Kết Quả Phẫu Thuật Nội Soi Điều Trị Ung Thư Dạ Dày Giai Đoạn I, II, III

Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày giai đoạn I, II, III, cung cấp phân tích chuyên sâu và kết quả nghiên cứu.

Chuyên ngành

Ngoại Tiêu hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2017

167
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sơ lược về lịch sử phẫu thuật cắt dạ dày

1.2. Nhắc lại giải phẫu dạ dày ứng dụng trong phẫu thuật cắt dạ dày và nạo hạch

1.3. Cập nhật giải phẫu bệnh ung thư dạ dày

1.4. Vai trò của nạo hạch trong điều trị ung thư dạ dày

1.5. Các phương pháp phẫu thuật điều trị ung thư dạ dày

1.6. Hóa trị trong ung thư dạ dày

1.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ sống còn của bệnh nhân sau mổ cắt dạ dày

1.8. Tổng quan về mổ mở cắt dạ dày trong điều trị ung thư dạ dày

1.9. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày

1.10. Tình hình phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung bệnh nhân

3.2. Đặc điểm bệnh

3.3. Đặc điểm thương tổn

3.4. Kết quả phẫu thuật

3.5. Kết quả sau mổ

3.6. Tỉ lệ thành công của PTNS cắt dạ dày và nạo hạch điều trị ung thư dạ dày

3.7. Các yếu tố liên quan đến tai biến và biến chứng

3.8. Di căn, tái phát và thời gian sống còn sau mổ

3.9. Các yếu tố liên quan đến thời gian sống còn sau mổ

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung bệnh nhân

4.2. Tai biến trong mổ và biến chứng sau mổ

4.3. Tỉ lệ thành công của PTNS cắt dạ dày và nạo hạch

4.4. Đặc điểm về kết quả phẫu thuật

4.5. Kết quả về phương diện ung thư học

4.6. Kết quả sống còn sau mổ

4.7. Một số lưu ý về kỹ thuật mổ

4.8. Hạn chế của nghiên cứu

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: BỆNH ÁN MẪU THU THẬP SỐ LIỆU

PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH BỆNH NHÂN TRONG NGHIÊN CỨU

PHỤ LỤC 3: PHÂN CHIA CÁC NHÓM HẠCH DẠ DÀY

PHỤ LỤC 4: PHÂN CHIA ĐẠI THỂ VÀ VI THỂ UNG THƯ DẠ DÀY THEO HIỆP HỘI UNG THƯ DẠ DÀY NHẬT BẢN

PHỤ LỤC 5: PHÂN CHIA GIAI ĐOẠN TNM THEO HIỆP HỘI UNG THƯ DẠ DÀY NHẬT BẢN

Tóm tắt

I. Phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư dạ dày

Phẫu thuật nội soi (PTNS) đã trở thành một phương pháp điều trị quan trọng trong ung thư dạ dày, đặc biệt ở các giai đoạn I, II, III. Phương pháp này được giới thiệu lần đầu bởi Kitano vào năm 1994 và đã được áp dụng rộng rãi tại Nhật Bản và Hàn Quốc. PTNS mang lại nhiều lợi ích như giảm đau sau mổ, thời gian hồi phục nhanh và ít biến chứng hơn so với phẫu thuật mở. Tuy nhiên, vẫn còn tranh cãi về hiệu quả của PTNS trong điều trị ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển, đặc biệt là ở giai đoạn III.

1.1. Ưu điểm của phẫu thuật nội soi

PTNS được đánh giá cao nhờ tính xâm lấn tối thiểu, giúp bệnh nhân hồi phục nhanh hơn. Các nghiên cứu cho thấy PTNS giảm đáng kể lượng máu mất trong mổ và thời gian nằm viện ngắn hơn so với phẫu thuật mở. Đặc biệt, ở ung thư dạ dày giai đoạn sớm, PTNS đạt hiệu quả tương đương với phẫu thuật mở về mặt tiên lượng ung thư.

1.2. Thách thức trong phẫu thuật nội soi

Mặc dù có nhiều ưu điểm, PTNS đòi hỏi kỹ năng cao từ phía bác sĩ phẫu thuật. Việc nạo hạch lympho trong PTNS cũng là một thách thức lớn, đặc biệt ở các giai đoạn II và III. Ngoài ra, số lượng bệnh nhân được nghiên cứu trong các báo cáo còn hạn chế, đặc biệt là ở giai đoạn T4a, làm giảm độ tin cậy của kết quả.

II. Kết quả phẫu thuật nội soi theo giai đoạn ung thư

Nghiên cứu đánh giá kết quả phẫu thuật của PTNS trong điều trị ung thư dạ dày theo từng giai đoạn I, II, III cho thấy sự khác biệt rõ rệt. Ở giai đoạn I, tỉ lệ thành công của PTNS cao, với tỉ lệ sống còn sau 5 năm đạt trên 90%. Tuy nhiên, ở giai đoạn II và III, kết quả giảm dần, đặc biệt là ở giai đoạn III, nơi tỉ lệ sống còn sau 5 năm chỉ đạt khoảng 30-40%.

2.1. Giai đoạn I

giai đoạn I, PTNS được coi là phương pháp điều trị tối ưu. Các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ biến chứng phẫu thuật thấp và tỉ lệ sống còn cao. PTNS cũng giúp bảo tồn chức năng dạ dày tốt hơn so với phẫu thuật mở.

2.2. Giai đoạn II và III

giai đoạn II và III, hiệu quả của PTNS giảm dần do mức độ xâm lấn của khối u và tỉ lệ di căn hạch cao hơn. Tuy nhiên, PTNS vẫn được coi là một lựa chọn khả thi, đặc biệt khi kết hợp với hóa trịxạ trị để cải thiện tiên lượng ung thư.

III. Đánh giá hiệu quả điều trị và tiên lượng

Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về hiệu quả điều trị của PTNS trong ung thư dạ dày. Các yếu tố như thời gian sống còn, tỉ lệ tái phátbiến chứng sau mổ được phân tích chi tiết. Kết quả cho thấy PTNS là phương pháp an toàn và hiệu quả, đặc biệt ở giai đoạn sớm của bệnh.

3.1. Thời gian sống còn

Thời gian sống còn sau mổ là một chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả của PTNS. Ở giai đoạn I, tỉ lệ sống còn sau 5 năm đạt trên 90%, trong khi ở giai đoạn III, tỉ lệ này giảm xuống còn 30-40%. Các yếu tố như di căn hạchkích thước khối u ảnh hưởng đáng kể đến tiên lượng.

3.2. Biến chứng và phục hồi sau mổ

PTNS giúp giảm đáng kể tỉ lệ biến chứng phẫu thuật so với phẫu thuật mở. Thời gian phục hồi sau mổ cũng ngắn hơn, giúp bệnh nhân trở lại cuộc sống bình thường nhanh chóng. Tuy nhiên, vẫn cần theo dõi chặt chẽ để phát hiện sớm các biến chứng như xì miệng nối hoặc nhiễm trùng.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày theo giai đoạn i ii iii

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ PHẪU THUẬT CẮT DẠ DÀY Ung thư dạ dày đã được nghiên cứu từ hàng trăm năm qua. Các phương pháp điều trị khác nhau đã được đề cập đến như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, liệu pháp miễn dịch trị… Tuy nhiên mỗi phương pháp đều có những hạn chế nhất định. Nhưng, phẫu thuật vẫn được xem là phương pháp điều trị tối ưu nhất và là lựa chọn đầu tiên cho quyết định điều trị. Avicenna (980 – 1037) là người báo cáo đầu tiên về ung thư dạ dày.

Tuy nhiên, năm 1761, Morgagni là người đầu tiên mô tả chi tiết về tổn thương ác tính của dạ dày. Năm 1879, Péan là người đầu tiên mổ cắt dạ dày cho một bệnh nhân ung thư dạ dày nhưng bệnh nhân đã tử vong sau mổ 5 ngày. Năm 1881, Billroth là người đầu tiên mổ cắt dạ dày thành công trên người. Phẫu thuật cắt dạ dày theo Billroth I đã mang tên ông cho đến bây giờ.

Năm 1885, sau khi cắt bỏ phần xa dạ dày của bệnh nhân bị ung thư, Billroth đóng mỏm tá tràng và mặt cắt của dạ dày. Để lưu thông dạ dày, ông thực hiện miệng nối dạ dày - ruột non bằng cách nối ruột non vào mặt sau mỏm dạ dày. Từ đó, phẫu thuật này được gọi là phẫu thuật Billroth II. Năm 1888, Von Eiselsberg là người đầu tiên thay đổi kiểu nối Billroth II bằng cách khâu bớt phần trên của mỏm cắt dạ dày rồi nối phần dưới còn lại của mỏm dạ dày với hỗng tràng kiểu tận – bên.

Nhưng đến năm 1889 Hofmester và năm 1919 Finsterer mới công bố phẫu thuật đó, vì vậy ngày nay phẫu thuật này mang tên Hofmester – Finsterer. Năm 1897, Schlatter là người đầu tiên trên thế giới thực hiện thành công ca cắt toàn bộ dạ dày điều trị ung thư. Năm 1899, Braun tạo thêm một miệng nối giữa quai đến và quai đi kiểu bên – bên để lưu thông quai đến dễ dàng hơn. Sau này miệng nối này được gọi là miệng nối Braun.

5 Năm 1906, Cuneo là người đầu tiên mô tả dẫn lưu bạch huyết của dạ dày và ảnh hưởng đến mức độ cắt dạ dày trong ung thư. Năm 1907, Roux cắt dạ dày toàn bộ và tái lập lưu thông tiêu hóa theo kiểu chữ Y. Năm 1911, Polya cải tiến phương pháp phẫu thuật Billroth II là để nguyên mỏm cắt dạ dày và nối tận – bên vào quai hỗng tràng, được gọi là miệng nối Polya. Năm 1951, Mc Neer là người đầu tiên đề cập đến kỹ thuật nạo vét hạch rộng rãi trong điều trị ung thư dạ dày sau khi phẫu tích 92 mẫu tử thi sau cắt dạ dày do ung thư.

Không lâu sau đó, năm 1953 Sunderland mô tả chi tiết hệ thống bạch huyết quanh dạ dày. Về phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày, năm 1994 Kitano báo cáo trường hợp đầu tiên trên thế giới [66],[71]. NHẮC LẠI GIẢI PHẪU DẠ DÀY ỨNG DỤNG TRONG PHẪU THUẬT CẮT DẠ DÀY VÀ NẠO HẠCH Dạ dày là phần rộng nhất của ống tiêu hóa, nối giữa thực quản và tá tràng, nằm ở phần bụng trên, dưới cơ hoành, kéo dài từ hạ sườn trái xuống dưới và qua phải. Đây là cơ quan di động, nên vị trí của nó phụ thuộc vào tư thế của cơ thể, mức độ đầy của dạ dày, mức độ đầy của ruột, trương lực cơ thành bụng và thể trạng của bệnh nhân.

Thể tích trung bình của dạ dày tăng từ 30 ml lúc mới sinh, đến 1000 ml ở tuổi dậy thì và 1500 ml ở người lớn.1 Hình thể ngoài của dạ dày Về mặt ứng dụng phẫu thuật, theo Hiệp hội nghiên cứu ung thư dạ dày Nhật Bản [55], để xác định vị trí thương tổn dạ dày theo chiều dọc, dạ dày được chia làm 3 vùng bằng cách nối giữa các điểm chia đều 3 phần ở hai bờ cong lớn và nhỏ, theo ký hiệu như sau: 1/3 trên (U: upper), 1/3 giữa (M: middle) và 1/3 dưới (L: lower).1 Phân chia hình thể ngoài của dạ dày Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association, 2011" [55] Để xác định vị trí thương tổn theo thiết diện chu vi, dạ dày được chia làm 4 phần: bờ cong lớn, bờ cong nhỏ, thành trước và thành sau. Tùy vị trí thương tổn mà chúng ta có thể xác định được các cơ quan có thể bị xâm lấn cũng như khả năng di căn hạch.2) Thành trước Bờ cong lớn Bờ cong nhỏ Thành sau Hình 1.2 Phân chia theo thiết diện chu vi dạ dày Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association, 2011" [55] 7 Mạc nối lớn: trong phẫu thuật cắt dạ dày điều trị ung thư, mạc nối lớn thường được cắt bỏ toàn bộ hoặc một phần. Mạc nối lớn là do một phần của mạc treo vị sau bị trĩu xuống bởi sự phát triển xuống dưới của ngách gan ruột. Hai lá phúc mạc của mạc treo vị dính vào nhau dọc theo bờ cong lớn của dạ dày, chạy xuống dưới tỏa ra như một tấm khăn dài và dày rồi quặt ngược lên bám vào đại tràng ngang và mạc treo đại tràng ngang, sau đó 2 lá lại tách ra để bao phủ tá tràng và mặt trước tụy rồi tiếp tục chạy lên tới cơ hoành.

Như vậy, mạc nối lớn bao gồm 4 lá. Ứng dụng trong phẫu thuật cắt dạ dày triệt căn là phải lấy luôn cả lá phúc mạc mặt trước mạc treo đại tràng ngang và tụy. Mạc nối nhỏ: là màng gồm 2 lá phúc mạc nối từ gan vào bờ cong nhỏ dạ dày và vào tá tràng. Nó chạy ở mặt dưới gan theo rãnh ngang liên quan với cuốn gan và lên dính vào bờ phải thực quản, dọc xuống bờ cong nhỏ dạ dày và phần trên tá tràng D1.

Bờ phải của mạc nối nhỏ là dây chằng gan tá tràng chứa cuốn gan gồm ĐM gan riêng, TM cửa và các ống mật ngoài gan.2 Các mạch máu nuôi dạ dày 1.1 Động mạch (hình 1.3) Các ĐM chính cấp máu cho dạ dày đều có nguồn gốc từ ĐM thân tạng. ĐM vị trái, ĐM lách và ĐM gan chung xuất phát trực tiếp từ ĐM thân tạng. ĐM lách chia các nhánh ĐM vị ngắn, ĐM vị sau và ĐM vị mạc nối trái. ĐM gan chung chia nhánh ĐM gan riêng và ĐM vị tá tràng.

ĐM gan riêng chia nhánh ĐM vị phải và ĐM trên tá tràng. ĐM vị tá tràng chia nhánh ĐM dưới môn vị và ĐM vị mạc nối phải. Các ĐM này được nối với nhau thành 2 vòng ĐM quanh dạ dày là vòng mạch ở bờ cong nhỏ và vòng mạch ở bờ cong lớn.  Vòng ĐM bờ cong nhỏ: được tạo bởi ĐM vị trái và ĐM vị phải - ĐM vị trái: là nhánh nhỏ nhất của ĐM thân tạng, đi lên qua trái đường giữa và nằm trong mạc nối nhỏ đến dưới trụ hoành trái Biến đổi giải phẫu của ĐM vị trái: 90% xuất phát từ ĐM thân tạng, 4% từ thân chung vị lách, 3% trực tiếp từ ĐM chủ bụng, 2% từ thân chung vị gan [52].

8 Theo Lê Văn Cường [5], ĐM vị trái của người Việt Nam có nguyên ủy: từ ĐM thân tạng (74,1%), từ ĐM chủ bụng (16,1%), từ thân chung vị lách (6,4%) và từ thân chung gan vị (3,2%). ĐM vị trái ĐM vị sau ĐM thân tạng ĐM lách Các ĐM vị ngắn ĐM gan riêng ĐM vị phải ĐM gan chung ĐM vị tá tràng ĐM vị mạc nối trái ĐM trên tá tràng ĐM chủ bụng ĐM vị mạc nối phải ĐM dưới môn vị Hình 1.3 Các ĐM cung cấp máu cho dạ dày Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association, 2011 [55] - ĐM vị phải: là nhánh nhỏ xuất phát từ ĐM gan riêng và đi đến phần dưới của bờ cong nhỏ. Nó cho một hoặc nhiều nhánh trên môn vị, đồng thời đi dọc theo bờ cong nhỏ của dạ dày và nối với động mạch vị trái. Biến đổi giải phẫu của ĐM vị phải: 50 - 68% xuất phát từ ĐM gan riêng, 28,8 - 40,5% từ ĐM gan trái và 3,2% từ ĐM gan chung [52].

 Vòng ĐM bờ cong lớn: được tạo bởi ĐM vị mạc nối phải và ĐM vị mạc nối trái - ĐM vị mạc nối phải: xuất phát từ ĐM vị tá tràng ở bờ dưới tá tràng D1 rồi đi trong mạc nối vị đại tràng song song với bờ cong lớn lên trên. - ĐM vị mạc nối trái: là một nhánh lớn của ĐM lách, nó đi đến dạ dày trong mạc vị đại tràng tại vị trí giữa và dọc theo bờ cong lớn.  Các ĐM vị ngắn 9 Khoảng 5-7 ĐM vị ngắn xuất phát từ các nhánh tận của ĐM lách hoặc từ ĐM lách. Các ĐM này đi đến phần trên thân vị và phình vị.

Trong phẫu thuật cắt bán phần dưới và nạo hạch D2, các ĐM này được bảo tồn và cung cấp máu cho phần dạ dày còn lại.  ĐM vị sau Xuất phát từ ĐM lách và đi lên phần sau thân vị, tâm vị và phình vị. Sự hiện diện của ĐM vị sau thay đổi theo nhiều nghiên cứu từ 36 – 86 % [5],[52]. Theo Okabayashi [95], ĐM vị sau hiện diện ở 97,2 % các trường hợp (70/72 trường hợp) và xuất phát từ ĐM lách.

Theo Suzuki [119], ĐM vị sau có ở 62,3% (38/61) các trường hợp. Trong số này, có 7/38 trường hợp (18,4%) ĐM vị sau xuất phát từ phần gần ĐM lách, 18/38 trường hợp (47,8%) từ phần giữa và 13/38 trường hợp (34,2%) xuất phát từ phần xa của ĐM lách. Hiểu biết về giải phẫu của ĐM vị sau giúp tránh biến chứng chảy máu khi nạo hạch nhóm 10, 11p và 11d.  Tuần hoàn ĐM trong thành dạ dày (hình 1.4) Dạ dày là một trong những cơ quan được tưới máu tốt nhất, không chỉ được cấp máu bởi nhiều ĐM mà còn có hệ thống mạng mạch nối phong phú bên ngoài và cả trong thành dạ dày.

Dạ dày vẫn có thể tồn tại nếu chúng ta thắt tất cả các ĐM chỉ trừ một trong các ĐM của nó. Vì vậy trong phẫu thuật cắt dạ dày, cần phải cầm máu kỹ các mặt cắt để tránh chảy máu sau mổ.2 Tĩnh mạch: các TM cùng tên với ĐM và đổ trực tiếp vào TM cửa hoặc vào TM lách rồi về TM cửa và dẫn máu về gan. - TM vị trái (hay TM vành vị) (hình 1.6): đổ trực tiếp vào TM cửa hoặc TM lách. Có 3 vị trí đổ của TM vị trái và tỉ lệ như ở hình 1.

TM vị trái thường không đi kèm sát với ĐM vị trái nên trong phẫu thuật chúng ta phải phẫu tích và thắt riêng biệt.4 Tuần hoàn bàng hệ trong thành dạ dày Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association, 2011 [55] TM cửa TM lách TM mạc treo TM mạc treo tràng tràng trên dưới Hình 1.5 Các vị trí dẫn lưu của TM vị trái Nguồn: Rebibo, 2012 [102] 11 Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh Giá Kết Quả Phẫu Thuật Nội Soi Điều Trị Ung Thư Dạ Dày Giai Đoạn I, II, III là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào hiệu quả của phương pháp phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư dạ dày ở các giai đoạn sớm và trung gian. Tài liệu này cung cấp những phân tích chi tiết về tỷ lệ thành công, biến chứng, và lợi ích của kỹ thuật này so với phương pháp truyền thống, giúp bệnh nhân và bác sĩ có cái nhìn toàn diện hơn về lựa chọn điều trị.

Để mở rộng kiến thức về ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả điều trị triệt căn ung thư trực tràng thấp bằng phẫu thuật nội soi có bảo tồn cơ thắt, hoặc Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả xa sau phẫu thuật triệt căn ung thư biểu mô tuyến dạ dày tại bệnh viện việt đức. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi bảo tồn cơ thắt trong ung thư trực tràng giữa và dưới cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về các kỹ thuật bảo tồn trong phẫu thuật nội soi.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức chuyên môn mà còn giúp bạn có cái nhìn đa chiều về các phương pháp điều trị ung thư hiện đại.