ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành chăn nuôi lợn đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống chăn nuôi của Việt Nam cũng như trên thế giới. Lợn là loài gia súc được nuôi nhiều và cung cấp thực phẩm lớn nhất cho con người ở Việt Nam. Thịt lợn là một trong những nguồn cung cấp protein chính cho mỗi bữa ăn của gia đình. Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức khi dịch tả lợn châu Phi đã xâm nhập vào Việt Nam.
Diễn biến phức tạp của dịch bệnh đã ảnh hưởng nhiều đến thị trường tiêu thụ sản phẩm thịt lợn. Nhằm đáp ứng nhu cầu đó người chăn nuôi lợn chủ yếu tập trung vào nhập và nuôi một số giống lợn ngoại (Landrace của Đan Mạch, Yorkshire của Anh, Duroc của Bắc Mỹ, …), lai tạo để cải thiện đàn lợn có ưu thế lai cao, tăng trọng nhanh, tỷ lệ nạc cao và có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu của nước ta. Để đạt được năng suất tốt trong chăn nuôi lợn chúng ta cần chú trọng đến các giai đoạn của lợn như: lợn nái mang thai, lợn nái nuôi con, lợn con tập ăn,. Trong các giai đoạn trên lợn con chịu ảnh hưởng rất lớn từ yếu tố di truyền, thức ăn,… phương pháp nuôi dưỡng, từ đó ảnh hưởng tới năng suất chăn nuôi.
Đứng trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện, tăng nhanh tổng sản lượng và nâng cao chất lượng thịt thì việc xác định cặp lai phù hợp với điều kiện sản xuất của các trang trại chăn nuôi ở địa phương là rất cần thiết. 1 Để nâng cao năng suất cũng như chất lượng sản phẩm vật nuôi, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi thì bắt đầu ngay từ khâu chọn giống, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho vật nuôi,… đều hết sức quan trọng. Xuất phát từ thực tế đó, để ngành chăn nuôi lợn phát triển bền vững chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái lai F1 (Landrace x Yorkshire) phối với lợn đực Duroc và khả năng sinh trưởng của lợn con theo mẹ nuôi ở chuồng đẻ 1 và 2 tại trại Bình Thuận – Đại Từ - Thái Nguyên”. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 1.
Mục đích - Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục, năng suất sinh sản của nái giai đoạn nuôi con (Du x LY). - Xác định được tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa của nái F1 (Landrace x Yorkshire). - Đánh giá khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con lai giai đoạn 7 – 24 ngày tuổi. - Đánh giá tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ tại trại.
Yêu cầu - Nắm được một số chỉ tiêu sinh lý, sinh dục và năng suất sinh sản của lợn nái. - Nắm được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái và lợn con. - Theo dõi, ghi chép số liệu đầy đủ, đảm bảo tính khách quan, trung thực. 2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG LỢN 2. Giống lợn Landrace * Nguồn gốc Lợn có nguồn gốc từ Đan Mạch, được tạo ra từ sự lai tạo giữa hai giống lợn Youland nguồn gốc từ Đức với lợn Yorkshire nguồn gốc từ Anh (Vũ Đình Tôn, 2009). Giống lợn này chủ yếu được nuôi nhiều ở Đan Mạch. Sau 1990, lợn được chọn lọc và có năng suất cao và được nuôi ở nhiều nước châu Âu.
Việt Nam nhập vào giống Landrace khoảng những năm 1970 từ Trung Quốc, Cu Ba. * Đặc điểm ngoại hình Đặc điểm ngoại hình của lợn Landrace rất vượt trội, với các đặc điểm như: Toàn thân lợn có màu trắng tuyền, đầu nhỏ và dài. Lợn Landrace có tai to rủ xuống kín mặt, tai cụp hẳn về phía trước. Cổ nhỏ và dài, các bộ phận như vai – lưng, mông và đùi rất phát triển, mông đùi to, mõm thẳng và mông nở.
Lợn Landrace có từ 12 - 14 vú, 4 chân hơi yếu (Lê Hồng Mận 2006; Trần Văn Tùng và Cs 2004). Dòng đực Landrace có phần mông đặc biệt, cho nhiều nạc hơn giống Yorkshire. Nái Landrace mắn đẻ, đẻ nhiều, khả năng làm mẹ tốt, ngoại hình đẹp, tăng trọng nhanh. Lợn nái Landrace * Đặc điểm sinh trưởng Giống lợn Landrace là giống lợn có năng suất cao, tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng thấp từ 2,7 - 3,0kg.
Tăng khối lượng bình quân/ngày từ 700 - 800g, tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ từ 58 - 60%. Khi trưởng thành con đực nặng khoảng 280 - 320 kg/con, con cái nặng khoảng 220 - 250 kg/con (Trần Văn Phùng và Cs, 2005). * Khả năng sinh sản Theo Vũ Đình Tôn (2009), lợn Landrace có tuổi phối giống lần đầu 310 ngày, số con đẻ ra trên lứa từ 9 - 11 con, khối lượng sơ sinh từ 1.4kg/con, khối lượng lúc 70 ngày tuổi đạt 16 - 18kg/con, khối lượng cái trưởng thành 220 - 250kg. Lợn đực có thể đưa vào khai thác tinh lúc 8 tháng tuổi và lượng tinh dịch khai thác đạt 270ml/lần.
Khối lượng lợn đực trưởng thành 300 - 320kg. Giống lợn Yorkshire * Nguồn gốc Giống Yorkshire có nguồn gốc từ Anh. Đây là giống lợn được nuôi rộng rãi nhất trên thế giới bởi khả năng thích nghi cũng như khả năng sinh sản cao. Giống Yorkshire được nhập về Việt Nam từ Liên Xô cũ (1964), Cuba (1978), Anh, Canada,….
* Đặc điểm ngoại hình Đây là một trong những giống lợn có ngoại hình đẹp, da màu trắng tuyền, mình dài, đầu nhỏ, ngực nở, mông tròn, mũi gãy, mõm bẹ, tai to hướng về phía trước, thân hình chắc khỏe, bụng gọn. Kết cấu cơ thể vững chắc, bốn chân khỏe mạnh, lưng và hông rộng và vai đầy đặn. Lợn nái Yorkshire * Đặc điểm sinh trưởng Lợn có tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng thích nghi tốt. Lợn có khối lượng lớn, con đực trưởng thành có khối lượng 350 – 380 kg, thân dài 170 – 185 cm.
Con cái trưởng thành nặng 250 – 280 kg, có khối lượng lúc 5 60 ngày tuổi đạt 16 – 20 kg. Lợn vỗ béo đạt 100kg lúc 5 – 6 tháng tuổi. Lợn cho tỷ lệ nạc cao đạt 52 – 55% (Vũ Đình Tôn, 2009). * Khả năng sinh sản Theo Vũ Đình Tôn (2009) lợn nái thành thục về tính lúc 6 tháng tuổi và có thể phối giống lần đầu khoảng 240 – 260 ngày, số con đẻ ra trên lứa cao từ 11 – 13 con, số lứa/nái/năm là 2,0 – 2,2.
Khối lượng sơ sinh/con từ 1,3 – 1,4 kg/con, khối lượng 60 ngày tuổi từ 16 – 18 kg/con. Giống lợn Duroc * Nguồn gốc Duroc có nguồn gốc từ Hoa Kỳ và Canada. Nhưng hiện nay đã hiện diện khắp nơi trên thế giới vì chúng cho năng suất cao và tỷ lệ nạc khá lớn, ít mỡ. Lợn Duroc được coi là giống lợn tốt trên thế giới hiện nay và được nuôi rất phổ biến ở nhiều nơi, đặc biệt nuôi theo hướng nạc.
Tuy nhiên, nuôi Lợn Duroc cần có chế độ dinh dưỡng cao và chăm sóc tốt mới đạt được kết quả tốt nhất. Lợn Duroc được nhập vào miền nam Việt Nam và năm 1976 được đưa ra miền Bắc nuôi tại trại của trường Đại học Nông nghiệp I (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam). Năm 1978, Việt Nam nhập lợn Duroc từ Cu Ba nuôi tại Viện Chăn nuôi. * Đặc điểm ngoại hình Giống lợn Duroc có lông màu hung đỏ hoặc nâu đỏ (do đó thường gọi heo bò), đầu to vừa phải, mõm dài, tai to và dài, cổ nhỏ và dài, mình dài, vai-lưng-mông-đùi rất phát triển.
Bốn chân và mõm đen, chân to khỏe, thân hình ngắn, thể chất vững chắc, đầu to, mắt lanh lợi, mông vai nở. Giống Duroc là giống tiêu biểu cho hướng nạc, có tầm vóc trung bình. 6 * Khả năng sinh trưởng Lợn có tốc độ sinh trưởng khá cao, tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ nạc cao và chất lượng thịt tốt có khả năng tăng trọng đạt 785 g/con/ngày. Ở 172 ngày, khối lượng có thể đạt 100kg, tỉ lệ nạc từ 56 - 58%.
Thịt lợn Duroc được đánh giá thơm ngon do có tỉ lệ mỡ dắt cao khoảng 4%. Lợn Duroc có sức chống chịu với nắng nóng tốt và thích nghi cao, ít nhạy cảm với stress. Đực giống trưởng thành có khối lượng từ 250 – 280kg, nái trưởng thành từ 200 – 230kg (Vũ Đình Tôn, 2009). * Khả năng sinh sản Đây là giống lợn có khả năng sinh sản kém, trung bình đạt 1,7 – 1,8 lứa/năm, mỗi lứa đẻ 6 – 9 con/lứa và nuôi con kém.
Giống này chủ yếu được sử dụng nhân giống thuần chủng để bảo tồn nguồn gen, lai kinh tế cải thiện giống lợn trong nước, làm dòng đực lai hai, ba, bốn máu tạo con lai thương phẩm. CƠ SỞ SINH SẢN SINH LÝ CỦA LỢN NÁI 2. Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái * Sự thành thục về tính và thể vóc - Sự thành thục về tính Một cơ thể thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể đã phát triển căn bản hoàn thiện. Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố, các kích thích bên ngoài (nhiệt độ, ánh sáng, mùi,.) con vật xuất hiện các phản xạ về sinh dục, khi đó trên buồng trứng có noãn chín, có trứng dụng và trứng có khả năng thụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ; biểu hiện ở bên ngoài của con vật là lông mượt, tai thính, thường xuyên chạy nhảy và nô đùa với con khác (Nguyễn Thị Thái, 2008).
7 - Sự thành thục về thể vóc Thành thục về thể vóc là tuổi mà khi đó toàn bộ cơ quan, bộ phận của cơ thể đã phát triển hoàn thiện. Khi đó ngoại hình và thể vóc của con vật đạt tới mức hoàn chỉnh, xương đã được cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định. Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn tuổi thành thục về tính. * Chu kì sinh dục của lợn nái Chu kỳ động dục của lợn nái được bắt đầu khi gia súc đã thành thục về tính, tiếp tục xuất hiện và chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể đã già yếu.
Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên tục và có tính chu kỳ. Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn dần, chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf. Khi nang Graaf vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng. Mỗi lần trứng rụng con cái có những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục.
Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005).