ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã có từ rất lâu đời ở nước ta, chăn nuôi lợn đang là trọng tâm của ngành nông nghiệp, nó chiếm phần lớn sản phẩm nông nghiệp và đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đồng thời cũng là nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến như thịt nguội, xúc xích, lạp xưởng.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, ngành chăn nuôi lợn của nước ta đang dần phát triển theo hướng hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu về thực phẩm ngày càng cao của cuộc sống, không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong nước mà còn phục vụ xuất khẩu. Xu hướng chăn nuôi lợn hiện nay ở nước ta đang chuyển dần từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung với quy mô trang trại. Chăn nuôi lợn ở các trang trại chủ yếu là chăn nuôi lợn ngoại nhằm nâng cao năng suất, chất lượng thịt. Nhiều tổ hợp lai kinh tế phức tạp từ các giống lợn cao sản như Landrace, Yorkshine, Pietrain, Duroc, … ra đời cho thấy năng suất và hiệu quả kinh tế khá cao.
Một trong số các tổ hợp lai đó phải kể đến tổ hợp lai giữa đực Duroc với nái F1 (Landrace x Yorkshire) sản xuất ra lợn con nuôi thịt ba máu có những ưu điểm vượt trội tỷ lệ nạc, FCR thấp, tốc độ sinh trưởng cao. Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, việc thường xuyên đánh giá năng suất sinh sản của đàn nái là việc làm cần thiết, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp phù hợp nhằm phát huy tối đa tiềm năng của giống. Xuất phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá năng suất sinh sản của đàn lợn nái F1 (Landrace x Yorkshire) được phối với đực Duroc của công ty cổ phần phát triển chăn nuôi Hòa Phát nuôi tại Sơn Động, Bắc Giang”. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 1.
Mục đích của đề tài - Nêu được sơ lược các thông tin chung của trại: vị trí địa lý, cơ sở vật chất và nhân sự, quy mô chăn nuôi, cơ cấu đàn,. - Nắm được một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của đàn nái. - Đánh giá được năng suất sinh sản của đàn lợn nái F1 (Landrace × Yorkshire) chung và qua các lứa đẻ tại trại. - Nắm được các yếu tố ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như chế độ dinh dưỡng, chăm sóc, khí hậu chuồng nuôi,.
tới năng suất sinh sản. - Tính được thức ăn tiêu tốn để sản xuất ra 1 kg lợn con cai sữa. - Tình hình dịch bệnh trên đàn nái và con lai theo mẹ, can thiệp thú y. Yêu cầu của đề tài Thu thập đầy đủ và chính xác các số liệu liên quan đến khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại.
Nắm được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trang trại. 2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. SƠ LƯỢC VỀ MỘT SỐ GIỐNG LỢN 2. Giống lợn Landrace Nguồn gốc : Lợn có nguồn gốc từ Đan Mạch được hình thành vào khoảng 1924-1925 do quá trình tạp giao giữa các giống lợn đến từ Anh, Tây Ban Nha, Ý,.
Chúng được tạo thành bởi quá trình lai tạo giữa giống lợn Youtland ở Đức với lợn Yorkshire ở Anh. Việt Nam nhập giống lợn Landrace khoảng những năm 1970 từ Trung Quốc, Cuba, sau nhập từ Bỉ, Nhật Bản, Thái Lan,. Đặc điểm ngoại hình: Lợn Landrace có tầm vóc to, mình dài và dày, nhìn ngang trông giống hình cái nêm, lông màu trắng tuyền, đầu nhỏ dài hơi hẹp, tai to rủ về phía trước che lấp mặt, cổ nhỏ và dài. Lưng vồng lên, mặt lưng bằng phẳng, bụng thon, mông phát triển, nẩy tròn, chân to và thẳng, có từ 14 vú trở lên, thân rất dài, 4 chân hơi yếu, đẻ nhiều và có tỷ lệ nạc cao.
Đặc điểm sinh trưởng: Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) giống lợn Landrace là giống lợn có năng suất cao. Tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/1kg tăng trọng thấp từ 2,7 - 3,01kg. Lợn đực trưởng thành nặng 300 - 320 kg, lợn cái nặng 220 - 250 kg. Khả năng sinh trưởng nhanh, nuôi thịt đến 6 tháng tuổi đạt 100 kg/con, tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ cao, khoảng 55 - 56% (Vũ Đình Tôn, 2009).
Khả năng sinh sản: Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá nên thường được chọn làm dòng cái trong các công thức lai giữa lợn ngoại cao sản với nhau. Theo Vũ Đình Tôn ( 2009), lợn Landrace có tuổi phối giống lần đầu 310 ngày, số con đẻ ra 9 – 11 con/lứa, khối lượng sơ sinh 1,2 - 1,3 kg/con, lúc 60 ngày tuổi có khối lượng khoảng 16 - 20 kg/con. Lợn đực có thể đưa vào sử dụng lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh dịch khai thác đạt khoảng 270ml/lần. Hướng sử dụng: Lợn Landrace hiện nay vẫn đang được nhân giống thuần chủng nhằm tăng số lượng đàn lợn nái Landrace thuần chủng để sử dụng cho việc 3 cải tạo đàn lợn nái nội trong nước, chúng được dùng để lai với các giống lợn nội và các giống lợn ngoại khác để tạo ra con lai nuôi thịt có năng suất phẩm chất tốt.
Ngoài ra, hiện nay lợn đực Landrace còn được cho kết hợp với lợn cái Yorkshire để tạo ra lợn cái lai F1 (Landrace × Yorkshire). Lợn cái lai F1 này đang được sử dụng rất phổ biến trong chăn nuôi trang trại nhằm tạo ra con lai cao sản có hiệu quả kinh tế cao. Giống lợn Yorkshire Nguồn gốc: Lợn Yorkshire hay Lợn Đại Bạch là một giống lợn nuôi có nguồn gốc ở vùng Yorkshire ở Anh vì thế còn được gọi là lợn Yorkshire. Ở nước ta lợn cũng được nhập vào từ năm 1920 ở miền Nam để tạo ra lợn Thuộc Nhiêu Nam Bộ.
Đến năm 1964, lợn được nhập vào miền Bắc thông qua Liên Xô cũ. Đến năm 1978, chúng ta đã nhập lợn Yorkshire từ Cu Ba, những năm sau 1990, lợn Yorkshire được nhập vào nước ta qua nhiều con đường của Nhà nước, công ty và từ nhiều dòng khác nhau như Yorkshire Pháp, Bỉ, Anh, Mỹ,. Đặc điểm ngoại hình: Lợn Yorkshire toàn thân có màu trắng, mình dài, đầu nhỏ, lưng thẳng, ngực nở, mông tròn. Đầu to, mũi gãy, mõm bẹ, tai to hướng về phía trước, chân chắc khỏe, bụng gọn.
Đặc điểm sinh trưởng: Lợn Yorkshire có khả năng thích nghi tương đối với điều kiện khí hậu của nước ta. Nuôi đến 60 ngày tuổi đạt 16 - 20kg, nuôi thịt 5 - 6 tháng tuổi đạt 90 - 100kg, tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ khoảng 52 - 55% (Coline T. Khả năng tiêu tốn thức ăn để sản xuất được 1kg thịt từ 2,7 - 2,8 kg thức ăn. Khả năng sinh sản: Lợn cái thành thục về tính lúc 6 tháng tuổi và có thể phối giống lần đầu vào khoảng 240 - 260 ngày, số con đẻ ra trên lứa cao từ 11-13 con, số lứa/năm là 2,0 - 2,2.
Khối lượng sơ sinh/con dao động từ 1,3 - 1,4 kg/con. Lợn đực khai thác tinh lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh trung bình khai thác được là 232 ml/lần (Vũ Đình Tôn, 2009). 4 Hướng sử dụng: Hiện nay, lợn Đại Bạch được sử dụng theo hướng kiêm dụng, nuôi rất phổ biến với số lượng lớn, thường dùng làm nái nền tạo nhiều công thức lai, cũng là giống sản xuất thịt đáp ứng được nhu cầu thị trường. Giống lợn Duroc Nguồn gốc: Lợn Duroc có nguồn gốc từ Bắc Mỹ.
Dòng Duroc được tạo ra ở vùng New York năm 1823 bởi Isaac Frink. Ở Việt Nam, lợn Duroc được nhập vào miền Nam từ trước năm 1975. Năm 1976 được đưa ra miền Bắc và được nuôi tại trại của trường Đại học Nông nghiệp I (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam) sau đó được nhập từ Cu Ba năm 1978 và từ Mỹ năm 2000. Đặc điểm ngoại hình: Lợn Duroc có lông màu hung đỏ hoặc nâu sẫm, bốn móng chân và mõm có màu đen, chân to khỏe, thân hình ngắn.
Tai to ngắn, che kín mắt, đầu to, mắt lanh lợi, thân hình vững chắc, mông vai nở, bộ phận sinh dục lộ rõ. Đặc điểm sinh trưởng: Lợn Duroc có khả năng sinh sản cao. Đực giống trưởng thành nặng khoảng 250 - 280kg, nái trưởng thành nặng 200 - 230kg. Lợn Duroc có sức chống chịu với nắng nóng tốt và thích nghi cao, ít nhạy cảm với stress.
Theo Vũ Đình Tôn lợn Duroc nuôi thịt 175 ngày có thể đạt 100 kg/con, tốc độ tăng khối lượng trung bình đạt khoảng 750g/con/ngày, tiêu tốn thức ăn 2,5 - 3,0kg thức ăn/kg khối lượng tăng. Tỷ lệ nạc/thịt xẻ là 58 – 60,4%. Khả năng sinh sản: Lợn Duroc có khả năng sinh sản vừa phải, số con bình quân mỗi lứa là 9. Lợn đực có thể bắt đầu khai thác tinh lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh dịch khai thác đạt khoảng 270ml/lần.
Hướng sử dụng: Giống này chủ yếu được sử dụng nhân giống thuần chủng để phát triển và duy trì đàn giống thuần trong nước. Trong các công thức lai kinh tế, lợn Duroc thường được dùng làm dòng đực cuối cùng. Ngoài ra, nó còn được dùng để tạo ra đực lai sử dụng trong sản xuất cho năng suất và chất lượng thịt cao (đực Pidu). LAI GIỐNG VÀ ƯU THẾ LAI 2.
Lai giống Lai giống là cho giao phối giữa những động vật thuộc hai hay nhiều giống khác nhau. Lai khác dòng là cho giao phối giữa những động vật thuộc các dòng khác nhau trong cùng một giống. Mặc dù lai khác giống xa nhau về huyết thống hơn lai các dòng, song hiệu ứng di truyền của cả hai kiểu lai lại tương tự nhau (Nguyễn Hải Quân và cộng sự, 1995). Lai giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi, còn tần số kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau tăng lên.
Lai giống là phương pháp chủ yếu nhằm khai thác biến dị tổ hợp của quần thể gia súc. Lai giống có những ưu việt vì con lai thường mang những ưu thế của cả mẹ và bố. Ưu thế lai và các yếu tố ảnh hưởng tới ưu thế lai a. Ưu thế lai Thuật ngữ ưu thế lai được đề xuất bởi Shull (1914) và được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Ưu thế lai là hiện tượng con sinh ra có sức sống cao hơn, khỏe mạnh hơn, chống chịu tốt với bệnh tật và các điều kiện bất lợi của môi trường, sức sản xuất cao hơn đời bố mẹ. Ưu thế lai hoàn toàn ngược lại với suy thoái cận huyết và sự suy giảm sức sống do cận huyết được khắc phục trở lại khi lai giống. Mức độ ưu thế lai của một tính trạng được tính theo công thức: ( ) ( ) H (%) = *100 ( ) Trong đó: H (%): Ưu thế lai.