Đặt vấn đề Nền nông nghiệp nước ta đang trên đà phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó nhu cầu hợp tác trong sản xuất trở thành tất yếu khách quan. Với khoảng 75% dân số sống ở nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn được xem là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia. Sau gần 15 năm thực hiện đổi mới kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng.
Đời sống nông dân được cải thiện rõ rệt, thu nhập nông hộ tăng trên 10% từ năm 1995 đến nay. Bình quân thu nhập của nông hộ đã tăng từ 7,7 triệu năm 1993 lên 9,8 triệu năm 1998. An ninh lương thực quốc gia được đảm bảo về cơ bản, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm từ 30% năm 1992 xuống còn 13% năm 1999. Cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn được cải thiện.
Tới nay, có 84% diện tích gieo trồng lúa được tưới, 93% xã có đường ô tô tới khu trung tâm, gần 70% số xã có điện, 98% số xã có trường cấp I, 92% số xã có trạm xá, 40% dân cư có nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn… Có thể nói, quá trình đổi mới nền kinh tế và đời sống nông thôn đạt kết quả tốt là nhờ quyền sở hữu của nông dân được xác định rõ, quyền tự chủ về sản xuất của nông dân được phát huy và thị trường được tự do hoá để giá cả dần phản ánh đúng mối quan hệ cung cầu trong nước và diễn biến trên thị trường quốc tế. Qua thực tế sản xuất, nông dân đã nhận thức được rằng muốn nâng cao lợi ích của hộ sản xuất cần phải có sự hỗ trợ rất nhiều mặt như: vốn, công nghệ mới, dịch vụ sản xuất….Qui trình sản xuất càng tiến bộ thì hiệu quả sản xuất càng cao, nhưng yêu cầu đối với sản xuất càng khắt khe. 1 Cùng với xu thế phát triển nông nghiệp chung của cả nước, nền nông nghiệp vùng ĐBSCL với điều kiện tự nhiên thuận lợi đã phát triển mạnh mẽ, sản lượng nông nghiệp đứng đầu cả nước, đặc biệt là các tỉnh: An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp… An Giang với diện tích đất canh tác lớn (khoảng 240.000 ha), điều kiện tự nhiên thích hợp, được phù sa của sông Tiền và sông Hậu bồi đắp hàng năm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp. Tính đến cuối năm 2004, sản lượng lúa đạt 3 triệu tấn/năm, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu.
Bên cạnh đó, chăn nuôi thủy hải sản cũng là thế mạnh làm góp phần tăng trưởng kinh tế của tỉnh và cả nước. Song song với sự phát triển của nền nông nghiệp là sự hình thành nên các hợp tác xã (HTX) sản xuất để đảm bảo cho nhu cầu sản xuất, kịp thời thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của vùng, để có thể đạt hiệu quả cao, nâng cao năng suất của hộ xã viên, từ đó đảm bảo cuộc sống ổn định cho các hộ xã viên. Điển hình là HTX Nông Nghiệp Bình Thành - xã Bình Mỹ - huyện Châu Phú được thành lập vào tháng 12/1999, một mô hình sản xuất có hiệu quả. Hoạt động của HTX là hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ thủy lợi và tổ chức nhân giống lúa.
Cùng với thế mạnh sản xuất lúa thơm Jasmine 2 vụ/năm, năng suất bình quân 14 tấn/ha/năm, sản lượng lúa hàng năm đạt gần 7.000 tấn, nông dân trong vùng còn có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, chọn tạo giống; cán bộ quản lý HTX có kinh nghiệm điều hành sản xuất kinh doanh, nhiều năm liền được công nhận là HTX khá của tỉnh. Năm 2001, HTX đã được Chính phủ Cộng hòa Áo đầu tư dự án công nghệ sau thu hoạch gồm hệ thống: 3 máy sấy, tổng công suất sấy 24 tấn lúa/mẻ; hệ thống xay xát có công suất 2,5 tấn/giờ và hệ thống máy lau bóng gạo công suất 1,2 tấn gạo/giờ, công nghệ tương đối hiện đại, sản phẩm chế biến đạt đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Ngoài ra, còn có HTX Nông nghiệp Bình Mỹ, quản lý nhà máy sấy và xay xát thuộc dự án công nghệ sau thu hoạch, với chức năng chế biến và tiêu thụ lúa gạo cho nông dân trong vùng. HTX được trang bị hoàn chỉnh hệ thống kho chứa, máy sấy và xay xát có công 1 nghệ hiện đại, đủ điều kiện bảo quản, chế biến sản lượng lúa hàng năm trên địa bàn.
Tận dụng lợi thế trên, Châu Phú sẽ khai thác triệt để tiềm năng thế mạnh của địa phương, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất, tăng sức cạnh tranh hạt gạo Bình Mỹ trên thị trường, chủ động cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Ðồng thời, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động HTX còn gặp nhiều khó khăn như: nguồn vốn, giá cả thị trường, công nghệ sau thu hoạch chưa được tốt. Bên cạnh đó, HTX không đủ kinh phí để đầu tư nạo vét kênh mương, các đập ngăn nước, cống bọng, giao thông nội đồng còn khó khăn… làm ảnh hưởng đến việc thu hoạch, vận chuyển, bảo quản…làm giảm chất lượng sản phẩm.
Do đó, trong giai đoạn hiện nay, cần xác định rõ hoạt động của HTX là hoạt động sản xuất kinh doanh, đòi hỏi việc tổ chức hoạt động và điều hành phải phù hợp với tình hình thực tế. Trong quá trình điều tra và nghiên cứu cần tìm ra những khó khăn, thuân lợi trong hoạt đông của HTX để đề ra các biện pháp khắc phục nhằm mục đích đưa hiệu quả hoạt động sản xuất lên cao nhất; góp phần thúc đẩy, nâng cao đời sống của các hộ xã viên trong vùng nghiên cứu. Đó là lý do để thực hiện đề tài: “Điều tra và đánh giá tình hình kinh tế hộ của xã viên Hợp Tác Xã Bình Thành, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2004”. Mục tiêu nghiên cứu Phân tích và đánh giá tình hình kinh tế hộ ở HTXNN Bình Thành.
Tìm ra được mô hình sản xuất hiệu quả nhất trong số nhiều mô hình đang canh tác của các hộ xã viên trong HTX. Tìm ra hướng phát triển mới phù hợp với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, từ đó thúc đẩy nhanh sự phát triển của HTX. 1 Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2. Định hướng phát triển HTX Xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác đa dạng với bộ phận nòng cốt là các HTX kiểu mới dưới nhiều hình thức đa dạng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ tổ nhóm hợp tác đến HTX và liên hiệp HTX.
Nhà nước tiếp tục tạo điều kiện về mặt pháp lý và cơ chế chính sách để thúc đẩy phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp và không ngừng mở mang các hoạt động ngành nghề dịch vụ ở nông thôn, từng bước hình thành nhu cầu hợp tác sản xuất giữa các hộ và người lao động với nhau, đồng thời khuyến khích và hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế hợp tác giản đơn (tổ, nhóm, liên kết.) hướng theo sự thành lập các HTX kiểu mới. Chú trọng xây dựng các HTX đã đăng ký hoạt động theo luật làm sao để các HTX thực sự trở thành HTX kiểu mới có sức hấp dẫn và thu hút đối với đông đảo người lao động, tái lập và củng cố uy tín HTX trong toàn xã hội. Nhà nước quản lý HTX thông qua luật pháp và cơ chế, chính sách, không can thiệp trực tiếp vào quá trình hoạt động của HTX. Thường xuyên theo dõi, nắm bắt những vấn đế phát sinh để giúp kinh tế hợp tác và HTX phát triển được thuận lợi, bền vững.
Liên kết kinh tế giữa các tổ hợp tác, HTX với các doanh nghiệp để hỗ trợ, giúp đỡ nhau phát triển sản xuất kinh doanh là xu hướng tiến bộ sẽ tạo ra sự đa dạng cao hơn của kinh tế hợp tác. Hướng phát triển kinh tế hợp tác và HTX phải theo từng ngành nghề, từng lĩnh vực với từng hoạt động cụ thể: nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp), công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ. Phát triển kinh tế hợp tác và HTX theo vùng kinh tế. Sự phát triển của kinh tế hợp tác, HTX phụ thuộc vào trình độ phát triển sản xuất hàng hoá cụ thể trong từng lĩnh vực, ở từng địa bàn và phụ thuộc chính vào nhận thức của người lao động về lợi ích của kinh tế hợp tác đối với bản thân, từ đó phát sinh nhu cầu hợp tác.
Vì vậy, với các vùng với trình độ phát triển kinh tế khác nhau thì nhu cầu hợp tác cũng khác nhau. Sự nhận biết được các nhu cầu đó sẽ giúp các cấp lãnh đạo Đảng, nhà 1 nước, địa phương đề ra hướng phát triển kinh tế hợp tác và HTX phù hợp, được người lao động ủng hộ và tự nguyện tham gia. Định hướng phát triển HTX ở An Giang Định hướng phát triển HTX nông nghiệp An Giang là củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX đang có, theo hướng giảm giá thành và nâng cao chất lượng dịch vụ như cung cấp cây, con, cung ứng vật tư, tín dụng nội bộ, tiêu thụ sản phẩm. Phát triển HTX theo mô hình kinh doanh tổng hợp, gắn sản xuất-chế biến-tiêu thụ, đầu tư kỹ thuật phát triển chiều sâu hình thành các vùng chuyên canh như trồng rau sạch, trồng bắp non, đậu nành rau.
cung ứng sản phẩm cho các công ty, dần dần tiến tới chế biến và bán sản phẩm cho các siêu thị, xuất khẩu. Với định hướng như vậy, An Giang đã thành lập thí điểm HTX theo Nghị quyết 13 là: “ Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, mà nòng cốt là HTX,. liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các thành phần kinh tế, không giới hạn qui mô, lĩnh vực và địa bàn”. Điển hình là HTX nông nghiệp Trường Thạnh- huyện Phú Tân và HTX nông nghiệp Đức Thành-huyện Châu Phú.
HTX nông nghiệp Trường Thạnh đã tạo được mối liên kết với 7 pháp nhân (1 doanh nghiệp nhà nước chuyên xuất khẩu nông sản, 3 doanh nghiệp tư nhân nghề xay xát, 3 HTX ) và 16 xã viên thể nhân trong đó có 3 xã viên là bạn hàng sáo.