Tổng quan nghiên cứu

Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo là khâu đột phá mang tính chiến lược trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng giai đoạn 2011 - 2020. Thực tế đào tạo tại các trường cao đẳng sư phạm những năm qua cho thấy tình trạng sinh viên vững kiến thức hàn lâm nhưng còn hạn chế về kỹ năng thực hành nghề nghiệp, dẫn đến khó khăn khi tiếp cận công việc giảng dạy thực tế tại trường phổ thông. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Đo lường và Đánh giá trong giáo dục của tác giả Trần Minh Hiếu (năm 2013), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa tại Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Đánh giá thực trạng năng lực dạy học của giáo sinh theo các chuẩn mực khoa học và thực tiễn.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là đo lường mức độ đạt được về năng lực dạy học của giáo sinh so với Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở ban hành theo Thông tư 30/2009/TT-BGDĐT và các yêu cầu nghiệp vụ trong hoạt động thực tập sư phạm. Khảo sát thực nghiệm được tiến hành trên quy mô 284 giáo sinh năm thứ ba thuộc 5 chuyên ngành đào tạo (Toán - Tin, Lý - Kỹ thuật công nghiệp, Ngữ văn - Lịch sử, Địa lý - Lịch sử, Tiếng Anh) khóa 2010 - 2013 của trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình trong đợt thực tập tốt nghiệp kéo dài 6 tuần (từ ngày 25/02/2013 đến ngày 05/04/2013) tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ và tỉnh Thái Bình. Công trình mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn khi thiết lập hệ thống dữ liệu định lượng tin cậy, làm căn cứ điều chỉnh quy trình đào tạo và nâng tỷ lệ giáo sinh đạt chuẩn nghề nghiệp lên trên 85% sau khi tốt nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết đánh giá hiện đại trong giáo dục (Dierick & Dochy 2001, Wolf 2001), tiếp cận đánh giá năng lực thực hiện (Performance-based assessment) và đánh giá dựa trên chuẩn (Standard-based assessment). Khung tham chiếu nòng cốt bao gồm Quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở theo Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo với hệ thống 6 tiêu chuẩn và 25 tiêu chí, trong đó tập trung sâu vào Tiêu chuẩn 3 về Năng lực dạy học gồm 8 tiêu chí cốt lõi: Xây dựng kế hoạch dạy học, Đảm bảo kiến thức môn học, Đảm bảo chương trình môn học, Vận dụng các phương pháp dạy học, Sử dụng phương tiện dạy học, Xây dựng môi trường học tập, Quản lý hồ sơ dạy học, Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng quy trình 4 giai đoạn thiết kế và đánh giá năng lực của Mark Wilson (2005), kết hợp các văn bản quy phạm pháp luật như Quyết định số 36/2003/QĐ-BGDĐT về Quy chế thực hành, thực tập sư phạm và Quyết định số 28/2006/QĐ-BGDĐT về chương trình khung giáo dục cao đẳng sư phạm. Năng lực dạy học trong nghiên cứu được định nghĩa là tổ hợp thống nhất giữa kiến thức chuyên môn, kỹ năng sư phạm và thái độ nghề nghiệp, thể hiện qua khả năng thực hiện thành công các nhiệm vụ giảng dạy theo chuẩn quy định.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu triển khai phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện trên toàn bộ 284 giáo sinh năm thứ ba hệ chính quy thuộc 5 khối ngành sư phạm tham gia đợt thực tập sư phạm 2 tại các trường trung học cơ sở vệ tinh. Cỡ mẫu này đảm bảo tính đại diện cao cho toàn khóa đào tạo với cơ cấu ngành nghề đa dạng. Dữ liệu được thu thập đa chiều thông qua 2 bộ phiếu hỏi Anket chuẩn hóa dành cho 284 giáo sinh tự đánh giá và giáo viên hướng dẫn trực tiếp đánh giá trên thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Rất thấp đến 5: Rất cao), kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và quan sát trực tiếp các tiết dạy thực tế.

Để xử lý số liệu, đề tài kết hợp phương pháp thống kê cổ điển qua phần mềm SPSS 20.0 (tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định tương quan và hệ số tin cậy Cronbach Alpha) với Lý thuyết Ứng đáp Câu hỏi (Item Response Theory) thông qua mô hình Rasch trên phần mềm chuyên dụng ConQuest và Quest. Việc lựa chọn mô hình Rasch cho phép kiểm định độ giá trị cấu trúc của thang đo, xác định mức độ phù hợp của các tiêu chí thông qua chỉ số Infit MNSQ nằm trong khoảng tối ưu từ 0.70 đến 1.30, giúp chuyển đổi điểm số thô thành thước đo khoảng cách tuyến tính khách quan, loại bỏ các sai số đo lường mà phương pháp tính điểm trung bình truyền thống không thể khắc phục.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ đạt được về năng lực dạy học của giáo sinh trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình tiệm cận mức khá so với Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, với điểm trung bình chung đạt 3.42 trên thang điểm 5.0. Trong đó, tiêu chí làm chủ kiến thức môn học đạt điểm cao nhất với mức 3.78 (tương đương 75.6% điểm tối đa), tiêu chí đảm bảo chương trình đạt 3.65, trong khi tiêu chí vận dụng phương pháp dạy học tích cực đạt mức thấp nhất là 3.18.

Thứ hai, so với nội dung và yêu cầu cụ thể của công tác thực tập sư phạm, giáo sinh thể hiện năng lực ở mức cao hơn, đạt điểm trung bình chung 3.68/5.0. Kỹ năng soạn giáo án, chuẩn bị bài lên lớp và quản lý hồ sơ chuyên môn đạt mức xuất sắc với 82.4% giáo sinh được xếp loại khá và tốt. Ngược lại, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng thiết bị dạy học hiện đại còn hạn chế, có tới 34.5% giáo sinh lúng túng khi tích hợp phần mềm hỗ trợ vào tiết dạy.

Thứ ba, ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa đánh giá của giáo viên hướng dẫn (điểm trung bình 3.38) và tự đánh giá của giáo sinh (điểm trung bình 3.56). Độ chênh lệch 0.18 điểm cho thấy giáo sinh có xu hướng tự tin hơn vào năng lực bản thân, trong khi giáo viên hướng dẫn đánh giá khắt khe hơn dựa trên yêu cầu thực tế của lớp học phổ thông.

Thứ tư, kết quả phân tích theo khối ngành cho thấy giáo sinh khối Khoa học Xã hội (Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý) đạt điểm cao hơn ở kỹ năng giao tiếp, thuyết trình và xây dựng môi trường học tập (trung bình 3.62), trong khi giáo sinh khối Khoa học Tự nhiên (Toán, Tin học, Vật lý) thể hiện sự vượt trội ở kỹ năng thiết kế kế hoạch bài dạy và tính chính xác khoa học (trung bình 3.58).

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm phản ánh đúng thực trạng cơ cấu chương trình đào tạo sư phạm cao đẳng thời điểm khảo sát, nơi thời lượng lý thuyết chuyên ngành chiếm tỷ trọng lớn, trong khi thời lượng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên và thực hành đứng lớp còn phân bổ mỏng trước kỳ thực tập 6 tuần. Sự phân hóa về kỹ năng phương pháp dạy học (3.18/5.0) cho thấy giáo sinh vẫn chịu ảnh hưởng nặng bởi lối truyền thụ một chiều, chưa linh hoạt tổ chức dạy học phân hóa hoặc điều hành thảo luận nhóm sôi nổi.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu cùng thời kỳ tại các trường đại học sư phạm lớn, giáo sinh hệ cao đẳng có ưu thế về việc tuân thủ quy chế chuyên môn và sự chuẩn bị bài giảng chỉn chu, nhưng gặp rào cản lớn hơn trong kỹ năng ứng biến sư phạm và xử lý tình huống phát sinh. Toàn bộ dữ liệu này được mô hình hóa sinh động thông qua biểu đồ phân bố giá trị trung bình 8 tiêu chí năng lực dạy học và bảng phân tích chỉ số tương quan Infit MNSQ từ phần mềm ConQuest, tạo ra bức tranh trực quan giúp các nhà quản lý đào tạo nhận diện chính xác điểm nghẽn kỹ năng của sinh viên sư phạm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc chương trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm theo hướng tăng cường thực hành. Ban Giám hiệu và Phòng Đào tạo trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình cần chủ trì điều chỉnh thời lượng thực hành lên tối thiểu 40% tổng số tiết của các học phần phương pháp dạy học, hoàn thành việc nghiệm thu khung chương trình mới trước quý 4 năm 2014.

Thứ hai, thiết lập mạng lưới 15 trường trung học cơ sở vệ tinh trên địa bàn tỉnh Thái Bình để tổ chức cho sinh viên rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên ngay từ học kỳ 2 năm thứ nhất. Khoa Tự nhiên và Khoa Xã hội chịu trách nhiệm đưa 100% sinh viên đi kiến tập và thực hành dạy thử định kỳ 2 tuần một lần trong giai đoạn 2014 - 2015.

Thứ ba, chuẩn hóa bộ công cụ đánh giá năng lực thực tập sư phạm dựa trên mô hình Rasch với 16 chỉ báo hành vi tường minh. Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục phối hợp với trường ban hành bộ tiêu chí mới trước tháng 12 năm 2014, nhằm giảm tỷ lệ đánh giá cảm tính của giáo viên hướng dẫn xuống dưới 10%.

Thứ tư, đẩy mạnh bồi dưỡng năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và phương pháp dạy học tích cực. Trung tâm Công nghệ thông tin và Đoàn Thanh niên nhà trường tổ chức 04 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm, đảm bảo 90% giáo sinh sử dụng thành thạo giáo án điện tử và các phần mềm mô phỏng thí nghiệm trước khi bước vào đợt thực tập tốt nghiệp năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Ban Giám hiệu và các nhà quản lý giáo dục tại các trường Đại học, Cao đẳng Sư phạm: Tài liệu cung cấp cơ sở khoa học và mô hình định lượng chuẩn mực để rà soát chuẩn đầu ra, điều chỉnh chương trình đào tạo giáo viên đáp ứng nhu cầu tuyển dụng thực tế.

Thứ hai, Giảng viên giảng dạy bộ môn Phương pháp dạy học và Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm: Sử dụng bộ khung 16 chỉ báo năng lực để thiết kế bài giảng thực hành, biên soạn giáo trình và xây dựng tiêu chí đánh giá kỹ năng giảng dạy của sinh viên trên giảng đường.

Thứ ba, Giáo viên hướng dẫn thực tập tại các trường trung học cơ sở: Tham khảo thang đo 5 mức độ chuẩn hóa để chấm điểm tiết dạy của giáo sinh một cách khách quan, công bằng và đưa ra những tư vấn chuyên môn chuẩn xác trong các đợt thực tập sư phạm 6 tuần.

Thứ tư, Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Đo lường và Đánh giá trong giáo dục: Nắm bắt quy trình xử lý dữ liệu hiện đại kết hợp phần mềm SPSS và mô hình Rasch ConQuest, làm tài liệu tham khảo chất lượng cho các nghiên cứu đo lường giáo dục quy mô từ 200 đến 500 mẫu.

Câu hỏi thường gặp

Năng lực dạy học của giáo sinh trong luận văn được đo lường qua những tiêu chí cốt lõi nào? Năng lực dạy học được lượng hóa qua 8 tiêu chí theo Thông tư 30/2009/TT-BGDĐT: lập kế hoạch bài dạy, làm chủ kiến thức, đảm bảo chương trình, vận dụng phương pháp dạy học tích cực, sử dụng phương tiện dạy học, xây dựng môi trường học tập, quản lý hồ sơ chuyên môn và kiểm tra đánh giá học sinh trên thang đo 5 mức độ.

Tại sao nghiên cứu lại kết hợp phần mềm SPSS với mô hình Rasch trên ConQuest? SPSS thực hiện thống kê mô tả cổ điển trên mẫu 284 giáo sinh, trong khi mô hình Rasch trên ConQuest giúp chuẩn hóa thang đo, kiểm soát chỉ số Infit MNSQ trong ngưỡng chuẩn 0.70 đến 1.30, giúp phân tích độ khó của từng tiêu chí và đo lường chính xác năng lực tiềm ẩn của người học mà không bị chi phối bởi sai số chủ quan.

Hạn chế lớn nhất trong năng lực dạy học của giáo sinh Thái Bình là gì? Dữ liệu khảo sát chỉ ra điểm hạn chế lớn nhất là kỹ năng vận dụng phương pháp dạy học tích cực (chỉ đạt 3.18/5.0) và ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng. Khoảng 34.5% giáo sinh còn lúng túng trong việc tổ chức hoạt động học tập tương tác và xử lý các tình huống sư phạm bất ngờ trên lớp.

Có sự chênh lệch giữa tự đánh giá của giáo sinh và đánh giá của giáo viên hướng dẫn không? Nghiên cứu ghi nhận độ chênh lệch 0.18 điểm có ý nghĩa thống kê. Giáo sinh tự đánh giá năng lực ở mức trung bình 3.56/5.0 do tâm lý tự tin, trong khi giáo viên hướng dẫn đánh giá ở mức 3.38/5.0 dựa trên kinh nghiệm chuyên môn và thực tế 6 tuần giảng dạy trực tiếp của giáo sinh.

Bộ công cụ đánh giá của luận văn có thể chuyển giao cho các trường sư phạm khác không? Quy trình thiết kế 4 giai đoạn của Mark Wilson và hệ thống 16 chỉ báo năng lực dạy học có tính phổ quát rất cao. Các cơ sở đào tạo giáo viên mầm non, tiểu học và trung học cơ sở có thể áp dụng ngay để khảo sát chuẩn đầu ra trên quy mô từ 200 đến 500 sinh viên.

Kết luận

  • Luận văn lượng hóa thành công bức tranh năng lực dạy học của 284 giáo sinh trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình với điểm trung bình đạt 3.42/5.0 theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở.
  • Chuẩn hóa thành công bộ công cụ đo lường năng lực dạy học gồm 16 chỉ báo đạt độ tin cậy Infit MNSQ từ 0.70 đến 1.30 theo mô hình Rasch hiện đại.
  • Chỉ rõ khoảng trống về năng lực đổi mới phương pháp dạy học và kỹ năng công nghệ thông tin trong thực tế 6 tuần thực tập sư phạm tại các trường phổ thông.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng tỷ lệ giáo sinh đạt chuẩn nghề nghiệp loại khá và tốt lên trên 85% vào năm 2015.
  • Xác lập mô hình đánh giá năng lực thực hành sư phạm có khả năng nhân rộng cho các cơ sở đào tạo giáo viên toàn quốc trong giai đoạn 2014 - 2020.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Minh Hiếu là công trình học thuật tiên phong trong việc ứng dụng lý thuyết đo lường hiện đại vào đánh giá năng lực giáo sinh thực tập tại địa phương. Các trường sư phạm và cơ quan quản lý giáo dục hãy khai thác và ứng dụng ngay bộ công cụ đánh giá này để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục nước nhà.