đặt vấn đề phải phấn đấu để tăng năng suất cây trồng và vật nuôi hơn nữa. Ruộng cây trồng năng suất cao là một hệ sinh thái hài hoà, đạt tới sự cân bằng các yếu tố cấu thành nó. Thực chất của kĩ thuật tăng năng suất cây trồng là kĩ thuật điều khiển sự hoạt động của hệ sinh thái nông nghiệp năng suất cao trong quá trình tồn tại và phát triển của nó. Tất cả các vấn đề trên là các yêu cầu cơ bản của việc xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái, và những vấn đề ấy chỉ có thể giải quyết đƣợc trên cơ sở các quy luật khách quan của Sinh thái học nông nghiệp - một môn khoa học tổng hợp, coi sản xuất nông nghiệp là một hệ thống đang vận động không ngừng và luôn luôn tự đổi mới.
Mặt khác, trên thế giới lí thuyết "hệ thống" cũng bắt đầu xâm nhập rộng rãi vào tất cả các ngành khoa học. Đối tƣợng của Sinh thái học nông nghiệp là các hệ thống (các HSTNN). Vì vậy thực chất nội dung nghiên cứu của môn học này là áp dụng lí thuyết hệ thống và các công cụ của nó nhƣ điều khiển học, mô hình toán học, thống kê nhiều chiều và chƣơng trình hoá máy tính cùng với các quy luật Sinh thái học vào việc nghiên cứu các HSTNN. Vì thế, Sinh thái học nông nghiệp đã ra đời và việc bồi dƣỡng, nâng cao những kiến thức về hệ thống tổng hợp là hết sức cần thiết.
Sinh thái học nông nghiệp là một khoa tổng hợp, nó khảo sát và ứng dụng các qui luật hoạt động của các HSTNN; hay nói khác đi: Sinh thái học nông nghiệp là khoa học về sự sống ở những bộ phận của cảnh quan dùng để canh tác và chăn nuôi. Hiện nay đang đặt ra một số vấn đề tổng hợp cần đƣợc giải quyết mới có thể 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển nông nghiệp một cách nhanh chóng và vững chắc nhƣ phân vùng sản xuất nông nghiệp, xác định hệ thống cây trồng và vật nuôi một cách hợp lí, chế độ canh tác cho các vùng sinh thái khác nhau, phát triển nông nghiệp trong điều kiện năng lƣợng ngày càng đắt, phòng chống tổng hợp sâu bệnh. Để giải quyết đƣợc các vấn đề nêu trên một cách có cơ sở khoa học cần phải đẩy mạnh việc nghiên cứu sinh thái và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp [30]. Các hƣớng nghiên cứu về hệ sinh thái nông nghiệp tại Việt Nam Tại Việt Nam, sinh thái học nông nghiệp là một ngành khoa học trong đó các nguyên lí sinh thái đƣợc áp dụng triệt để trong công tác nghiên cứu, thiết kế, quản lí và đánh giá các hệ thống nông nghiệp với mục đích tạo ra nhiều sản phẩm nhƣng vẫn thực hiện đƣợc chức năng bảo tồn tài nguyên.
Đối tƣợng chính của Sinh thái học nông nghiệp là nghiên cứu về mối tƣơng tác giữa các yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội của các hệ thống sản xuất nông nghiệp. Trong đó, hệ thống trang trại đƣợc xem nhƣ một đơn vị cơ sở cho các nghiên cứu về chu trình vật chất, chuyển hoá năng lƣợng, quá trình sinh học và các mối quan hệ kinh tế - xã hội. Tất cả các các yếu tố kể trên đƣợc phân tích một cách tổng thể và toàn diện theo hƣớng đa ngành. Mục tiêu chính của Sinh thái học nông nghiệp là tìm cách duy trì quá trình sản xuất nông nghiệp với mức năng suất ổn định và có hiệu quả cao bằng cách tối ƣu hoá đầu vào của sản xuất (nhƣ giống, phân bón, sức lao động v.) trong khi đó hạn chế ở mức tối thiểu những tác động tiêu cực đến môi trƣờng và hoạt động kinh tế xã hội.
Theo quan niệm của Sinh thái học hiện đại, toàn bộ hành tinh của chúng ta là một hệ sinh thái khổng lồ và đƣợc gọi là sinh quyển (biosphere). Sinh quyển đƣợc chia ra làm nhiều đơn vị cơ bản, đó lànhững diện tích mặt đất hay mặt nƣớc tƣơng đối đồng nhất, gồm các vật sống và các môi trƣờng sống, có sự trao đổi chất và năng lƣợng với nhau, chúng đƣợc gọi là hệ sinh thái (ecosystem). Ngoài những hệ sinh thái không có hoặc có rất ít sự can thiệp của con ngƣời ở đó là hệ sinh thái tự nhiên, còn có những hệ sinh thái do tác động của con ngƣời tạo ra và chịu sự điều 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khiển của con ngƣời, điển hình nhƣ các ruộng cây trồng và đồng cỏ; đó chính là các hệ sinh thái nông nghiệp. HSTNN là hệ sinh thái do con ngƣời tạo ra và duy trì dựa trên các quy luật khách quan của tự nhiên, với mục đích thoả mãn nhu cầu trên nhiều mặt và ngày càng tăng của mình.
HSTNN là một hệ sinh thái tƣơng đối đơn giản về thành phần và đồng nhất về cấu trúc, cho nên nó kém bền vững, dễ bị phá vỡ; hay nói cách khác, HSTNN là những hệ sinh thái chƣa cân bằng. Bởi vậy, các HSTNN đƣợc duy trì trong sự tác động thƣờng xuyên của con ngƣời để bảo vệ hệ sinh thái mà con ngƣời đã tạo ra và cho là hợp lí. Nếu không, qua diễn thế tự nhiên, nó sẽ quay về trạng thái hợp lí của nó trong tự nhiên. Nhƣ vậy, HSTNN cũng sẽ có các thành phần điển hình của một hệ sinh thái nhƣ sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ, sinh vật phân huỷ và môi trƣờng vô sinh.
Tuy nhiên, với mục đích hàng đầu là tạo ra năng suất kinh tế cao nên đối tƣợng chính của hệ sinh thái nông nghiệp là các thành phần cây trồng và vật nuôi. Trong thực tế sản xuất, dựa vào tri thức và vốn đầu tƣ, con ngƣời giữ HSTNN ở mức phù hợp để có thể thu đƣợc năng suất cao nhất trong điều kiện cụ thể. Con ngƣời càng tác động đẩy HSTNN đến tiếp cận với hệ sinh thái có năng suất kinh tế cao nhất thì lực kéo về mức độ hợp lí của nó trong tự nhiên ngày càng mạnh, năng lƣợng và vật chất con ngƣời dùng để tác động vào hệ sinh thái càng lớn, hiệu quả đầu tƣ càng thấp [30]. Sức khỏe cộng đồng và ảnh hƣởng của việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đến sức khỏe cộng đồng Tất cả các thuốc BVTV đều có thể gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khỏe con ngƣời do đó việc sử dụng thuốc BVTV cần đƣợc quản lý và sử dụng đúng kỹ thuật.
Những loại độc hại quá cần đƣợc hạn chế hoặc cấm sử dụng. Tuy nhiên những thuốc BVTV này ở một số nƣớc đang phát triển vẫn đang đƣợc sử dụng một cách rộng rãi nên tình trạng nhiễm độc hàng loạt vẫn đang diễn ra ở mức báo động. Tại hội nghị y tế thế giới lần thứ 8 năm 1975, WHO đƣa ra bảng phân loại thuốc BVTV theo độ độc hại đối với các loại sinh vật căn cứ trên giá trị LD 50 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trong đó, LD50 là liều thuốc gây chết 50% cá thể thí nghiệm, có thể là chuột hoặc thỏ, đƣợc tính bằng mg/kg trọng lƣợng.
LD50 gây nhiễm qua đƣờng tiêu hóa hoặc LD50 qua da. LC50 là nồng độ gây chết trung bình của thuốc xông hơi đƣợc tính bằng mg hoạt chất/m3 không khí. LD và LC càng nhỏ, độc tính càng cao. Độ độc của thuốc BVTV dạng rắn cao gấp 4 lần độc tính của thuốc BVTV dạng lỏng.
Căn cứ vào độ độc LD50 ngƣời ta chia thuốc BVTV ra làm 4 cấp độc từ I đến IV. Cấp I rất độc, cấp II độc, cấp III độc trung bình, cấp IV tƣơng đối ít độc. Để nhận biết ngƣời ta in băng màu trên nhãn thuốc biểu thị cấp độ độc. Phân nhóm độc chất thuốc BVTV tại Việt Nam Mức độ độc và ký hiệu LD50 (chuột) qua miệng LD50 (chuột) qua da màu Thể rắn Thể lỏng Thể rắn Thể lỏng (mg/kg) (mg/kg) (mg/kg) (mg/kg) Ia, Ib.
Rất độc <50 <200 <100 <400 Vạch màu đỏ II. Độc 50 - 500 200 – 1000 100 - 1000 400 – 4000 Vạch màu vàng III. Độc trung bình >500 >2000 >1000 >4000 Vạch màu xanh IV. Ít độc “Cẩn thận” Vạch màu xanh lá cây Nguồn: Cục BVTV 1.
Trên thế giới Theo thống kê của Tổ chức y tế Thế giới (WHO) năm 1990, mỗi năm có khoảng 25 – 30 triệu lao động trong ngành nông nghiệp bị nhiễm độc, trong đó 3 triệu ca nhiễm độc nghiêm trọng làm 220.000 ca tử vong liên quan đến thuốc BVTV [34]. Các nƣớc đang phát triển chiếm 99% số trƣờng hợp cho dù các nƣớc này chỉ tiêu thụ 20% lƣợng thuốc BVTV. Con số thực tế có thể còn cao hơn nhiều. Cụ thể thống kê của một số quốc gia nhƣ sau: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trung Quốc trong khoảng thời gian từ 1951 – 1990 có ít nhất 184 vụ ngộ độc cấp tính do hóa chất BVTV, gây nhiễm độc cho 24.731 ngƣời, chết 1.094 trƣờng hợp ngộ độc thuốc BVTV cấp tính với 22.545 ngƣời chết.372 ngƣời bị ngộ độc thuốc BVTV.
Trong đó tỷ lệ nhiễm độc nghề nghiệp chiếm 25,39% và nhiễm độc không nghề nghiệp 74,61%. Tỷ lệ tử vong 6,86% [31]. Bộ Y tế Thái Lan trong báo cáo thƣờng niên 1998 có 4.398 trƣờng hợp ngộ độc thuốc BVTV và tỷ lệ trên 100. Năm 2003 số vụ ngộ độc là 2.342 trƣờng hợp và tỷ lệ trên 100.
Ở Irắc có vụ nhiễm độc thuốc BVTV điển hình vào năm 1971 – 1972 hơn 6.000 ngƣời đã phải vào viện với triệu chứng bị ngộ độc thực phẩm và 459 ngƣời chết sau khi ăn bánh mì đƣợc làm từ ngũ cốc bị phun thuốc diệt nấm methylmercury [32]. Ở Ấn Độ đã xảy ra vụ ngộ độc nghiêm trọng tại Bhopal do rò rỉ thuốc BVTV Methylisocyanate làm 200.000 ngƣời bị nhiễm độc trong đó có hơn 2.000 ca tử vong. Tại Campuchia theo nghiên cứu của Sylviane Nguyen và cộng sự phỏng vấn 210 nông dân sử dụng thuốc BVTV có 88% có triệu chứng ngộ độc [34]. Nhiễm độc thuốc BVTV là bệnh dịch vô hình luôn tồn tại ở các quốc gia.
Có rất nhiều thống kê, báo cáo và nghiên cứu ở nhiều nƣớc trên thế giới về ngộ độc và cách phòng ngộ độc cũng nhƣ xử trí ngộ độc thuốc BVTV. Tại Việt Nam Thuốc BVTV đƣợc sử dụng ở Việt Nam từ những năm 1957, trong thời gian 20 năm đầu ngƣời ta không chú ý đến tác hại của thuốc BVTV đến môi trƣờng và con ngƣời. Đến những năm 80 của thế kỷ XX mới có những công trình nghiên cứu về ô nhiễm môi trƣờng và tác dụng của thuốc BVTV đến sức khỏe con ngƣời [13].