ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi là 1 trong những ngành kinh tế quan trọng của nước ta, góp phần cung cấp lượng lớn lương thực. Thịt lợn là loại thịt phổ biến không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài. Nhu cầu tiêu thụ thịt ở nước ta chiếm tới 73,3%, thịt gia cầm là 17,5% và 9,2% còn lại là thịt các loại. Nhờ có sự đóng góp to lớn của các nhà khoa học đã nghiên cứu và áp dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật trong công tác giống, kĩ thuật chăn nuôi, thú y, thức ăn cũng như cải tiến chế độ quản lý, tổ chức nên năng suất nuôi lợn ở nước ta trong thời gian qua không ngừng phát triển.
Tuy nhiên, trong những năm qua chăn nuôi lợn đã phải đối mặt với những khó khăn, đặc biệt là dịch tả châu phi, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, chưa có 1 loại thuốc nào có thể điều trị. Trước đây, nước ta chủ yếu nuôi các giống lợn nội như: lợn Ỉ, lợn Móng Cái, lợn Ba Xuyên. với hình thức và quy mô nông hộ nhỏ, lẻ. Lợn nội có năng suất thấp, chất lượng thịt chưa cao, tỷ lệ thịt xẻ thấp và khả năng TTTA cao.
Vì những lý do đó mà hiệu quả chăn nuôi chưa cao. Ngày nay, khi nền kinh tế đã và đang phát triển thì nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng tăng cao, thịt lợn phải có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, thịt lợn phải tươi ngon, màu thịt lợn đẹp. Từ đó, chiến lược chăn nuôi của Việt Nam trong thời gian tới là tăng số lượng đầu lợn, nâng cao năng suất sản xuất và chất lượng sản phẩm bằng cách tăng tỉ lệ máu ngoại cho đàn lợn nuôi trong nước. Thực hiện chiến lược chăn nuôi này, trong thời gian qua Nhà nước đã cho nhập hàng loạt các giống lợn ngoại có năng suất cao, ngoại hình đẹp, thích nghi tốt, nuôi con khéo.như Landrace, Yorkshire.
Qua nghiên cứu về công tác giống cho ra giống lợn 2 máu ( L x Y), 3 máu ( DYL). Các giống lợn 2 máu và 3 máu là những giống lợn có khả năng sản xuất và thích nghi với điều kiện chăn nuôi tốt, 1 cải thiện chất lượng đàn giống đồng thời thay đổi cơ cấu đàn lợn theo hướng chăn nuôi phát triển hơn. Việc nghiên cứu khả năng sản xuất của đàn lợn lai F1 ( L x Y) vẫn luôn cần thiết nhằm đưa ra kế hoạch sản xuất một cách hợp lý. Vì vậy, việc đánh giá khả năng sinh sản của tổ hợp lai này là rất cần thiết để đưa ra những khuyến cáo cho ngành chăn nuôi lợn trong tương lai.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn nái lai F1 ( L x Y) phối với đực Duroc nuôi tại trang trại xã Tiên Lục – Lạng Giang – Bắc Giang” 1.2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 1.1 Mục đích: - Đánh giá được một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục, chỉ tiêu năng suất sinh sản và lượng thức ăn thu nhận của đàn lợn nái (L x Y), giai đoạn mang thai và nuôi con. - Xác định được tiêu tốn thức ăn/ kg lợn con cai sữa 1.2 Yêu cầu: - Theo dõi, ghi chép số liệu đầy đủ, đảm bảo tính khách quan, trung thực - Nắm được một số các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và năng suất sinh sản của lợn nái - Nắm được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái, lợn con 2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của chăn nuôi lợn nái sinh sản 2.1 Sự thành thục về tính và thể vóc a. Sự thành thục về tính Một cơ thể thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể đã phát triển cơ bản hoàn thiện, dưới tác động của hệ thần kinh, nội tiết con vật xuất hiện các hiện tượng của sự hưng phấn sinh dục. Biểu hiện của sự thành thục về tính là: - Bộ máy sinh dục phát triển tương đối hoàn chỉnh, trứng bắt đầu rụng, các đặc tính sinh dục thứ cấp xuất hiện - Con vật xuất hiện các phản xạ sinh dục: con cái động dục, con đực có hiện tượng giao phối - Sự thành thục về tính phụ thuộc vào nhiều yếu tố và điều kiện khác nhau • Giống: Các giống khác nhau thường có tuổi thành thục về tính khác nhau.
Các giống lợn nội thường có tuổi thành thục về tính sớm hơn các giống lợn ngoại • Chế độ dinh dưỡng và quản lý: Với cùng 1 giống, các cá thể được nuôi dưỡng chăm sóc và quản lý tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn và ngược lại • Điều kiện ngoại cảnh: khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến sự thành thục về tính. Khí hậu nóng ẩm làm cho gia súc động dục sớm hơn. Do đó, ở những vùng nhiệt đới, gia súc thành thục về tính sớm hơn so với các vùng ôn đới và hàn đới. Điều kiện chăn thả chung gia súc đực với gia súc cái cũng làm gia súc thành thục về tính sớm hơn.
Sự thành thục về tính thường sớm hơn sự thành thục về thể vóc, do đó, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát dục cơ thể mẹ tốt, đảm bảo phầm chất giống của thế hệ sau nên chỉ phối cho lợn động dục ở lần thứ 2, thứ 3 trở đi khi đã hoàn toàn thành thục về tính và đạt được 70 – 80 % khối lượng thể vóc 3 b. Sự thành thục về thể vóc Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi mà gia súc có sự phát triển về ngoại hình và thể vóc đạt đến mức độ hoàn chỉnh, xương phát triển hoàn toàn, tầm vóc ổn định. Khi gia súc thành thục về thể vóc thì mới tiến hành cho giao phối. Biểu hiện của sự thành thục về thể vóc: - Bộ máy sinh dục được phát triển hoàn thiện, sẵn sàng cho việc mang thai và sinh con - Khung xương phát triển hoàn toàn, ở con cái đặc biệt phát triển về xương chậu ( khung xương chậu to và rộng hơn) - Các đặc điểm sinh dục thứ cấp được hoàn thiện Thông thường, lợn nái sau 2 đến 3 chu kì động dục thì sẽ thành thục về thể vóc, nên người ta thường phối giống vào lần động dục thứ 2, thứ 3 trở đi tùy từng cá thể lợn, để đảm bảo an toàn và đảm bảo cho khả năng sản xuất của lợn nái 2.2 Chu kì tính và thời điểm phối giống thích hợp Khi gia súc thành thục thì cơ thể con cái và cơ quan sinh dục có sự biến đổi kèm theo quá trình rụng trứng.
Các biến đổi sau này lặp đi lặp lại theo một chu kì gọi là chu kì tính. Thời gian của mỗi chu kì trung bình là 21 ngày, có thể dao động từ 18 – 25 ngày và chia làm 4 giai đoạn: - Giai đoạn trước động dục: Ở giai đoạn này con cái có một trong các biểu hiện sau: bồn chồn, bỏ ăn, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình, âm đạo sưng, đỏ hồng, không có hoặc có rất ít dịch nhầy, bỏ chạy khi ta ấn tay vào hông. Ở giai đoạn này không nên phối ép vì trứng chưa rụng, tinh trùng không thể gặp được tế bào trứng. Giai đoạn này kéo dài 1 – 2 ngày tính từ khi thể vàng của chu kì trước bị thoái hóa đến lần động dục tiếp tlợn.
- Giai đoạn động dục: Ở giai đoạn này, các hoạt động sinh dục của con cái mãnh liệt hơn với các biểu hiện: lợn biếng ăn, phá chuồng đi tìm con đực. Bên trong cổ tử cung đã hé 4 mở và co bóp mạnh, âm hộ chuyển sang màu mận chín, có dịch nhờn chảy ra. Khi dùng tay ấn mạnh lên lưng thì lợn có biểu hiện: hai chân dạng ra, đứng lỳ, đuôi cong về một phía, sẵn sàng cho quá trình giao phối. Sau khi bắt đầu chịu đực khoảng 20 – 30 giờ thì trứng bắt đầu rụng Giai đoạn này kéo dài 2 – 3 ngày tiếp theo tính từ giai đoạn trước.
Nếu được thụ thai ở giai đoạn này thì chu kì sẽ dừng lại, gia súc mang thai và sau khi đẻ chu kì mới sẽ quay trở lại. Nếu không có thai thì sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo. - Giai đoạn sau động dục: Ở giai đoạn này, toàn bộ cơ thể và cơ quan sinh dần dần hồi phục về trạng thái sinh lý bình thường. Âm hộ teo lại, tái dần, lợn bắt đầu ăn uống tốt hơn.
Giai đoạn này là 3 – 4 ngày tiếp tlợn của giai đoạn trước. Nếu gia súc mang thai, thể vàng sẽ tồn tại trong suốt thời gian chửa. Nếu gia súc không mang thai, thể vàng sẽ tiêu biến sau 14 -15 ngày và bắt đầu một chu kì mới. - Giai đoạn yên tĩnh: Đây là giai đoạn dài nhất của chu kì sinh dục, các biểu hiện về tính của gia súc ở trạng thái yên tĩnh: Cơ quan sinh dục không có biểu hiện về hoạt động rõ rệt.
Giai đoạn này kéo dài từ lúc trứng không được thụ tinh cho đến khi thể vàng tiêu biến. Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh, để khôi phục lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng để chuẩn bị cho chu kì tiếp tlợn.3 Quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn ở giai đoạn mang thai Thời gian mang thai trung bình của lợn là 114 – 117 ngày, quá trình bào thai phát triển được chia làm 3 giai đoạn - Giai đoạn phôi thai ( 1 – 22 ngày): Trứng được thụ tinh thành hợp tử, sau khi thụ tinh từ 1 – 3 ngày, trứng di chuyển bám vào và làm tổ ở hai bên sừng tử cung, lấy chất dinh dưỡng từ trứng và tinh trùng. Mầm thai được hình thành sau 3 – 4 ngày, lúc đầu lấy chất dinh dưỡng từ noãn hoàng và tinh trùng, sau đó hình thành màng mầm thai, lấy chất 5 dinh dưỡng qua màng bằng cách thẩm thấu. Túi phôi được hình thành sau đó 5 – 6 ngày, túi phôi chứa chất lỏng.
Màng ối hình thành sau 7 – 8 ngày, đây là màng ngoài cùng bao bọc lấy bào thai, trong có chứa dịch ối. Dịch ối có tác dụng giúp cho bào thai nằm thoải mái, đệm đỡ cho bào thai không bị va chạm với các cơ quan xung quanh của cơ thể lợn mẹ. Màng đệm hình thành sau 10 ngày, mặt màng đệm có lông nhung để lấy chất dinh dưỡng từ mẹ truyền cho phôi. Màng niệu được hình thành sau 12 ngày để chứa nước tiểu cho phôi.