Chương 1 TỔNG QUAN 1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ COPD 1. Định nghĩa Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Tiếng Anh: Chronic Obstructive Pulmonary Disease - COPDD)) là một tình trạng bệnh lý đặc trưng bởi sự tắc nghẽn lưu lượng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn. Hiện tượng tắc 6 nghẽn này thường tiến triển từ từ tăng dần và liên quan đến một quá trình viêm bất thường của phổi dưới tác động của ô nhiễm khí thở [39.
Tình hình dịch tễ COPD trên thế giới và tại Việt Nam Tại Mỹ năm 1994 có khoảng gần 16.365 triệu người mắc COPD trong đó 14 triệu người bị VPQMT và hơn 2 triệu người KPT [42. Trong đó có tới 50% số bệnh nhân bị bỏ sót không được chẩn đoán. Tỷ lệ mắc bệnh ước tính vào khoảng 4 – 5% dân số, đã có xấp xỉ 96.000 người chết trong năm vì bệnh. Kể từ năm 1985 đến năm 1995 tỷ lệ tử vong do COPD tăng lên 22% và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 sau bệnh tim mạch, ung thư và đột quỵ.
Trong số 28 nước công nghiệp, Mỹ được xếp hàng thứ 12 về tỷ lệ tử vong do COPD và các bệnh tương tự ở nam giới và hàng thứ 7 ở nữ giới [45. Chi phí trực tiếp và gián tiếp cho bệnh trong năm 2001 là 32,1 tỷ lệ đô la. Với khoảng 15,7 triệu trường hợp mắc COPD ở Mỹ, ước tính giá chi phí cho COPD là 1.522 USD cho 1 bệnh nhân trong 1 năm. Trong đó năm 1996 ở Mỹ tính ra mất 24 triệu ngày làm việc do COPD [19.
Ở Canada, COPD cũng được coi là gánh nặng lớn về sức khoẻ. Theo nghiên cứu của Trung tâm theo dõi sức khoẻ quốc gia của Canada (NPHS) đã khẳng định 750.000 người Canada bị VPQMT và KPT được chẩn đoán bởi các bác sỹ lâm sàng. Tỷ lệ mắc tăng theo tuổi và phân bố như sau: 4,6% ở độ tuổi từ 55 – 64,5% ở độ tuổi từ 64 – 74 và 6,8% ở độ tuổi trên 75. Từ năm 1980 đến năm 1995 tổng số người chết vì COPD tăng rõ rệt từ 4.438 người lên 8.
Theo ước tính của TCYTTG thì trong năm 1997 COPD là nguyên nhân gây tử vong ở 4,1% nam giới ở 2,4% nữ giới châu Âu. Hội hô hấp châu Âu cung cấp dữ liệu về tỷ lệ tử vong vì COPD trong năm 2003 thấy, tỷ lệ tử vong 7 vì COPD thấp nhất ở Hy lạp (6/100.000 dân) và cao nhất ở Kyrgyzstan (95/100. Vương quốc Anh có khoảng 15 – 20% nam trên 40 tuổi, 10% nữ trên 45 tuổi có ho, khạc đờm mạn tính và có 3,4 triệu người được chẩn đoán là có bệnh (bằng 6,4% dân số của nước Anh và xứ Wales) trong đó khoảng 4% nam và 3% nữ (lứa tuổi > 45) được chẩn đoán mắc COPD. Theo thống kê năm 1997 thì tỷ lệ mắc bệnh nói chung ở nam giới là 1,7% và ở nữ giới là 1,4%.
Từ năm 1990 đến năm 1997 tỷ lệ mắc bệnh tăng 25% ở nam và 69% ở nữ [23]. COPD được ước tính với tỷ lệ mắc là 6,2% ở 11 nước thuộc hiệp hội bệnh hô hấp châu Á Thái Bình Dương [29. Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là nước có tỷ lệ mắc COPD cao nhất so với các vùng khác trong cùng khu vực (26,2/1. Tỷ lệ mắc COPD cao nhất ở những nước mà hút thuốc vẫn còn phổ biến và thấp ở những nước hút thuốc không phải là phổ biến hoặc tổng lượng thuốc lá tiêu thụ thấp.
Lưu hành độ của bệnh thấp nhất ở nam giới là 2,69/1.000 (nhóm 49 nước Bắc Phi và Trung Đông) và thấp nhất ở nữ là 1,79/1. Ở Việt Nam, theo Nguyễn Đình Hường (1994), VPQMT là bệnh hay gặp nhất trong số các bệnh phổi mạn tính ở người lớn, với tỷ lệ mắc từ 4 – 5 %.t Theo một số thống kê ở Bệnh viện Bạchặch Mai từ năm 1981 – 1984, VPQMT chiếm tỷ lệ 12,1% tổng số bệnh nhân nhập viện tại khoa Hô hấp. Trong số 3606 bệnh nhân vào điều trị tại khoa từ 1996 – 2000, tỷ lệ bệnh nhân được chẩn đoán COPD lúc ra viện chiếm 25,1%, đứng hàng đầu trong các bệnh lý về phổi và có 15,7% trong số này được chẩn đoán tâm phế mạn [11. 8 Các nghiên cứu dịch tễ về COPD trong cộng đồng ở nước ta còn rất ít.
Trong nghiên cứu điều tra của Nguyễn Quỳnh Loan (2002), tỷ lệ mắc COPD trong cộng đồng dân cư >35 tuổi của phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, Hà Nội là 1,53% [13. Ngô Quý Châu và cộng sựCS nghiên cứu dịch tễ học COPD trong cộng đồng dân cư có tuổi từ 40 trở lên của thành phố Hà Nội thấy tỷ lệ mắc chung cho cả 2 giới là 2%. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam là 3,4% và ở nữ là: 0,7%. Tỷ lệ mắc VPQMT: 4,8% [10.
Các yếu tố nguy cơ: 1. Các yếu tố của chủ thể: - Yếu tố nguy cơ về gen: thiếu Từ năm 1963 Laurell và Ericsson đã phát hiện trong gia đình bị bệnh dãn phế nang do thiếu men alpha-1 antitrypsin. Alpha-1 antitrypsin là glucoprotein có 394 axít amin được tổng hợp ở gan và tác dụng ức chế hoạt động của elastate của bạch cầu đa nhân trung tính, cathepsin G và các men tiêu protein khác. Alpha 1 – antitrypsin là một yếu tố nguy cơ có tính chất gia đình, một chất ức chế tuần hoàn chủ yếu của protease huyết tương, là nguyên nhân dẫn đến dãn phế nang, viêm phế quản mạn và gây dãn phế quản [16.
Thiếu men alpha 1- antitrypsin nặng có thể gây dãn phế nang toàn bộ tiểu thùy ở người trẻ. Bệnh sẽ nặng hơn ở những người thiếu men alpha-1 antitrypsin và hút thuốc lá. - Tăng đáp ứng đường thở: Một điều giải thích chưa thoả đáng là hút thuốc lá nhiều thì nguy cơ mắc COPD cao nhưng không phải tất cả những người hút thuốc lá đều bị mắc bệnh. Một nghiên cứu về tính lành mạnh của phổi ở người lớn bị COPD trong giai đoạn sớm của bệnh đã xác định tình trạng tăng phản ứng đường thở do có giảm FEV1 >20% sau khi hít < 25mg/ml metacholine.
Gần 85% nữ và 60% nằm trong khảo sát phù hợp với hiện tượng tăng phản ứng kích thích [1.], Tuy nhiên sự liên quan như thế nào 9 để dẫn đến phát triển COPD cho đến nay vẫn chưa được biết. Sự tắc nghẽn đường thở cũng có thể xảy ra sau quá trình phơi nhiễm với thuốc lá hoặc các yếu tố môi trường khác và cũng có thể là bệnh đường thở do hút thuốc lá [16. - Quá trình phát triển phổi: Trong thời kỳ thai nghén, trọng lưuợng trẻ lúc sinh và phơi nhiễm trong thời gian còn nhỏ tuổi. Hiện tượng giảm tối đa chức năng phổi (FEV1) có thể xác định được nguy cơ cao đối với phát triển COPD.
Đây là một cảnh báo về khả năng không an toàn đối với sự phát triển của thai nhi ở những phụ nữ hút thuốc lá trong thời kỳ mang thai [1. Những yếu tố phơi nhiễm: - Hút thuốc lá: Khói thuốc lá là yếu tố nguy cơ quan trọng gây COPD. Nhiều nghiên cứu về dịch tễ học đã thấy rằng 80-90% trường hợp mắc COPD có hút thuốc lá. Người ta thấy rằng có mối quan hệ đáp ứng giữa số lượng điếu thuốc hút và tốc độ giảm chức năng thông khí của phổi [16.
Hút thuốc lá, thuốc lào với hình thức chủ động hay thụ động đều là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây phát triển COPD. Người hút thuốc lá chiếm tỷ lệ cao về các triệu chứng hô hấp và những rối loạn chức năng phổi. Tỷ lệ giảm FEV1 hàng năm và tỷ lệ tử vong cao hơn ở người hút thuốc lá so với người không hút thuốc lá [48. Theo tài liệu nghiên cứu của Hội lồng ngực Mỹ (1995) thì có tới 15 - 20% những người hút thuốc lá có biểu hiện lâm sàng của COPD.
- Các loại bụi nghề nghiệp và các chất hoá học: (các dạng hơi,chất kích thích và khói). Độc hại nhất là các bụi cadimi và silic. Những nghề nghiệp có nguy cơ cao phát triển COPD như công nhân hàn, công nhân xây dựng có tiếp xúc nhiều với xi măng, công nhân luyện kim, công nhân chế biến ngũ cốc, bông sợi, công nghiệp sản xuất giấy…[16. 1 0 - Ô nhiễm không khí: Từ việc sử dụng dầu sinh học để đun nấu và sưởi ấm ở những nơi có thông khí kém, cộng thêm phải hít các hơi và khí độc đặc biệt như sulfur dioxide, các nitrogen oxide, CO.vẫn chưa được hiểu biết kỹ.
Theo kết quả nghiên cứu của Anto J.M, Vermeir P(2001) ở các nước công nghiệp phát triển có trung bình từ 1- 5% người trưởng thành được chẩn đoán là mắc COPD [23. Một số yếu tố khác: - Nhiễm trùng: Có thể có vai trò trong quá trình bệnh sinh và phát triển của COPD. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rõ ràng rằng nhiễm trùng là nguyên nhân ưu thế trong đợt cấp COPD [4. Người ta thấy rằng các trẻ nhỏ với tiền sử bị nhiễm trùng hô hấp có liên quan đến giảm chức năng hô hấp và tăng những triệu chứng hô hấp ở tuổi trưởng thành [22].
- Nhiễm virus: Nguy hiểm nhất là Adenovirus, Respiratory Synctial Virus. - Nhiễm HIV: làm tăng nhanh sự khởi phát của dãn phế nang. - Yếu tố dinh dưỡng: Vai trò dinh dưỡng trong sự tiến triển của COPD vẫn chưa thực sự rõ ràng. Suy dinh dưỡng và thiếu cân sẽ làm giảm sức mạnh và khả năng chịu đựng của các cơ hô hấp.
Ngoài ra tình trạng trọng lượng trẻ sơ sinh đẻ ra thấp cân cũng là yếu tố thuận lợi cho phát triển COPD. Một số chất trong thành phần thức ăn có thể có khả năng phòng ngừa căn bệnh này, trong đó vitamin C rất quan trọng trong quá trình chống lại tổn thương do tiếp xúc với khói thuốc lá và ô nhiễm môi trường [16. - Tình trạng kinh tế xã hội: nhiều nghiên cứu đã phát hiện mối liên quan có ý nghĩa của chỉ số FEV1 và FVC với tình trạng kinh tế xã hội. Theo nghiên cứu của Bakke và cộng sự (1995) đã nhận thấy nhóm quần thể có giáo 1 1 dục Cơ sở và Trung học chịu ảnh hưởng hạn chế đường thở khi đo chức năng hô hấp nhiều hơn nhóm có giáo dục Đại học.
Sinh bệnh học: COPD do tác động của 2 nhóm yếu tố cơ địa và môi trường hay còn gọi là nội sinh và ngoại sinh tạo ra quá trình viêm mạn tính tác động lên nhiều vị trí khác nhau trong cấu trúc của phổi bao gồm: phế quản lớn, các tiểu phế quản, nhu mô phổi các tiểu phế quản hô hấp và phế nang và mạch máu phổi, hiện tượng phá huỷ giường mao mạch phổi và viêm lưới động mạch phổi.