Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng khoa học kỹ thuật, năng lực công nghệ đóng vai trò mang tính quyết định đến năng lực cạnh tranh và sự tăng trưởng của nền kinh tế. Các nghiên cứu kinh tế lượng quốc tế chỉ ra rằng tỷ lệ tăng trưởng kinh tế do năng lực công nghệ mang lại chiếm tới 50% tại Hoa Kỳ, 76% tại Pháp, 78% tại Tây Đức và 55% tại Nhật Bản trong nửa cuối thế kỷ 20. Đối với các nước đang phát triển, năng lực công nghệ nội sinh chính là động lực cốt lõi để tiếp thu, làm chủ và thích nghi các tiến bộ kỹ thuật nhập khẩu. Tuy nhiên, tại Việt Nam, mức đầu tư cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp còn rất khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 0,1% doanh thu hàng năm, thấp hơn nhiều so với mức 5% của Ấn Độ và 10% của Hàn Quốc.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ một nghịch lý lớn trong thực tiễn: mặc dù các địa phương như tỉnh Phú Thọ đã đặt ra mục tiêu tăng tốc độ đổi mới công nghệ 20%/năm theo Nghị quyết số 127/2007 của Hội đồng nhân dân tỉnh, nhưng hầu hết doanh nghiệp sản xuất công nghiệp vẫn lúng túng, thiếu công cụ đo lường và chưa từng thực hiện đánh giá năng lực đổi mới công nghệ. Mục tiêu cụ thể của luận văn là nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng và xây dựng một hệ thống tiêu chí định lượng hoàn chỉnh giúp doanh nghiệp đo lường chính xác năng lực công nghệ, phục vụ trực tiếp cho hoạt động quản lý và hoạch định chiến lược đầu tư. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 12 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ thuộc các ngành giấy, hóa chất, vật liệu xây dựng, chế biến nông sản và dệt may trong giai đoạn 2004 - 2009. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp một khung công cụ quản trị định lượng, giúp giảm thiểu rủi ro thất bại trong các dự án chuyển giao công nghệ hàng chục tỷ đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý thuyết lớn trong kinh tế học và quản trị công nghệ:

Thứ nhất, mô hình bốn thành phần công nghệ của Sharif và dự án Atlat Công nghệ do Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) cùng Trung tâm Chuyển giao Công nghệ Châu Á Thái Bình Dương (APCTT) phát triển. Khung lý thuyết này khẳng định công nghệ cấu thành bởi bốn yếu tố hữu cơ: phần kỹ thuật - thiết bị (Technoware), phần con người (Humanware), phần thông tin - dữ liệu (Infoware), và phần tổ chức - thiết chế (Orgaware).

Thứ hai, lý thuyết phát triển năng lực công nghệ của Giáo sư Vũ Cao Đàm, tiếp cận năng lực công nghệ như một hệ thống thứ bậc động, từ năng lực vận hành, làm chủ, thích nghi cho đến năng lực cải tiến và đổi mới sáng tạo từ hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D). Theo tính toán thực nghiệm, năng lực công nghệ có hệ số tác động hồi quy đến tăng trưởng kinh tế đạt mức beta = 0,4790 (tương đương 47,9%), cao hơn đáng kể so với tác động của chất lượng lao động đơn thuần là beta = 0,3807 (38,1%).

Bên cạnh đó, tác giả chuẩn hóa 4 khái niệm then chốt: Công nghệ (tập hợp quy trình, kỹ năng và công cụ biến đổi nguồn lực thành sản phẩm theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000); Năng lực công nghệ (sức mạnh tổng hợp để thực hiện các chức năng công nghệ); Đổi mới công nghệ (sự thay thế một phần cốt lõi hoặc toàn bộ quy trình/thiết bị đang vận hành); và Hệ thống tiêu chí đánh giá (bộ chỉ số lượng hóa các nguồn lực nhằm so sánh với chuẩn mục tiêu).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp từ các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, báo cáo thống kê ngành và kết quả điều tra hiện trạng công nghệ giai đoạn 2005 - 2008 của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu trực tiếp cán bộ lãnh đạo và chuyên trách kỹ thuật tại 12 doanh nghiệp công nghiệp nòng cốt trên địa bàn. Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 12 doanh nghiệp quy mô vừa và lớn, sau đó lựa chọn 5 doanh nghiệp tiêu biểu để triển khai áp dụng thử nghiệm mô hình đánh giá lượng hóa.

Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling), phân tầng theo 5 nhóm ngành công nghiệp chủ lực của địa phương: hóa chất - phân bón, chế biến giấy, dệt may, vật liệu xây dựng - khoáng sản và chế biến nông sản thực phẩm. Việc lựa chọn phương pháp phân tích hệ thống kết hợp phương pháp chuyên gia và kỹ thuật lượng hóa điểm số là hoàn toàn tối ưu, bởi lẽ đánh giá năng lực công nghệ mang tính đa chiều, đòi hỏi phải chuyển hóa các biến số định tính phức tạp (như năng lực đàm phán hay khả năng tiếp thu công nghệ) thành thang điểm số học có thể so sánh, giúp chuẩn hóa dữ liệu trên một mặt bằng chung đồng nhất. Toàn bộ chu trình khảo sát và phân tích thực nghiệm được triển khai xuyên suốt trong khung thời gian từ năm 2004 đến năm 2009.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm tại 12 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã làm sáng tỏ 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, 100% doanh nghiệp khảo sát (12/12 đơn vị) đều đã thực hiện các hoạt động đổi mới công nghệ trong giai đoạn 2005 - 2008, trong đó 83,3% (10/12 đơn vị) tập trung đổi mới thiết bị máy móc, 66,7% (8/12 đơn vị) đổi mới quy trình sản xuất và 50% đổi mới nguyên vật liệu. Nguồn công nghệ được tiếp nhận đồng đều với tỷ lệ 50% nhập khẩu từ nước ngoài (Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Bỉ) và 50% chuyển giao từ các nhà cung cấp nội địa.

Thứ hai, toàn bộ 100% doanh nghiệp (12/12 đơn vị) chưa từng thực hiện bất kỳ cuộc đánh giá bài bản nào về năng lực đổi mới công nghệ của đơn vị mình. Khi được hỏi về nguyên nhân, 100% doanh nghiệp xác nhận do thiếu hệ thống tiêu chí định lượng và thiếu phương pháp luận chuẩn xác, đồng thời có 30% doanh nghiệp cho biết nguyên nhân bắt nguồn từ việc thiếu vắng sự hướng dẫn kỹ thuật của cơ quan quản lý.

Thứ ba, nhu cầu tự thân về công cụ đánh giá là cực kỳ cấp thiết, khi có tới 83,3% doanh nghiệp (10/12 đơn vị) nhận định việc đánh giá là cần thiết và 16,7% (2/12 đơn vị) khẳng định là rất cần thiết; 52% đề xuất nên thực hiện đánh giá định kỳ 2 đến 3 năm một lần và 48% cho rằng cần đánh giá bắt buộc trước khi phê duyệt dự án đầu tư mới.

Thứ tư, tồn tại sự phân hóa và nhận thức chưa đồng đều về tầm quan trọng của các yếu tố nguồn lực công nghệ. Trong khi tiêu chí "Ý tưởng đổi mới" và "Năng lực vốn" được đánh giá rất cao với tỷ lệ đồng thuận mức cao nhất lần lượt là 75% (9/12 đơn vị) và 58% (7/12 đơn vị), thì các tiêu chí quan trọng về chiều sâu như "Năng lực nghiên cứu và triển khai" cùng "Năng lực thông tin công nghệ" lại có trên 33% ý kiến đánh giá ở mức thấp hoặc chưa nhận thức đúng vai trò.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên phản ánh tư duy quản trị công nghệ tại các doanh nghiệp địa phương vẫn nặng về tính kinh nghiệm, bị động và thiên về tiếp cận công nghệ theo mô hình kéo khi thị trường đào thải sản phẩm (chiếm 50% lý do đổi mới) thay vì chủ động tạo dựng năng lực cạnh tranh nội sinh. Sự mất cân đối này lý giải vì sao theo báo cáo thống kê quốc gia, dù tổng chi cho đổi mới công nghệ đạt 1.622,3 tỷ đồng nhưng chỉ có 2,44% doanh nghiệp (185 đơn vị) có ngân sách thực hiện nghiên cứu phát triển với mức kinh phí khiêm tốn 193,73 tỷ đồng, chiếm vỏn vẹn 0,003% tổng doanh thu.

Tác giả đề xuất xây dựng hoàn chỉnh hệ thống 12 tiêu chí đánh giá bao gồm: (1) Ý tưởng đổi mới; (2) Năng lực nhân lực; (3) Năng lực vốn; (4) Năng lực hạ tầng công nghệ; (5) Năng lực nghiên cứu và triển khai; (6) Năng lực thông tin công nghệ; (7) Năng lực cải tiến quy trình; (8) Năng lực cạnh tranh của sản phẩm; (9) Năng lực tìm kiếm, lựa chọn công nghệ; (10) Năng lực đàm phán công nghệ; (11) Năng lực tiếp nhận, vận hành công nghệ mới; và (12) Thiết chế đổi mới công nghệ.

Toàn bộ hệ thống tiêu chí này được lượng hóa thông qua bảng điểm ma trận với thang điểm chuẩn 100. Khi áp dụng thử nghiệm tại 5 doanh nghiệp (gồm Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao, Công ty Giấy Việt Trì, Công ty Hóa chất Việt Trì, Công ty Cổ phần Xi măng Phú Thọ, Công ty Cổ phần Gạch CMC), kết quả đánh giá được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ mạng nhện đa giác (radar chart) và biểu đồ cột so sánh. Mô hình biểu đồ mạng nhện phản ánh trực diện các góc khuyết năng lực (như điểm nghẽn về nhân lực R&D hoặc khả năng đàm phán hợp đồng chuyển giao), cho phép ban lãnh đạo doanh nghiệp nhận diện tức thì các điểm nghẽn kỹ thuật để cân đối nguồn lực thay vì đầu tư dàn trải.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu và thực nghiệm mô hình đánh giá, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cụ thể nhằm nâng cao năng lực công nghệ cho doanh nghiệp sản xuất:

Thứ nhất, chuẩn hóa và ban hành cẩm nang hướng dẫn đánh giá năng lực công nghệ. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tiến hành thể chế hóa khung 12 tiêu chí lượng hóa của luận văn thành bộ công cụ đo lường tiêu chuẩn cho các ngành công nghiệp địa phương trong giai đoạn 2010 - 2012, đặt mục tiêu 100% doanh nghiệp công nghiệp chủ lực tiếp cận và áp dụng phương pháp tự đánh giá.

Thứ hai, gia tăng ngân sách trích lập quỹ phát triển khoa học công nghệ nội bộ. Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp cần chủ động cơ cấu lại chi phí sản xuất, nâng tỷ lệ trích quỹ R&D từ mức dưới 0,1% hiện nay lên đạt tối thiểu 2,0% - 3,0% tổng doanh thu hàng năm trong lộ trình đến năm 2015, tập trung kinh phí cho hoạt động mua sắm thông tin sáng chế, trang bị phòng thử nghiệm và bồi dưỡng nhân lực kỹ thuật.

Thứ ba, thiết lập Quỹ Đổi mới công nghệ địa phương và chính sách hỗ trợ tài chính ưu đãi. Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ cần chỉ đạo các sở ngành thành lập cơ chế hỗ trợ lãi suất từ 30% đến 50% cho các khoản vay thương mại phục vụ đổi mới công nghệ sạch, công nghệ tiết kiệm năng lượng, đồng thời đơn giản hóa thủ tục thẩm định để doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi giai đoạn 2010 - 2015.

Thứ tư, đẩy mạnh liên kết đào tạo và phát triển năng lực đàm phán, hấp thu công nghệ. Các doanh nghiệp cần chủ động phối hợp cùng các viện nghiên cứu, trường đại học kỹ thuật tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu định kỳ 6 tháng/lần cho 100% cán bộ quản lý kỹ thuật về kỹ năng tra cứu cơ sở dữ liệu sáng chế quốc tế, đàm phán hợp đồng mua sắm chuyển giao công nghệ và quản trị quy trình sở hữu công nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, Ban Giám đốc và cán bộ quản lý kỹ thuật tại các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp: Tài liệu cung cấp công cụ tự chẩn đoán toàn diện sức khỏe công nghệ qua 12 nhóm tiêu chí, giúp doanh nghiệp định vị chính xác điểm mạnh, điểm yếu trước khi ra quyết định đầu tư máy móc, tránh nguy cơ lãng phí từ 10% đến 20% tổng mức đầu tư dự án do nhập khẩu công nghệ không phù hợp.

Thứ hai, cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương, Ban Quản lý các Khu công nghiệp: Cung cấp cơ sở khoa học và hệ thống chỉ số định lượng để xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển công nghệ cấp tỉnh, kiểm soát chất lượng công nghệ nhập khẩu và giám sát mục tiêu tăng trưởng công nghệ 20%/năm theo các nghị quyết của tỉnh.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản trị Kinh doanh, Kinh tế Công nghiệp: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu hệ thống, mô hình hóa các chỉ số công nghệ phức tạp và phương pháp lượng hóa dữ liệu khảo sát thực địa.

Thứ tư, các tổ chức tư vấn chuyển giao công nghệ, ngân hàng và quỹ đầu tư phát triển: Ứng dụng bộ tiêu chí như một công cụ thẩm định độc lập để đánh giá năng lực hấp thu công nghệ và mức độ rủi ro kỹ thuật của các doanh nghiệp trước khi ký kết hợp đồng chuyển giao bản quyền hoặc phê duyệt giải ngân vốn vay trung và dài hạn.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao doanh nghiệp sản xuất bắt buộc phải đánh giá năng lực đổi mới trước khi mua sắm thiết bị mới? Đánh giá năng lực đổi mới giúp doanh nghiệp nhận diện rõ nguồn lực nội sinh về con người, tài chính và hạ tầng có đáp ứng được công nghệ mới hay không. Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp thất bại khi nhập khẩu dây chuyền hiện đại nhưng nhân lực không làm chủ được quy trình, dẫn đến lãng phí lớn. Đánh giá trước giúp doanh nghiệp chuẩn bị đồng bộ từ kỹ năng đến quy trình quản lý để tối đa hóa hiệu quả vốn đầu tư.

  2. Hệ thống 12 tiêu chí đánh giá trong luận văn gồm những khía cạnh cốt lõi nào? Hệ thống 12 tiêu chí bao quát toàn diện chu trình công nghệ: từ khâu khởi tạo (ý tưởng, thông tin công nghệ), chuẩn bị nguồn lực (nhân lực, vốn, hạ tầng, cơ chế thiết chế), năng lực triển khai thực hiện (R&D, tìm kiếm, lựa chọn, đàm phán chuyển giao công nghệ) cho đến khâu vận hành thương mại hóa (cải tiến quy trình, năng lực cạnh tranh sản phẩm).

  3. Phương pháp lượng hóa các tiêu chí định tính được thực hiện như thế nào để đảm bảo tính khách quan? Mỗi tiêu chí định tính được chi tiết hóa thành các tiêu chí thành phần với các mức mô tả định lượng rõ ràng, gán thang điểm chuẩn từ 1 đến 5 hoặc 1 đến 10 tùy theo trọng số. Điểm số tổng hợp được chuẩn hóa về thang điểm 100 và phân loại theo các mức năng lực (kém, trung bình, khá, tốt), triệt tiêu sự cảm tính chủ quan của người đánh giá.

  4. Doanh nghiệp nên thực hiện đánh giá năng lực đổi mới công nghệ với tần suất bao lâu một lần? Theo khuyến nghị từ kết quả khảo sát, doanh nghiệp nên duy trì đánh giá định kỳ 2 đến 3 năm một lần để theo dõi tiến độ phát triển năng lực nội sinh. Ngoài ra, việc đánh giá bắt buộc phải được tiến hành trước mỗi chu kỳ xây dựng kế hoạch 5 năm hoặc trước khi khởi động các dự án đầu tư đổi mới công nghệ quy mô lớn.

  5. Khoảng cách lớn nhất về năng lực công nghệ của doanh nghiệp địa phương hiện nay là gì? Khoảng cách lớn nhất nằm ở mức đầu tư cho hoạt động nghiên cứu phát triển và năng lực khai thác thông tin công nghệ. Thống kê cho thấy tỷ lệ đầu tư cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam chỉ đạt khoảng 0,1% doanh thu, trong khi hơn 33% cán bộ kỹ thuật chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của R&D và đàm phán công nghệ.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết trọn vẹn khoảng trống lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý công nghệ tại các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp với 5 đóng góp cốt lõi:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về năng lực công nghệ và khẳng định tính tất yếu của việc chuyển dịch từ đánh giá trình độ tĩnh sang đánh giá năng lực động.
  • Chỉ rõ thực trạng 100% doanh nghiệp công nghiệp khảo sát tại Phú Thọ chưa từng được đánh giá năng lực đổi mới công nghệ do thiếu công cụ định lượng.
  • Xây dựng thành công hệ thống 12 tiêu chí lượng hóa kèm thang điểm ma trận 100 điểm, có khả năng áp dụng linh hoạt cho nhiều ngành sản xuất công nghiệp.
  • Thử nghiệm thành công bộ công cụ tại 5 doanh nghiệp nòng cốt, chứng minh tính khả thi và độ tin cậy thông qua biểu đồ mạng nhện trực quan.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa nâng mức trích lập quỹ R&D lên 2,0% - 3,0% doanh thu với sự hỗ trợ cơ chế tài chính từ cơ quan quản lý.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan quản lý và hiệp hội doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp chuẩn hóa bộ tiêu chí này thành quy chuẩn hướng dẫn áp dụng rộng rãi. Các nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất công nghiệp hãy chủ động áp dụng ngay bộ tiêu chí 12 thành phần để rà soát năng lực nội tại, hoạch định chiến lược đầu tư thông minh và sẵn sàng bứt phá trong kỷ nguyên kinh tế số.