CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RÁC THẢI VÀ ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC 3R TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI SINH HOẠT 1. Những vấn đề chung về rác thải 1. Khái niệm về chất thải Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất thải “Chất thải là mọi thứ mà con người, thiên nhiên và quá trình con người tác động vào thiên nhiên thải ra môi trường” (Giáo trình kinh tế chất thải, GS. Nguyễn Đình Hương (chủ biên), NXB Giáo Dục).
Chất thải hiểu một cách đơn giản là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm các hoạt động sản xuất và hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng. Chất thải là sản phẩm không mong muốn được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. Khối lượng, thành phần, đặc tính của chất thải thay đổi tuỳ theo những điều kiện khác nhau như: sự phát triển điều kiện sống và trình độ dân trí, mức độ tập trung dân số, ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh… Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của động thực vật cũng phát sinh các loại chất thải như các chất cặn bã từ quá trình tiêu hoá ở động vật, xác động vật chết, vỏ và lá cây rụng… “Trong quá trình sản xuất và sinh hoạt của con người, một bộ phận vật liệu không có hoặc không còn giá trị sử dụng nữa gọi chung là chất thải” (Giáo trình quản lý môi trường, GS. Đặng Như Toàn (chủ biên), Trường ĐHKTQD) Trong đinh nghĩa trên có nhắc đến “Vật liệu không có hoặc không còn giá trị sử dụng nữa”, nó có ý nghĩa đối với một chu trình hay công đoạn sản xuất nhất định vì SVTH: Đặng Bá Đức Lớp: Kinh tế Quản lý Tài nguyên và Môi trường Chuyên đề tốt nghiệp 5 GVHD: PGS.TS Đinh Đức Trường nó có thể là chất thải của quá trình này nhưng lại là nguyên liệu đầu vào của một quá trình khác.
SVTH: Đặng Bá Đức Lớp: Kinh tế Quản lý Tài nguyên và Môi trường Chuyên đề tốt nghiệp 6 GVHD: PGS.TS Đinh Đức Trường 1. Phân loại - Theo nguồn gốc phát sinh Chất thải rắn sinh hoạt: phát sinh hàng ngày ở các đô thị, làng mạc, khu dân cư, các trung tâm dịch vụ, công viên. Chất thải nông nghiệp: sinh ra do các hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch. Chất thải công nghiệp: phát sinh từ trong quá trình sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp (gồm nhiều thành phần phức tạp, đa dạng, trong đó chủ yếu là các dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí) Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ, vôi vữa, đồ gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra.
Chất thải y tế: là các phế phẩm sinh ra từ các cơ sở y tế, bệnh viện như: bông băng, kim tiêm, vỏ thuốc… - Theo tính chất nguy hại Chất thải không nguy hại: là các chất thải không chứa các chất và các hợp chất có các tính chất nguy hại. Thường là các chất thải phát sinh trong sinh hoạt gia đình, đô thị… Chất thải nguy hại: là chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, nhiễm khuẩn độc hại, chứa chất phóng xạ, các kim loại nặng. Các chất thải này tiềm ẩn nhiều khả năng gây sự cố rủi ro, nhiễm độc, đe doạ sức khoẻ con người và sự phát triển của động thực vật, đồng thời gây ảnh hưởng lớn tới môi trường xung quanh. Nếu không được thu gom và xử lý đúng cách sẽ gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí.
- Theo đặc tính tự nhiên Chất thải vô cơ: là những chất thải không có khả năng phân huỷ trong điều kiện tự nhiên hoặc có thể phân huỷ nhưng thời gian rất dài gồm túi nilon, các loại phế thải SVTH: Đặng Bá Đức Lớp: Kinh tế Quản lý Tài nguyên và Môi trường Chuyên đề tốt nghiệp 7 GVHD: PGS.TS Đinh Đức Trường thuỷ tinh, sành sứ, kim loại, cao su, nhựa, vải, đồ điện, đồ chơi, cát sỏi, vật liệu xây dựng nói chung… Chất thải hữu cơ: là các chất thải có chứa các hợp chất hữu cơ, có khả năng/ dễ dàng phân huỷ sinh học (phân huỷ trong điều kiện tự nhiên) như cây cỏ, lá rụng, rau quả hư hỏng, đồ ăn thừa, rác nhà bếp, giấy, xác động vật, phân gia súc, gia cầm… - Theo tính chất vật lý Chất thải ở trạng thái rắn: bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải từ các cơ sở chế tạo máy, xây dựng (kim loại, da, hoá chất sơn, nhựa, thuỷ tinh, vật liệu xây dựng, …). Chất thải ở trạng thái lỏng: phân bùn từ cống rãnh, bể phốt, nước thải từ các nhà máy, có khu dân cư, nước từ các xí nghiệp dệt nhuộm, sản xuất giấy… Chất thải ở trạng thái khí: bao gồm các loại khí thải của các động cơ đốt trong các máy động lực, ô tô, xe máy, máy kéo, tàu hoả, nhà máy nhiệt điện, sản xuất vật liệu… 1. Các thuộc tính của chất thải Chất thải có thể tồn tại ở cả 3 dạng vật chất là rắn, lỏng, khí; có thể xác định khối lượng rõ ràng. Một số chất thải tồn tại dưới dạng khó xác định như nhiệt, bức xạ, phóng xạ,… Dù tồn tại dưới dạng nào thì tác động gây ô nhiễm của chất thải là do các thuộc tính về lý học, hoá học, sinh học của chúng.
Trong đó thuộc tính hoá học là quan trọng nhất. Ta chú ý đến các thuộc tính cơ bản của chất thải về mặt hoá học. Thuộc tính tích luỹ dần do các hoá chất bền vững và sự bảo tồn vật chất nên từ một lượng nhỏ vô hại qua thời gian tích luỹ thành lượng đủ lớn gây tác hại nguy hiểm, đó là các kim loại nặng As, Hg, Zn. Các chất có thể chuyển đổi từ dạng này sang dạng khác hoặc kết hợp với nhau thành các chất nguy hiểm hơn hoặc ít nguy hiểm hơn, chẳng hạn nước thải chứa Cl hoá hợp với các chất hữu cơ chứa Cl độc hơn 100 lần Cl ban đầu.
Vì vậy, người ta gọi đây là đặc điểm cộng hưởng của các chất thải nguy hiểm. SVTH: Đặng Bá Đức Lớp: Kinh tế Quản lý Tài nguyên và Môi trường Chuyên đề tốt nghiệp 8 GVHD: PGS.TS Đinh Đức Trường Một số chất thải rắn, lỏng và khí còn có đặc thù sinh học nên thông qua các quá trình biến đổi sinh học trong các cơ thể sống hoặc trên các chất thải khác mà biến đổi thành các sản phẩm tạo ra các ổ dịch bệnh, nhất là ở các vùng có điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm thích hợp. Khái niệm rác thải sinh hoạt Khái niệm về chất thải rắn và rác thải sinh hoạt Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được phát thải ra từ quá trình sinh hoạt, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại.
Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là chất thải rắn công nghiệp. (Nghị định 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn) Như vậy, hiểu một cách đơn giản, rác thải sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là những loại chất thải liên quan đến hoạt động sống của con người với nguồn xả chính từ các khu dân cư, văn phòng…được thải bỏ khi chúng không còn hữu ích hay khi con người không muốn sử dụng nữa. Thành phần, nguồn gốc phát sinh rác thải sinh hoạt Thành phần lý, hoá học của chất thải sinh hoạt rất khác nhau tuỳ thuộc vào từng địa phương vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế - xã hội và nhiều yếu tố khác.
Nhiều thành phần trong chất thải có thể tái chế, tái sử dụng để phục vụ cho nhu cầu của con người. Vì vậy việc tìm hiểu về thành phần chất thải sinh hoạt là điều hết sức cần thiết. Sau khi nghiên cứu, phân tích các thành phần cũng như các đặc tính của chúng ta có thể tận dụng những thành phần có thể tái chế, tái sử dụng cho những mục đích khác nhau, từ đó làm giảm lượng rác thải phát sinh và tăng nguồn nguyên liệu đầu vào cho một số ngành nghề, lĩnh vực sản xuất. Mỗi nguồn thải khác nhau lại có thành phần chất thải khác nhau như: khu dân cư và thương mại có thành phần chất thải đặc trưng là các loại thực phẩm dư thừa, các SVTH: Đặng Bá Đức Lớp: Kinh tế Quản lý Tài nguyên và Môi trường Chuyên đề tốt nghiệp 9 GVHD: PGS.TS Đinh Đức Trường loại văn phòng phẩm đã qua sử dụng như giấy, bìa carton,…; chất thải tại các khu chợ thường chứa các loại thực phẩm dư thừa, hết hạn sử dụng, bao bì, túi nilon… Bảng 1.1: Khối lượng và tỷ lệ chất thải tại Hà Nội STT Thành phần chất thải Khối lượng (Đơn Tỷ lệ vị: Tấn/ngày) 1 Rác hữu cơ 1320 44% 2 Giấy photo, báo, tạp chí 150 5% 3 Nhựa 120 4% 4 Nilon 60 2% 5 Cao su/da 30 1% 6 Vải 90 3% 7 Gỗ 120 4% 8 Thuỷ tinh 150 5% 9 Kim loại 150 5% 10 Giấy ăn, tã, bỉm 60 2% 11 Than tổ ong 210 7% 12 Gốm, sứ 180 6% 13 Cành lá cây 270 9% 14 Gạch, đất đá vụn 30 1% 15 Các loại khác 60 2% Tổng cộng 3000 100% Nguồn: Báo cáo điều tra, khảo sát số liệu thực hiện và nhân rộng mô hình 3R – HN, URENCO – Hà Nội, tháng 7/2011 1.
Tác động của rác thải sinh hoạt Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt đến môi trường Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, lượng rác thải phát sinh ngày một nhiều. Tại một số nơi như các khu đô thị, khu công nghiệp, nơi tập trung đông dân cư, công tác thu gom và xử lý đã và đang vượt quá năng lực, rác thải không được SVTH: Đặng Bá Đức Lớp: Kinh tế Quản lý Tài nguyên và Môi trường Chuyên đề tốt nghiệp 10 GVHD: PGS.TS Đinh Đức Trường thu gom, ùn ứ tại các điểm tập kết hay địa điểm và thời gian thu gom không hợp lý đang gây ra những tác động xấu đến môi trường cũng như sức khoẻ con người.