ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi lợn của nước ta đóng vai trò quan trọng trong ngành chăn nuôi nói riêng và nền kinh tế nói chung. Sản phẩm chăn nuôi từ lợn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm của ngành chăn nuôi. Không những đáp ứng được nhu cầu thịt của thị trường trong nước mà còn là một trong những mặt hàng xuất khẩu mang lại nhiều lợn nhuận cho người chăn nuôi. Theo kết quả điều tra chăn nuôi tại thời điểm 01/09/2018 đàn lợn trên cả nước có 27,8 triệu con, tăng 4,2% (Tổng cục thống kê, 2018).
Để chăn nuôi lợn đạt hiệu quả cao, trong chăn nuôi lợn ngoài những yếu tố về thức ăn, chuồng trại, kỹ thuật chăn nuôi…thì một trong những yếu tố hết sức quan trọng cần được bảo đảm là phải có đàn giống tốt. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay đang chuyển dần từ chăn nuôi thủ công sang chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp. Để nâng cao hiệu quả sản xuất trong chăn nuôi, chất lượng con giống là tiền đề quan trọng, vì vậy chất lượng của đàn nái sinh sản có ảnh hưởng đến năng suất, quyết định đến số lượng con giống sản xuất. Hiện nay giống lợn Landrace và Yorkshire đóng vai trò chủ yếu trong khâu sản xuất lợn nuôi thịt ở nước ta.
Việc đánh giá năng xuất sinh sản là vấn đề cấp thiết đối với người làm công tác chọn giống và nhân giống vật nuôi. Bên cạnh những tiến bộ đã đạt được thì còn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là về kỹ thuật, tình hình dịch bệnh của đàn lợn nái. Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, nhằm nâng cao kiến thức cũng như góp phần đẩy mạnh công tác chăn nuôi lợn, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:“Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái F1( Landrace x Yorkshire) phối với lợn đực Duroc tại (Khu A) trang trại lợn công ty TNHH MML FARM S2 Xã Hạ Sơn, Huyện Quỳ Hợp, Tỉnh Nghệ An’’. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU NGHIÊN CỨU 2.
Mục đích - Đánh giá được khả năng sinh sản của lợn nái F1 (Landrace x Yorkshire) khi phối với lợn đực Duroc. - Xác định lượng thức ăn tiêu tốn cho 1 kg lợn con cai sữa. - Khảo sát được tình hình dịch bệnh trên đàn lợn tại trại. Yêu cầu của đề tài - Thu thập đầy đủ và chính xác các số liệu.
- Nắm được quy trình nuôi dưỡng chăm sóc và phòng bệnh cho đàn lợn tại trại. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Những số liệu này có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu về lĩnh vực chăn nuôi lợn. - Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả theo dõi là cơ sở đánh giá đúng thực trạng của đàn lợn tại trại, từ đó có định hướng đúng đắn trong việc xác định công thức lai phù hợp tại trại và phát triển rộng tại Nghệ An. 2 PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC GIỐNG LỢN 1.1 Giống lợn Landrace Nguồn gốc: Giống lợn Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch, được nuôi phổ biến ở các nước châu Âu từ năm 1990. Năm 1970, giống lợn này được nhập vào Việt Nam qua Cuba. Giống lợn Landrace được chọn là một trong những giống tốt để thực hiện chương trình nạc hóa đàn lợn Việt Nam. Đặc điểm ngoại hình: Lợn có lông, da trắng tuyền, tai to mềm, cụp che lấp mặt, đầu dài, thanh.
Thân dài, mông nở, mình thon, trông ngang giống hình cái nêm hoặc quả thủy lôi. Lưng hơi vồng lên, mặt lưng phẳng. Lợn Landrace có 12 – 14 vú, 4 chân hơi yếu. Khả năng sinh trưởng: Giống lợn Landrace có khả năng thích nghi cao, khả năng sinh trưởng tốt.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) giống lợn Landrace là giống lợn có năng suất cao. Tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng từ 2,7 – 3,01 kg. Tăng khối lượng bình quân/ngày từ 700 – 800 g, tỷ lệ thịt nạc đạt từ 55 – 56%. Khi trưởng thành con đực nặng 300 – 320 kg, con cái nặng 220 – 250 kg (Vũ Đình Tôn, 2009).
Khả năng sinh sản: Lợn Landrace có khả năng sinh sản tốt và khả năng nuôi con khéo. Theo Vũ Đình Tôn (2009), lợn Landrace có tuổi phối giống lần đầu 310 ngày, số con đẻ ra trên lứa từ 9 – 11 con, khối lượng sơ sinh từ 1,3 – 1,4 kg/con, khối lượng lúc 70 ngày tuổi đạt 16 – 18 kg/con. Lợn đực có thể đưa vào sử dụng lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh dịch khai thác đạt 270 ml/lần. Khả năng thích nghi: Thích nghi kém hơn Yorkshire, thích nghi kém trong điều kiện nóng bức, dễ bị stress.
Giống lợn Yorkshire (Đại Bạch – Yorkshire Large White) Nguồn gốc: Giống lợn Yorkshire có nguồn gốc từ vùng Yorkshire của nước Anh vào thế kỉ XIX. Lợn Yorkshire được nhập vào Việt Nam từ Liên Xô cũ năm 1964, tới năm 1978 được nhập về từ Cu Ba, sau này được nhập từ một số quốc gia khác như Anh, Pháp, Nhật Bản, Mỹ. Đặc điểm ngoại hình: Giống lợn này có toàn thân màu trắng, hơi có ánh vàng, mặt hơi thô, mõm hơi cong lên, tai to vừa phải và dựng đứng (Vũ Đình Tôn, 2009). Khả năng sinh trưởng: Lợn Yorkshire có tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng thích nghi rộng rãi.
Lợn có khối lượng lớn, con đực trưởng thành nặng từ 350 – 380 kg, dài thân 170 – 185 cm. Con cái trưởng thành nặng từ 250 – 280 kg, khối lượng lúc 60 ngày tuổi đạt 16 – 20 kg/con (Võ Trọng Hốt và cs, 2000). Lợn vỗ béo đạt 100 kg lúc khoảng 5 – 6 tháng tuổi. Lợn Yorkshire cho tỷ lệ nạc đạt 52 – 55 % theo trích dẫn của Vũ Đình Tôn (2009).
Khả năng sinh sản: Lợn cái thành thục về tính lúc 6 tháng tuổi và có thể phối giống lần đầu vào khoảng 240 – 206 ngày, số con đẻ ra trên lứa cao từ 11 – 13 con, số lứa/nái/năm là 2,0 – 2,2. Khối lượng sơ sinh/con dao động từ 1,3 – 1,4 kg/con. Lợn đực khai thác tinh lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh trung bình khai thác được là 232 ml/lần (Vũ Đình Tôn, 2009). Khả năng thích nghi: Thích nghi cao, chịu kham khổ, ít bị stress.
Đặc điểm của lợn lai F1 (Landrace x Yorkshire) Đây là con lai giữa đực Landrace với cái Yorkshire. Trong đó con bố được chọn theo hướng tăng trọng và tỉ lệ nạc cao, con mẹ được chọn theo hướng sinh sản tốt. Đặc điểm ngoại hình: Toàn thân to, tai to bình thường hơi nghiêng (không sụp xuống mặt, cũng không dựng đứng) có thân hình dài đòn, chân cao vừa vững chắc, mông vai nở vừa, dáng làm mẹ tốt, bầu vú phát triển tốt và có số vú lớn hơn 13 núm, nuôi con khéo. 4 Khả năng sinh trưởng, sinh sản: Nhóm nái lai LxY nâng cao được số con sơ sinh sống/ổ: 0,24 – 0,62 con/ổ; nâng cao được khối lượng cai sữa từ 0,65 – 3,29 kg/ổ.
Tuổi đẻ lứa đầu sớm hơn từ 4 – 11 ngày; giảm được số ngày lên giống lại sau cai sữa từ 0,25 – 2,42 ngày; khối lượng lợn con cai sữa tăng từ 0,65 – 3,29 kg/ổ (Nguyễn Thị Viễn và cs, 2005). Ưu thế lai về tính trạng sinh sản của nhóm nái lai LY/YL đạt được từ 0,99 – 7,11 % và tính trạng tăng trọng g/ngày giai đoạn từ 90 – 150 ngày tuổi (kiểm tra năng suất cá thể) đã cải thiện được từ 2,03 – 3,48%. Do vậy công thức lai này được sử dụng rộng rãi, nhằm nâng cao kinh tế, chất lượng thương phẩm. Giống lợn Duroc Nguồn gốc: Lợn Duroc có nguồn gốc từ miền Đông nước Mỹ và vùng Corn Belt.
Dòng Duroc được tạo ra ở vùng New York năm 1823, bởi Isaac Frink. Giống Duroc-Jersey có nguồn của hai dòng khác biệt Jersey đỏ của New Jersey và Duroc của New York. Còn dòng Jersey đỏ được tạo ra vào năm 1850 vùng New Jersey bởi Clark Pettit. Chủ yếu được nuôi ở vùng New Jersey và vùng New York, nước Mỹ.
Đặc điểm ngoại hình: Lợn toàn thân có lông màu hung đỏ hoặc nâu đỏ, đầu to vừa phải, mõm dài, tai to và dài, cổ nhỏ và dài, mình dài, vai – lưng – mông – đùi rất phát triển. Lợn thuần chủng có màu sắc lông đỏ nâu, bốn móng ở mỗi chân màu đen tuyền, khi lai lông có màu vàng nhạt và xuất hiện đốm đen. Đặc điểm sinh trưởng: Giống Duroc là giống tiêu biểu hướng nạc. Trọng lượng trưởng thành của con đực trên 300 kg/con, con cái 200 – 300 kg/con, tỷ lệ nạc cao.
Chúng là giống lợn cho nhiều nạc, mỡ lưng mỏng (10 – 12 mm), nạc có sớ cơ dai, ít vân mỡ nên thịt không mềm, không ngon lắm. Lợn tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức 5 ăn thấp, có khả năng tăng trọngtừ 750 – 800 g/ngày, 6 tháng tuổi lợn thịt có thể đạt 105 – 125 kg. Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2010) cho biết khả năng tăng khối lượng trung bình trong thời gian 60 – 165 ngày tuổi của các tổ hợp nái lai F1(LxY), F1(YxL) phối với lợn đực Duroc và lợn đực L19 (đực VCN03) đạt từ 680 – 702 g/ngày và cùng trên tổ hợp lai giữa lợn đực Duroc, lợn đực L19 với nái F1(LxY) và F1(YxL) tác giả Phan Văn Hùng và Đặng Vũ Bình (2008) cho biết tỉ lệ móc hàm là 75,33 – 75,94%, tỉ lệ thịt xẻ 68,57 – 69,64%, tỉ lệ nạc là 57,21 – 58,87%, dài thân thịt là 87,38 – 90,64%. Đặc điểm sinh sản: Duroc có khả năng sinh sản tương đối cao.
Trung bình đạt 1,7 – 1,8 lứa/năm. Mỗi lứa đẻ từ 9 – 10 con, lợn con trung bình đạt 1,2 – 1,3 kg, khối lượng cai sữa đạt 12 – 15 kg. Sức tiết sữa của lợn đạt 5 – 8 kg/ngày. Khả năng sinh trưởng của lợn tốt.
Tuy nhiên, khả năng sing sản của nái không cao, đẻ khoảng 7 – 9 con/lứa, con kém, nhu cầu dinh dưỡng cao, sức kháng bệnh kém. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH DỤC CỦA LỢN NÁI Sinh lý sinh dục của lợn mang tính đặc trưng cho loài, duy trì qua các thế hệ và luôn được củng cố, hoàn thiện thông qua các quá trình chọn lọc. Ngoài ra còn chịu sự chi phối của điều kiện ngoại cảnh, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Sự thành thục về tính Sự thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản.
Gia súc ở tuổi thành thục về tính có biểu hiện như: - Bộ máy sinh dục phát triển tương đối hoàn thiện: con cái rụng trứng lần đầu, con đực sinh tinh và có biểu hiện giao phối lần đầu. Trứng và tinh trùng gặp nhau có khả năng thụ thai.