Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. - Chương 2: Thực trạng quản lý công tác đào tạo hình thức VLVH của trường ĐHTV. - Chương 3: Các biện pháp quản lý đào tạo hình thức VLVH của trường ĐHTV. Phần 3: kết luận và kiến nghị.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để thực hiện được đề tài “Quán jý công tác đào tạo hình thức vừa làm vừa học của trường Đại học Trà Vĩnh” Tôi tiễn hành nghiên cứu các văn bản; Quyết định; các quy chế của Bộ Giáo dục và đào tạo; các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Nam với bài “Chất lượng đào tạo hình thức tại chức — Vấn đề cần được nghiêm túc nhìn nhận ” đăng trên tạp chí Giáo dục và thời đại chủ nhật số 43 [14, tr. Tác giả Thái Xuân Đào trong bài: “Hội nhập kinh tế quốc tế: Những cơ hội và thách thức đối với phát triển giáo duc không chính quy ” đăng trong kỷ yêu Hội thảo Giáo dục Việt Nam, Viện chiến lược và chương trình giáo dục, Hà Nội, 11/2005 [12, tr. Tác giả Vũ Đình Ruyệt, Thái Xuân Đào, Nghiêm Xuân Lượng, tác giả Tô Bá Trượng đã nhấn mạnh vai trò to lớn, đặc biệt của giáo dục thường xuyên trong việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược của giáo dục, trong ấn phim “Giáo dục thường xuyên — Thực trạng và định hướng phát triển ở Việt Nam” [19]. Tác giả Nguyễn Thị Kim Yến, trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng, năm 2006: “Biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo cứ nhân tiếng Anh hình thức vừa học vừa làm tại trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng ”.
Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của tác giả: Hồ Thị Kim Loan, năm 2007, nghiên cứu vấn đề “Đổi mới quản lý hình thức đào tạo VLVH của trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng ”. Trong các hướng nghiên cứu trên, nghiên cứu về quản lý công tác đào tạo hình thức VLVH của trường ĐHTYV thì chưa có đơn vị, tác giả nào nghiên cứu. Vì thế, chúng tôi chọn vấn đề trên ở trường ĐHTV làm vấn đề nghiên cứu trong thời điểm hiện tại và trong thời gian tới sắp tới. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.
KHÁI QUÁT VÈ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VAN ĐÈ 1. Ở nước ngoài UNESCO đã có khuyến cáo đúng đắn khi coi giáo dục của thế kỷ 21là nên giáo dục của xã hội học tập và học suốt đời cho mọi người. Trong tư tưởng của C.Mác — Ăng ghen, đó là “Mọi người ai cũng được học hành”. Đây mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng các hình thức chính qui và không chính qui (bao gồm hình thức VHVL), thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước thành một xã hội học tập”.
Trong quá trình quản lý giảng dạy hình thức VLVH đồi hỏi người giảng dạy cần sử dụng công nghình thức giáo dục, công nghình thức thông tin trong quá trình dạy học là điều kiện cần của dạy học hiện đại, song chưa phải là điều kiện đủ. Điều kiện người quản lý phải huấn luyện cho giảng viên có sự thông cảm với sinh viên trong dạy học. Theo Carl Jung: “Chúng ta bài tỏ lòng kính trọng với người thầy lỗi lạc, song ta phải bài tỏ lòng biết ơn vô hạn với những người đã sưởi ấm lòng ta. Sự ấm áp của tâm hồn là yếu tổ đối với tâm hỗn trẻ thơ.
Dẫn lời dạy này của Aristoste, nhà nghiên cứu giáo dục hiện đại Raja Roy Singh trong tác phẩm: “Nền giáo dục cho thế kỷ: XXI, những triển vọng của châu Á, Thái Bình Dương” đã có phát biểu: “Giáo viên giữ vai trò quyết định trong quá trình nhận biết Hoc — Day” va đặc trưng trong việc định hướng lại giáo dục. Ta nhận thấy rằng thành công của các cuộc cải cách giáo dục phụ thuộc dứt khoát vào ý chí cũng như chất lượng của giảng viên, trong đó có hình thức VLVH dù biết rằng đối với hình thức VLVH người dạy gặp nhiều khó khăn vẻ trình độ khác nhau, hoàn cảnh thuận lợi khó khăn khác nhau, do đó đòi hỏi người dạy hình thức VLVH phải có phương pháp thích hợp.Xtrezicondin, Jaxapob đã nghiên cứu và đề ra một số vấn đề về quản lý của hiệu trưởng cũng như sự phân công giữa hiệu trưởng và hiệu phó. Các tác giả thống nhất khẳng định người hiệu trưởng là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm trong công tác quản lý nhà trường. đó sẽ tránh được sự giẫm đạp lên công việc của nhau, tránh khỏi sự buông lỏng quản lý của nhà trường.
Đối với hình thức VLVH đòi hỏi sự quan tâm rất lớn của người hiệu trưởng, toàn bộ kết quả quản lý hoạt động đào tạo hình thức VLVH phụ thuộc rất nhiều vào việc tô chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ giảng viên. Ở Việt Nam Theo nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học, có khoảng 80 — 90 % sinh viên hình thức chính quy các trường đại học và cao đẳng sau khi ot nghiệp ở lại các thành phó lớn, con số 10 — 20% còn lại về các địa phương, không thể đáp ứng đủ nhu cầu nguồn nhân lực đang rất lớn ở các tỉnh, đặc biệt vùng sâu vùng xa. Đào tạo theo hình thức VLVH là một vấn đề đang được cả xã hội quan tâm, đặc biệt là đào tạo VLVH ở các trường đại học Hiện nay trên phạm vi toàn thế giới, nhiều quốc gia đã có quan niệm rộng về giáo dục thường xuyên. Nhiều thuật ngữ được sử dụng như: Giáo dục thường xuyên (GDTX), giáo dục người lớn (GDNL), giáo dục không chính quy (GDKCQ) được sử dụng tương đương hoặc gần giống nhau ngày càng trở thành xu thế phát triển tắt yếu đáp ứng các yêu cầu khách quan của thời đại và người học.
Ở Việt Nam, GDNL luôn là bộ phận quan trọng trong hình thức thống giáo dục quốc dân theo suốt chiều dài lịch sử của đất nước với nhiều tên gọi khác nhau theo từng thời kì như: Bình dân học vụ, Bỗ túc văn hoá,.đến Giáo dục thường xuyên, thuật ngữ này được dùng từ năm 1993 đến nay dưới nhiều hình thức như: Không tập trung, không chính quy, tại chức, tự học „ từ xa, vừa làm vừa học. Đào tạo theo hình thức VL.VH là một loại hình giáo dục cho tất cả mọi người (kể cả người khuyết tật). Một hình thức thống giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu học tập, rèn luyện cho mọi người theo khả năng, điều kiện trước hết vì tính nhân văn của xã hội, của giáo dục, song còn một lý do khác là tạo ra sự chia sẻ, đồng cảm, xây dựng môi quan hình thức xã hội dân chủ bình đẳng, ôn định về chính trị, an ninh xã hội. Nghị qu Trung ương 2 (khoá VIII) đã khẳng định: “Phát triển giáo dục đào tạo gắn liền với phát triển kinh tế xã hội, những tiến bộ khoa học.
công nghình thức và củng cố quốc phòng, an ninh. Coi trọng 3 mặt mở rộng, quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả”. Đào tạo và quản lý đào tạo là khâu then chốt giúp cho giáo dục dù thực hiện dưới những hình thức nào cũng đạt được mục tiêu đã đề ra. Bước vào thập niên đầu của thế kỷ XXI, nền giáo dục Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức khi được gia nhập WTO hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi người lao động không chỉ có vốn kiến thức đã có mà còn phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề.
Người lao động cần phải có ý thức học tập suốt đời VLVH để cập nhật kiến thức, thích ứng với công việc đòi hỏi sự thay đôi tiến bộ của khoa học công nghình thức. Từ những vấn đề trên thì đào tạo thế nào, quản lý đào tạo thế nào với hình thức VLVH để mang lại chất lượng tốt nhất? Đó là điều mà lâu nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo khoa học đi sâu nghiên cứu ở nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. Tác giả Nguyễn Nam với bài “ Chát lượng đào tạo đại học hình thức tại chức — Van dé can được nghiêm túc nhìn nhận ” đăng trên tạp chí Giáo dục 10 và thời đại chủ nhật số 43 [14, tr.6] đã nhìn nhận một thực trạng của hoạt động dạy học đại học tại chức: “Thì ra có kiểu dạy “khôn” và “ chưa khôn”! Giáo trình 60 tiết, thầy chỉ cần lên lớp khoảng 40 tiết. Ngày dạy ít nhất 2 ca cho hình thức tại chức đặt tại các địa phương.
Lên lớp liên miên trong một tuần, hoàn tất một giáo trình đại học. Học xong cho vài tiết ôn tập, giải đáp thắc mắc rồi quay ra thi luôn. Mang bài về trường chấm, kỳ dạy sau gửi trả điểm thi”. Tác giả Thái Xuân Đào trong bài: “Hội nhập kinh tế quốc tế: Những cơ hội và thách thức đối với phát triển giáo dục không chính quy” đăng trong kỷ yếu Hội thảo Giáo dục Việt Nam, Viện chiến lược và chương trình giáo dục, Hà Nội, 11/2005 [12, tr.
141] đã chỉ ra một bức tranh toàn diện về sự phát triển tất u, những thách thức của giáo dục không chính quy. Cùng với tác giả Vũ Đình Ruyệt, Thái Xuân Đào, Nghiêm Xuân Lượng, tác giả Tô Bá Trượng đã nhấn mạnh vai trò to lớn, đặc biệt của giáo dục thường xuyên trong việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược của giáo dục, trong ấn phẩm “Giáo duc thường xuyên — Thực trạng và định hướng phát triển ở Ưiệt Nam ” [19], ông và các tác giả trên đã khẳng định giáo dục thường, xuyên là chìa khoá để bước vào thế kỷ XXI Tác giả Nguyễn Thị Kim Yến, trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng, năm 2006: “Biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo cử nhân tiếng Anh hình thức vừa học vừa làm tại trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng ”. Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý đảo tạo đại học hình thức VLVH. Tuy nhiên thực tiễn cho thấy việc vận dụng các biện pháp này chưa mang lại hiệu quả, các biện pháp còn nhiều điểm chung, chưa triển khai áp dụng cụ thê cho công tác quản lý đào tạo trong một cơ sở giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu chat lượng đào tạo.
" hình thức VLVH. Vì vậy, trong đề t : “Quản lý công tác đào tạo hình thức vừa làm vừa học của trường Đại học Trà Vinh”, với mong muốn được bổ sung những biện pháp cụ thẻ hơn, sát thực hơn về công tác quản lý đào tạo hình thức VLVH trong nhà trường.