CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẶC ĐIỂM GIỐNG LỢN 1.1 Giống lợn Duroc Nguồn gốc: lợn Duroc có nguồn gốc miền Đông, nước Mỹ và vùng Corn Belt. Dòng Duroc được tạo ra ở vùng New York năm 1823. Giống lợn này đã được nhập vào nước ta vào khoảng năm 1956 ở miền Nam, sau đó đến năm 1975 lợn được nhập vào nước ta qua nhiều chương trình và các công ty chăn nuôi.
Đặc điểm: Màu hung đỏ, toàn thân ngoại hình cân đối, thể chất vững chắc, tai to ngắn cụp che mắt, 4 mũi chân và mõm đen, tầm vóc vừa phải. Đực giống trưởng thành có khối lượng 250-280 kg, nái 200-230 kg, thích ứng chịu đựng cao với điều kiện khí hậu, ít nhạy cảm với stress. Khả năng sinh sản vừa phải, số con bình quân mỗi lứa 9,3 con. Lợn nuôi thịt có khả năng tăng trọng nhanh.
Nuôi 172 ngày có thể đạt 100 kg và cho tỉ lệ nạc cao (Vũ Đình Tôn và cộng sự.2 Giống lợn Landrace Nguồn gốc: Xuất xứ từ Đan Mạch, lợn Landrace được nhập về Việt Nam vào khoảng những năm 1970 từ Trung Quốc, CuBa, sau này nhập từ Bỉ, Nhật Bản, Thái Lan. Đặc điểm: Tai to cụp rủ về phía trước, mình tròn lằn, hình nên, ngực và bụng gọn,4 chân thon chắc, mông nở - đầy, thân hình nhọn về phía trước càng về phía sau càng phát triển. Khả năng thích nghi: Thích nghi kém hơn Yorkshire, thích nghi kém trong điều kiện nóng bức, dễ bị stress. Khả năng sinh sản: 10-12 con/lứa, 2,2 4 lứa/năm, nuôi con khá.
Khả năng sinh trưởng: Khối lượng sơ sinh 1,2-1,4 kg, khối lượng 5-6 tháng khoảng: 90 kg, khối lượng trưởng thành 200-230 kg và 270-300 kg, phẩm chất thịt cao (56% nạc), tiêu tốn thức ăn: 2,7 kg TĂ/kg tăng trọng (Lê Hồng Mận, 2002).3 Giống lợn Yorkshire Nguồn gốc: Lợn xuất xứ từ vùng Yorkshire Vương Quốc Anh Đặc điểm: Tầm vóc lớn, mình dày, lông và da trắng tuyền, tai to-đứng. Khả năng thích nghi: Thích nghi cao, chịu kham khổ, ít bị stress. Khả năng sinh sản: 10-13con/ổ, khả năng nuôi thai, nuôi con khéo, đẻ dai. Khả năng sinh trưởng: cao, khối lượng sơ sinh 1,2-1,3 kg, khối lượng 5-6 tháng 100 kg, chất lượng thịt 53% nạc.
Tiêu tốn thức ăn: 2,5-3,2 kg TĂ/kg tăng trọng. Lợn Yorkshire thành thục sớm, sinh trưởng nhanh, khối lượng lợn cái trưởng thành 250-280 kg, khối lượng lợn đực trưởng thành 350- 380 kg, 12-14 núm vú (Lê Hồng Mận, 2002). ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ, SINH DỤC CỦA LỢN NÁI 1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc + Sự thành thục về tính: -Tuổi thành thục về tính: là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. Sự thành thục về tính được biểu hiện như sau: + Bộ máy sinh dục đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, con đực sinh tinh, con cái có trứng rụng lần đầu, trứng và tinh trùng gặp nhau có khả năng thụ thai.
+ Xuất hiện các phản xạ sinh dục: con cái có biểu hiện động dục, con đực có phản xạ giao phối. + Các đặc điểm sinh dục thứ cấp xuất hiện. 5 -Các yếu tố ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính: +Giống: giống khác nhau thì thời gian thành thục về tính khác nhau: Ở lợn nội như lợn Ỉ, Móng cái. thường là 4-5 tháng tuổi (120-150 ngày tuổi) sớm hơn so với lợn ngoại thường là 6-7 tháng tuổi.
+ Chế độ dinh dưỡng: có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái. Nguyễn Tấn Anh (1998) cho biết, để duy trì năng suất sinh sản cao thì nhu cầu dinh dưỡng đối với lợn cái hậu bị cần lưu ý đến cách thức nuôi dưỡng. Cho ăn tự do đến khi đạt khối lượng 80 – 90 kg, sau đó cho ăn hạn chế đến lúc phối giống (chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3) 2kg/ ngày (khẩu phần 14% protein thô). Điều chỉnh mức ăn để khối lượng đạt 120 – 140 kg ở chu kì động dục thứ 3 và được phối giống.
Trước khi phối giống 14 ngày cho ăn theo chế độ Flushing, tăng lượng thức ăn từ 1 – 2,5 kg, có bổ sung khoáng thì sẽ giúp cho lợn nái ăn được nhiều hơn và tăng số trứng rụng 2 – 2,1 trứng/nái/lần động dục. + Mùa vụ: mùa vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn nái. Mùa vụ có ảnh hưởng tới số con đẻ ra/ổ. Mùa hè có nhiệt độ cao là nguyên nhân làm kết quả sinh sản ở lợn nái nuôi chăn thả thấp, tỷ lệ chết ở đàn con cao.
Nhiệt độ cao làm lợn nái thu nhận thức ăn kém, tỷ lệ hao hụt lợn nái tăng cao Tỷ lệ thụ thai ảnh hưởng bởi nhiệt độ và mùa vụ. lợn nái phối giống vào các tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp, làm tăng số lần phối lại, giảm khả năng sinh sản từ 5-20%. Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ ảnh hưởng của stress nhiệt đến khả năng sinh sản của lợn nái. Nhiệt độ cao làm cho tỷ lệ loại thải nái cao (30-50%) và làm thiệt hại về kinh tế trong chăn nuôi nái sinh sản.
Ở các tháng nóng nhất trong năm (tháng 5-8), lợn nái có thể dễ không động dục. Các theo dõi cũng cho rằng nái phối giống vào mùa hè có số con đẻ ra/ổ ít hơn con so với nái phối vào mùa có nhiệt độ thấp hơn (Ian Gordon, 1997). 6 Các nhà chăn nuôi và nghiên cứu nhận thấy về mùa hè, nhiệt độ cao làm giảm tính nhạy cảm bình thường của chu kỳ động dục. Từ tháng 5 đến tháng 8 khoảng cách từ khi cai sữa đến động dục trở lại ở lợn nái tăng so với các tháng khác.
Stress nhiệt có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai tới 20%, giảm số phôi sống 20% và do đó làm giảm thành tích sinh sản của lợn nái. + Tuổi và lứa đẻ : Tuổi và lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới số lượng con đẻ ra/ổ. Số lượng trứng rụng thấp nhất ở chu kỳ động dục đầu tiên, tăng lên ở chu kỳ động dục thứ hai và tương đối cao ở lần động dục thứ ba. Số con đẻ ra tỷ lệ thuận với số lượng trứng rụng.
Lứa đẻ là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái, vì có sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái. Khả năng sinh sản của lợn nái thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, cải thiện hơn ở lứa thứ hai, đạt cao nhất ở lứa thứ ba, bốn, và năm, sau đó ổn định hoặc giảm dần dần khi tuổi của lợn nái ngày càng tăng lên. Theo Anderson và Melammy (1972) cho biết số con đẻ ra/ổ tăng từ lứa thứ nhất tới lứa thứ bốn, ổn định tới lứa thứ tám. Sau lứa thứ tám số lượng lợn con sơ sinh bị chết tăng lên.
Số con đẻ ra/ổ có quan hệ chặt chẽ với tuổi của lợn nái và giảm nhanh sau tuổi 4-5. Lợn đẻ lứa đầu thường có số con đẻ ra và khối lượng sơ sinh nhỏ hơn các lứa sau. + Số lần phối và phương thức phối : Số lần phối trong thời gian động dục của lợn nái ảnh hưởng tới số con đẻ ra/ổ. Nếu phối đơn trong một chu kỳ động dục vào lúc động dục cao nhất có thể đạt được số con đẻ ra/ổ cao, nhưng phối kép (phối hơn 2 lần) lần sẽ làm tăng số con đẻ ra/ổ.
Phối nhiều lần cho nái động dục bằng những con đực khác nhau có thể tăng số con/ổ và khối lượng sơ sinh/con Tilton và Cole (1982) khi phối giống cho lợn nái trực tiếp 3 lần, mỗi lần cách nhau 24h tăng 1,3 con/ổ so với phối 2 lần. Phối giống nhân tạo tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra/ổ thấp hơn từ 0-10% so với phối giống trực tiếp. Kết hợp phối tinh nhân tạo và nhảy phối trực tiếp làm tăng 0,5(con/ổ) so với phối riêng rẽ. 7 + Thời gian cai sữa : Thời gian bú sữa kéo dài, lợn nái sẽ có số con còn sống tới cai sữa cao, thời gian động dục ngắn, khoảng các từ khi đẻ tới phối giống lại dài, khoảng cách giữa hai lứa đẻ dài.
Phối giống sớm sau khi đẻ số con đẻ ra/ổ thấp hơn so với phối giống muộn. Theo Ian Gordon (2004) giảm thời gian cai sữa từ 15 ngày xuống còn 10 ngày làm giảm trên 0,2 con/ổ. Lợn nái cai sữa ở 28-35 ngày sau khi đẻ, thời gian động dục 4-5 ngày có thể phối giống và có thành tích sinh sản tốt. Lợn nái phối giống sau khi cai sữa sớm có số lượng trứng rụng thấp (15,9 so với 24,6) và phôi ở ngày chửa 11 ít hơn.
Lợn nái cai sữa sớm có tỷ lệ thụ thai thấp, số phôi sống ít và thời gian động dục trở lại dài (Ian Gordon, 1997). Thời gian thành thục về tính thường sớm hơn thời gian thành thục về thể vóc. Khi thành thục về tính lần đầu, khối lượng của lợn rất nhỏ nên chưa thể cho phối giống được. Chúng ta cần bỏ qua 1-2 lần động dục đầu hoặc nhiều hơn rồi mới cho phối để cho lợn tương đối thành thục về thể vóc.
+ Sự thành thục về thể vóc Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi mà con vật đã hoàn thiện bộ máy sinh sản, cơ thể đạt khối lượng nhất định và có thể sinh sản mà sự đẻ xảy ra an toàn. Khi gia súc thành thục về thể vóc thì mới tiến hành cho giao phối. Biểu hiện của sự thành thục về thể vóc đó là: - Bộ máy sinh dục được phát triển hoàn thiện, sẵn sàng cho quá trình mang thai và sinh sản. - Khung xương phát triển hoàn toàn, ở con cái đặc biệt phát triển về xương chậu (khung xương chậu to và rộng hơn).
- Các đặc điểm sinh dục thứ cấp được hoàn thiện. 8 Thông thường lợn cái sau hai đến ba chu kì động dục thì sẽ thành thục về thể vóc, nên người ta thường phối giống vào lần động dục thứ hai hoặc thứ ba tùy từng cá thể lợn cái, để đảm bảo an toàn và đảm bảo cho khả năng sản xuất của nái.2 Chu kì tính Là một quá trình sinh lý phức tạp của cơ thể cái, sau khi cơ thể phát triển hoàn toàn và cơ quan sinh dục không có quá trình bệnh lý thì trong buồng trứng có quá trình noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng. Song song với quá trình thải trứng của cơ thể nói chung và đặc biệt là cơ quan sinh dục phát sinh hàng loạt các biến đổi và sự biến đổi đó lặp đi lặp lại có tính chất chu kì nên gọi là chu kì tính. Chu kì tính được bắt đầu từ khi cơ thể cái đã thành thục thải trứng trước đến lần thải trứng sau gọi là một chu kì.