhằm phục vụ muc đích quân sự. Trong thời gian chiến tranh chống Mỹ, khu vực kho đã bị bom Mỹ đánh phá, các hóa chất và thuốc BVTV (đặc biệt là DDT) bị phát tán ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng ảnh hưởng đến đời sống và hoạt động của người dân. Do đó luận văn “Điều tra, đánh giá mức độ ô nhiễm và đề xuất phương pháp xử lý thuốc bảo vệ thực vật DDT tại xã Định Trung, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” được xây dựng là rất cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu: Góp phần đưa ra phương pháp xử lý ô nhiễm do tồn lưu DDT tại xã Định Trung, đem lại môi trường sống trong lành cho cộng đồng dân cư xung quanh. Nội dung nghiên cứu: - Khảo sát, phân tích DDT trong khu vực nhiễm tại xã Định Trung, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc từ đó đưa ra các đánh giá về mức độ ô nhiễm và phân vùng ô nhiễm DDT tại khu vực. - Đề xuất mô hình xử lý DDT tại khu vực nhiễm và khảo sát hiệu quả việc sử dụng hệ xúc tác ôxi hóa Fe-TAML/H2O2 trong xử lý ô nhiễm DDT. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.

Hiện trạng ô nhiễm DDT trong môi trƣờng tại Việt Nam Ở Việt Nam,thuốc BVTV bắt đầu được sử dụng vào những năm cuối thập kỷ 50 của Thế kỷ XX. Ở thời kỳ này chỉ có một số ít loại thuốc như DDT, parathion - metyl, polyclorcamphen. Việc sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam trong thời kỳ đầu chưa bộc lộ những vấn đề liên quan đến môi trường. Chủng loại, số lượng được sử dụng chưa nhiều, chưa phổ biến.

Mặt khác, thời kỳ này cũng là thời kỳ mà sản xuất nông nghiệp theo phương thức hợp tác xã. Mọi vật tư phục vụ cho sản xuất trong đó có thuốc BVTV đều được cung ứng theo cơ chế phân phối đến tổ, đội sản xuất. Hình thức này được thực hiện tới những năm 80 của thế kỷ này, khi hình thức "khoán 10" được áp dụng [11]. Thời kỳ thuốc BVTV được quản lý tập trung, không phân tán cho từng hộ nông dân, việc sử dụng là do tập thể (ban lãnh đạo xã) quyết định và tổ chức, nên tình trạng lạm dụng thuốc đã không xảy ra.

Nguy cơ gây ô nhiễm môi trường do sử dụng, bảo quản, lưu thông phân phối không xuất hiện, mặc dù phần lớn các loại thuốc BVTV được sử dụng trong thời kỳ này đều thuộc thế hệ cũ, có khả năng tồn lưu lâu trong môi trường. Do vai trò không thể thiếu trong nông nghiệp mà những thập kỷ qua, nhất là hiện nay nhờ tiến bộ khoa học và kỹ thuật hóa chất DDT được sản xuất và sử dụng ngày càng rộng rãi với mức độ tăng cường nhằm mục đích tăng năng suất cây trồng và sản lượng lương thực thực phẩm nói chung. Mặt trái của hóa chất DDT lại có những tác động bất lợi, gây huỷ hoại và tổn thương nhiều giống loài động vật, thực vật hữu ích trong chuỗi lương thực, thực phẩm cũng như những loại côn trùng tác nhân thụ phấn cho cây trồng. Lượng thuốc trừ sâu, diệt cỏ dư thừa tồn lưu trong đất, nước, không khí hấp thụ tự nhiên vào nông sản, ảnh hưởng nguy hiểm tới sức khỏe và môi trường.

Hiện nay, tuy có quy định khá chặt chẽ bằng pháp luật của chính phủ song số lượng chủng loại thuốc BVTV được nhập hợp pháp và bất hợp pháp được sang chai, đóng gói và dán nhãn với nhiều tên, nhãn hiệu khác nhau rất khó kiểm soát. Nhiều loại 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuốc BVTV nguy hiểm bị cấm hoặc hạn chế sử dụng thuộc nhóm POP như Monitor, DDT, … có lúc, có nơi vẫn còn được lưu hành đã gây ra những rủi ro và để lại những hậu quả di chứng đáng tiếc. Đồng thời những việc làm thiếu ý thức trong đóng gói, sang chai bảo quản thuốc bảo vệ thực vật không hợp lý, vứt bỏ các chai lọ, bao bì, cọ rửa các dụng cụ làm việc hoặc bán lại như đồ đồng nát dẫn tới ô nhiễm nước mặt thuỷ vực, thuỷ lộ, nước ngầm và đất trồng, tác hại tới sức khỏe và môi trường. Đối với nước ta vấn đề ô nhiễm môi trường liên quan đến hoá chất BVTV đã và đang được các cơ quan quản lý nhà nước đặc biệt quan tâm.

Tại Nghệ An, Thanh Hóa có lượng tồn lưu và mức ô nhiễm hoá chất BVTV (POPs) trong đất lớn nhất với số lượng hàng chục nghìn m3. Trên thực tế, con số này còn lớn hơn nhiều. Theo Cục Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hiện tại, phần lớn kho chứa hoá chất BVTV nằm ở những vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Không ít kho nằm xen kẽ trong các khu dân cư như kho thuốc làng Ải (Tuyên Quang), kho Giao Tiến- Giao Thủy (Nam Định),.

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh, trong số những điểm tồn lưu thuốc BVTV, chỉ một lượng nhỏ được đảm bảo an toàn cho môi trường và cộng đồng, còn lại chủ yếu trên các nền kho cũ đã hỏng bốc mùi nồng nặc, thậm chí có nơi đã nhiễm vào đất, nguồn nước trong khu dân cư một số khu vực như Vĩnh Lộc (Can Lộc), Thạch Lưu (Thạch Hà). trong đó chủ yếu là hoá chất BVTV clo hữu cơ (thuốc trừ sâu DDT và hexacloran), thuốc BVTV dạng hữu cơ photpho (metyl parathion) [8]. Chỉ trong năm 2009 đã có khoảng 5000 người bị nhiễm độc thuốc BVTV, trong đó 138 người tử vong, chưa kể số người bị mắc bệnh ung thư, bệnh lao phổi, bệnh về đường hô hấp,. và hàng năm vẫn không ngừng tăng lên do nhiễm độc hoá chất BVTV tồn dư.

Bên cạnh đó, việc tiếp xúc quá lâu và liên tục với môi trường độc hại cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến số người mắc các chứng bệnh do nhiễm độc tăng cao. Theo Quyết định số 1946/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc xử lý triệt để và phòng ngừa ô nhiễm môi trường do thuốc BVTV tồn lưu trên phạm vi cả nước và và Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng” thì từ năm 2010 đến năm 2015, tập trung xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường tại 240 điểm tồn lưu gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Từ năm 2016- 2025, tiếp tục điều tra, xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường tại 95 điểm tồn lưu còn lại. Hiện trạng ô nhiễm DDT khu vực nghiên cứu theo các kết quả điều tra trƣớc Khu vực ô nhiễm tại xã Định Trung hiện nay nằm trên địa điểm mà trước đây là khu vực kho thuốc trừ sâu, kho hoá chất.

Trong thời gian chiến tranh chống Mỹ, khu vực kho đã bị bom Mỹ đánh phá, các hóa chất, thuốc BVTV tồn lưu phát tán ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống và hoạt động của người dân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh Giá Ô Nhiễm DDT và Phương Pháp Xử Lý Tại Xã Định Trung, Vĩnh Yên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng ô nhiễm DDT tại khu vực này, cùng với các phương pháp xử lý hiệu quả. Tài liệu không chỉ nêu rõ mức độ ô nhiễm mà còn đề xuất các giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe cộng đồng. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức quản lý ô nhiễm hóa chất, từ đó nâng cao nhận thức và hành động bảo vệ môi trường.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý môi trường và thuốc bảo vệ thực vật, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại các khu vực đặt kho thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, nơi trình bày các giải pháp quản lý môi trường hiệu quả. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ HUS nghiên cứu khả năng ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật tới hệ sinh thái nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng tại huyện Thường Tín, Hà Nội sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của thuốc bảo vệ thực vật. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ chính sách công quản lý chất thải nguy hại phát sinh từ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang cũng là một nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến quản lý chất thải nguy hại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề môi trường hiện nay.