ĐẶT VẤN ĐỀ Trong nền kinh tế hiện nay, ngành chăn nuôi được coi là ngành kinh tế nông nghiệp quan trọng ở Việt Nam,đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn chiếm 60% giá trị ngành chăn nuôi nước ta. Hiện nay, tỷ trọng thịt lợn trong “rổ thực phẩm” vẫn chiếm đến 70% tổng nhu cầu về thịt. Đây là ngành kinh tế có từ lâu đời và đóng góp lớn vào cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, giúp cho người nông dân tăng thêm thu nhập, giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều người lao động. Chăn nuôi cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng ngoài ra còn cung cấp phụ phẩm như phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ cho ngành chế biến.
Vì vậy nên nước ta đặc biệt quan tâm đến các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế ngành chăn nuôi, đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn. Ngày nay nền công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng phát triển thì các trang thiết bị phục vụ cho chăn nuôi cũng ngày càng hiện đại, từ đó việc phòng và trị bệnh cho vật nuôi cũng ưu việt hơn góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Nhờ những thay đổi lớn về giống , nguồn dinh dưỡng thức ăn, kỹ thuật chăn nuôi và phòng trừ dịch bệnh mà ngành chăn nuôi lợn đã ngày càng phát triển mạnh mẽ và có nhiều đóng góp lớn trong nền kinh tế quốc dân, góp phần xóa đói giảm nghèo cho các hộ dân. Theo kết quả điều tra,đến cuối tháng 9 đầu tháng 10/2021 tổng đàn lợn cả nước là trên 28 triệu con (đứng thứ 6 thế giới).
Sản lượng thịt hơi 9 tháng đạt khoảng 2,9 triệu tấn, 16 doanh nghiệp chăn nuôi lớn vẫn duy trì phát triển với tổng đàn lợn thịt trên 6 triệu con ( chiếm 23-24% đàn lợn thịt cả nước). Ngành chăn nuôi lợn cần phải cải tiến các chỉ tiêu như: tỷ lệ nạc cao, hàm lượng mỡ thấp, thịt có màu sắc đẹp hơn, hương vị thơm ngon, tỷ lệ mỡ dắt cao, không bị tồn dư kháng sinh và các chất kích thích khác để có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy trong những năm gần đây nước ta đã nhập rất nhiều giống lợn ngoại như Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain ,. nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài 1 nước.
Nhiều công ty lợn giống trong đó có Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam, hiện cũng đã tiến hành lai tạo ra các dòng đực GF337 ,GF399,… và nái GF24. Việc khảo sát năng suất sinh sản của lợn nái khi phối với các dòng đực khác nhau là việc làm cần thiết để từ đó tìm ra các tổ hợp lai tốt mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi. Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá năng suất sinh sản của đàn nái GF24 phối với các dòng đực GF337,GF399 nuôi tại chuồng 1,2 của trang trại Linkfarm Bắc Kạn ở xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” 1. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 1.
Mục đích - Đánh giá năng suất sinh sản của lợn náiGF24 phối với các dòng đực GF337, GF399 nuôi tại trang trại Linkfarm Bắc Kạn - Xác định được tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa - Đánh giá được tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ. Yêu cầu - Theo dõi thu thập đầy dủ và chính xác các số liệu liên quan đến khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại cơ sở - Tuân thủ quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh tại cơ sở. 2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM VÀ MỘT SỐ TÍNH NĂNG SẢN XUẤT CỦA GIỐNG LỢN NGHIÊN CỨU 2.
Dòng lợn đực GF337,GF399 a. Đực GF337 Dòng đực GF337 thuộc giống nội bộ của công ty Cổ phần Greenfeed Việt Nam. Lợn toàn thân có lông rậm, đầu to vừa phải, mõm dài, tai to và dài, cụp, cổ nhỏ và dài, mình dài, vai- lưng-mông – đùi rất phát triển. Bốn móng ở mỗi chân màu hồng.
Trọng lượng trưởng thành con đực trên 300 kg/con , tỷ lệ nạc cao 65%, khả năng tăng trọng nhanh 750-800 g/ngày.Dòng đực chuẩn cho hiệu quả kinh tế cao với chi phí thấp và tỷ lệ đạt nạc cao, lợn con có tốc độ tăng trưởng cao và tiêu tốn thức ăn thấp. Nồng độ tinh trùng: 3 tỷ tinh trùng còn sống /liều, 100 tỷ tinh trùng/lần lấy tinh. Tần xuất lấy linh: 1. Đực GF399 Dòng đực GF399 cũng thuộc giống nội bộ của công ty Cổ phần Greenfeed Việt Nam.
Lợn có màu lông trắng loang đen hoặc trắng hoàn toàn. Trọng lượng trưởng thành con đực trên 300 kg/con, chuyển hóa thức ăn tốt. Nổi bật là khả năng tăng trưởng, sức đề kháng cao, tỉ lệ nạc cao, rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam. Dòng đực chuẩn cho hiệu quả kinh tế cao với chi phí thấp và tỷ lệ đạt nạc cao, lợn con có tốc độ tăng trưởng cao và tiêu tốn thức ăn thấp.
Tỷ lệ đực: 1:150 với trại mới. Nồng độ tinh trùng: 3 tỷ tinh trùng còn sống /liều, 100 tỷ tinh trùng/lần lấy tinh. Tần xuất lấy linh: 1. Giống lợn nái GF24 Dòng nái GF24 được lai tạo bởi đực dòng GP1040 và nái GP1050 thuộc giống nội bộ của công ty.
Với thế mạnh về công nghệ đánh dấu gen và hệ thống dữ liệu toàn cầu về năng suất sinh sản PICtraq, giống lợn hậu bị GF24 (Camborough®48) của GREENFEED được cải tiến di truyền liên tục 1% đến 3% hàng năm, góp phần nâng cao năng suất vật nuôi. Lợn có lông màu trắng, màu cơ thể hơi hồng, tai cụp, mõm dài, cổ ngắn, mông đùi phát triển. Theo một số nghiên cứu cho thấy các tính trạng về đặc điểm sinh lý , phân bố thời gian đẻ và năng suất sinh sản của lợn nái được theo dõi trực tiếp trên đàn lợn nái hậu bị và nái sinh sản. Kết quả nghiên cứu cho thấy lợn nái GF24 có khả năng sinh sản tốt, đặc biệt là tính trạng về số con với số lợn con sơ sinh, số con sơ sinh sống và số con cai sữa/lứa lần lượt đạt 12,8; 12,5 và 12,1 con.
Tuổi động dục lần đầu, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu lần lượt là 157,1; 229,8 và 353,7 ngày. Chu kỳ động dục của lợn nái GF24 là 21,6 ngày với thời gian động dục kéo dài 7,4 ngày và thời gian từ biểu hiện động dục đến chịu đực là 66,8 giờ, thời gian kéo dài chịu đực là 54,4 giờ. Thời điểm bắt đầu đẻ của lợn nái GF24 tập trung chủ yếu vào ban ngày (chiếm 61,3%). Thời gian đẻ từ con đầu đến con cuối và thời gian ra nhau của lợn nái GF24 lần lượt là 254,7 và 116,3 phút.
ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH DỤC CỦA LỢN NÁI 2. Sự thành thục về tính Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. Tuy nhiên lần động dục này chỉ là báo hiệu cho khả năng có thể sinh sản của lợn cái. Biểu hiện của lợn cái khi thành thục về tính: + Cơ thể đã phát tiển đầy đủ, bộ máy sinh dục tương đối hoàn thiện, con cái xuất hiện chu kỳ động dục lần đầu, con đực sinh tinh.
Lúc này, tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai. 4 + Xuất hiện các đặc điểm sinh dục thứ cấp: Bẹ vú phát triển và lộ rõ hai hàng vú, âm hộ to lên hồng hào. + Xuất hiện các phản xạ sinh dục: Lợn có biểu hiện nhảy lên nhau, con cái động dục, con đực có phản xạ giao phối. Một cơ thể thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể đã phát triển căn bản hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố, các kích thích bên ngoài (nhiệt độ, ánh sáng, mùi.) con vật xuất hiện các hiện tượng hưng phấn sinh dục.
Sự thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào một số yếu tố sau: - Giống lợn: các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính khác nhau. Các giống lợn nội thành thục về tính sớm hơn so với lợn ngoại.Lợn nội thường thành thục về tính vào 4-5 tháng tuổi còn lợn ngoại và lợn lai thời gian thành thục về tính vào khoảng 6-7 tháng tuổi. - Chế độ dinh dưỡng, chăm sóc và quản lý: trong cùng một giống nếu những cá thể được nuôi dưỡng chăm sóc, quản lý tốt thì tuổi thành thục sớm hơn và ngược lại những cá thể được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý không tốt thì sẽ thành thục về tính muộn hơn. - Điều kiện ngoại cảnh: khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến sự thành thục của lợn nái.
Những giống lợn nuôi ở vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu lạnh. Việc chăn thả chung giữa gia súc đực và gia súc cái cũng làm cho gia súc cái thành thục sớm hơn. Đối với lợn cái hậu bị nếu như nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu chậm hơn nuôi chăn thả. Vì lợn nuôi chăn thả sẽ có thời gian trao đổi, tổng hợp các chất, có dịp được tiếp xúc với lợn đực nên sẽ có tuổi động dục lần đầu sớm hơn.
Sự thành thục về thể vóc Thành thục về thể vóc là tuổi mà khi đó toàn bộ cơ quan, bộ phận cơ thể đã phát triển hoàn thiện. Khi đó ngoại hình và thể vóc của con vật đạt tới mức hoàn chỉnh, xương đã cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định. Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn tuổi thành thục về tính. 5 Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt.
Vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ vẫn chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém. Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ. Điều này làm ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này. Do đó không nên cho phối giống quá sớm.
Đối với lợn cái nội khi được 7 – 8 tháng tuổi, khối lượng đạt 40 – 50 kg mới cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 – 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 – 110 kg mới nên cho phối. Khi lợn cái đã thành thục đầy đủ về tính đồng thời với sự thành thục về thể vóc ở mức độ nhất định, đây là lúc phối giống thích hợp nhất.