ĐẶT VẤN ĐỀ Bàn giao người bệnh là hoạt động được thực hiện giữa các nhân viên y tế nhằm đảm bảo tính đầy đủ, chính xác và liên tục thông tin của người bệnh kể từ thời điểm người bệnh đến khám chữa bệnh tại cơ sở y tế cho đến khi người bệnh ra viện. Tại mỗi cơ sở y tế, quy trình khám và điều trị cho người bệnh thường trải qua nhiều công đoạn như tiếp đón, khám đa khoa, khám chuyên khoa, thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng, thực hiện các phẫu thuật/thủ thuật. Các công đoạn trong quy trình khám chữa bệnh được thực hiện bởi những nhân viên y tế khác nhau, thuộc bộ phận chuyên trách khác nhau [41]. Do vậy, việc bàn giao người bệnh giữa những phòng ban khác nhau, những nhân y tế khác nhau - trong đó có bàn giao người bệnh trước phẫu thuật/thủ thuật - là rất quan trọng [35] [36] [37].
Mục đích của việc bàn giao người bệnh nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ chính xác thông tin của người bệnh giữa các nhân viên y tế trong cùng một nhóm chăm sóc và điều trị hay giữa các ca làm việc. Hoạt động này nhằm đảm bảo an toàn người bệnh cũng như nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh [34] [35] [36] [42]. Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa ra vấn đề “Thông tin liên lạc trong việc bàn giao người bệnh” là một trong năm chủ đề lớn về an toàn người bệnh và được triển khai trên toàn cầu [46]. Theo báo cáo của WHO mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 230 triệu ca phẫu thuật/thủ thuật biến trứng xảy ra trong 7 triệu trường hợp, trong đó 1 triệu trường hợp tử vong liên quan đến an toàn phẫu thuật [36] [40] [44].
Tại Việt nam, bàn giao người bệnh trước phẫu thuật/thủ thuật đã được các cơ sở y tế xây dựng và áp dụng thành hoạt động thường quy. Mô hình bàn giao thông tin người bệnh nhằm đảm bảo mọi thông tin của người bệnh trong suốt quá trình điều trị tại bệnh viện được truyền tải một cách đầy đủ, chính xác nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ sai sót ảnh hưởng đến chất lượng điều trị, chăm sóc và an toàn của người bệnh. Một số nghiên cứu về “Bàn giao NB trước phẫu thuật/thủ thuật” đã được thực hiện tại Việt nam, nhằm chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong quá trình bàn giao NB trước phẫu thuật/thủ như nghiên cứu của Bùi Thị Huyền 2015 tại bệnh viện 354 cho một số kết quả quan trọng như: Điều dưỡng nhận người bệnh không kiểm tra lại thông tin, đối chiếu tên người 2 bệnh là 3,3%, chưa thực hiện băng đánh dấu vị trí phẫu thuật 84,7%, Điều dưỡng thực hiện bàn giao thuốc và VTTH chưa đầy đủ là 18%. Đây là những yếu tố rất dễ gây ra phẫu thuật nhầm người bệnh, nhầm vị trí thực hiện phẫu thuật/thủ thuật, nhầm thuốc.
Tại bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 2015 chúng tôi đã tiến hành thực hiện Dự án “Cải thiện chất lượng bàn giao người bệnh trước phẫu thuật/thủ thuật theo kế hoạch” [27]. Kết quả cho thấy Điều dưỡng bàn giao thông tin “Định danh người bệnh” là 89,4 %, bàn giao “Đánh dấu vị trí PT/TT” là 61,2 %, bàn giao “Các thuốc đã dùng theo y lệnh và các chỉ định thuốc khác” là 83,5 % và hầu hết các kết quả các tiêu chí khác trong khoảng trên 70 % đến dưới 90 %. Nhằm phòng tránh những tai biến như phẫu thuật nhầm người bệnh, nhầm vị trí phẫu thuật/thủ thuật, sử dụng thuốc nhầm về tên thuốc hay đường dùng thuốc hay những vấn đề an toàn khác [27] [28]. Tại Vinmec Times City cũng đã tiến hành các biện pháp can thiệp để cải thiện chất lượng bàn giao người bệnh trước PT/TT chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu “Đánh giá kết quả Dự án cải thiện chất lượng bàn giao người bệnh trước phẫu thuật/thủ thuật theo kế hoạch tại bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 2015 — 2018”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kết quả thực hiện bàn giao người bệnh sau Dự án cải thiện chất lượng bàn giao người bệnh trước phẫu thuật/thủ thuật theo kế hoạch tại bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City giai đoạn 2015 - 2018. Phân tích thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện Dự án cải thiện chất lượng bàn giao người bệnh trước phẫu thuật/thủ thuật theo kế hoạch tại bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City giai đoạn 2015 - 2018. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm 1. Khái niệm và phân loại phẫu thuật/thủ thuật Phẫu thuật/thủ thuật là những can thiệp ngoại khoa xâm lấn trên cơ thể người bệnh do Bác sỹ phẫu thuật thực hiện nhằm mục đích điều trị bệnh tật cho người bệnh [21]. Được phân loại theo tính chất, vị trí, thời gian và tầm quan trọng của việc tiến hành phẫu thuật/thủ thuật như sau: • Phân loại theo mục đích của phẫu thuật/thủ thuật [16] [21]: Phẫu thuật/thủ thuật điều trị triệt để và phẫu thuật/thủ thuật điều trị tạm thời. • Phân loại theo tính chất, vị trí và thời gian thực hiện phẫu thuật/thủ thuật [16] [21]: Phẫu thuật/thủ thuật tối khẩn cấp, phẫu thuật/thủ thuật khẩn cấp, phẫu thuật/thủ thuật cấp cứu trì hoãn, phẫu thuật/thủ thuật theo kế hoạch, phẫu thuật/thủ thuật một thì, phẫu thuật/thủ thuật nhiều thì.
• Phân loại theo tầm quan trọng của phẫu thuật/thủ thuật: Tiểu phẫu thuật, trung phẫu thuật và đại phẫu thuật. Khái niệm gây tê/gây mê và phân loại Gây tê/gây mê là những phương pháp sử dụng thuốc và các trang thiết bị, phương tiện, kỹ thuật nhằm mục đích làm cho người bệnh mất cảm giác đau tại vùng thực hiện phẫu thuật/thủ thuật hoặc mất cảm giác toàn thân [30]. Phương pháp gây tê: bao gồm phương pháp gây tê tại chỗ và gây tê vùng (gây tê tuỷ sống, tê ngoài màng cứng, tê thần kinh) nhằm mục đích làm mất cảm đau tại một vị trí hay một vùng trên cơ thể người bệnh. Phương pháp gây mê: bao gồm phương pháp gây mê tĩnh mạch, gây mê bằng khí mê bốc hơi, gây mê nội khí quản nhằm mục đích làm mất cảm giác đau và mất ý thức và được hỗ trợ hô hấp như thở oxy hoặc máy thở để thực hiện các phẫu thuật/thủ thuật cho người bệnh.
5 Phối hợp gây mê và gây tê: sử dụng cả 2 phương pháp gây mê kết hợp với gây tê nhằm mục đích vừa duy trì mê vừa giảm đau trong và sau phẫu thuật [30]. Khái niệm bàn giao người bệnh Là việc đảm bảo mọi thông tin quan trọng của người bệnh được bàn giao đầy đủ, chính xác và thống nhất giữa các cán bộ y tế tham gia chăm sóc và điều trị người bệnh [1] [32]. Việc thực hiện bàn giao người bệnh diễn ra giữa các nhân viên y tế hay giữa người bàn giao và người nhận bàn giao khi theo dõi, chăm sóc, điều trị cho người bệnh. Trong đó, người bàn giao chịu trách nhiệm cung cấp thông tin, các giấy tờ cần thiết cho người nhận bàn giao bằng lời nói và bảng kiểm bàn giao người bệnh nhằm đảm bảo các thông tin cần thiết liên quan đến người bệnh được bàn giao đầy đủ và thống nhất.
Người nhận bàn giao có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra tính đầy, chính xác của thông tin, chủ động lấy thêm thông tin còn chưa rõ từ người bàn giao hoặc người bệnh hoặc thân nhân người bệnh, đồng thời ghi chép lại những thông tin cần thiết nhằm thực hiện công tác theo dõi, điều trị và chăm sóc tiếp theo cho người bệnh [1] [32]. Nội dung bàn giao thông tin người bệnh gồm: 1. Định danh người bệnh Là việc xác định danh tính của NB bao gồm các thông tin như: Họ tên đầy đủ, ngày tháng năm sinh và mã số nhập viện của NB. Định danh chính xác người bệnh khi bàn giao giữa các nhân viên y tế giúp quá trình theo dõi, chăm sóc, khám chữa bệnh và áp dụng đúng dịch vụ, quy trình điều trị đúng cho người bệnh.
Định danh sai người bệnh sẽ là nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong khi cung cấp dịch vụ y tế cho người bệnh [1] [22]. Trong trường hợp người bệnh có sự trùng lặp, nghi ngờ trùng lặp hoặc sai lệch thông tin về họ tên hay ngày tháng năm sinh bắt buộc sử dụng thêm mã người bệnh, địa chỉ và/ hoặc số điện thoại cá nhân để xác định tính duy nhất cho việc định danh người bệnh. Không sử dụng số gường, số phòng, khoa hay vị trí để định danh người bệnh. 6 Thời điểm cần định danh người bệnh [1] [6] [7]: (1) Thực hiện các kỹ thuật chuyên môn phục vụ khám và điều trị cho người bệnh.
(3) Thực hiện các can thiệp ngoại khoa. (4) Thực hiện các thủ thuật xâm lấn. (5) Thực hiện thuốc hoặc bàn giao thuốc cho người bệnh. (6) Thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán lâm sàng.
(7) Thực hiện các chỉ định liên quan đến truyền máu và các chế phẩm của máu. (8) Bàn giao người bệnh. (9) Tiếp đón, thanh toán, khám chữa bệnh, phục vụ ăn uống. Khi bất kỳ thông tin nào của người bệnh không trùng khớp với thông tin trên giấy tờ, HSBA, dịch vụ sẽ không được thực hiện cho đến khi có bằng chứng xác thực đúng thông tin của người bệnh.
Trong trường hợp thất lạc, bị mờ thông tin cần phải được nhân viên y tế thay mới. Chẩn đoán và tình trạng hiện tại của người bệnh Chẩn đoán bệnh của người bệnh là kết luận tên bệnh sau khi Bác sỹ khám và thực hiện các thăm dò chức năng, các xét nghiệm lâm cận lâm sàng. Căn cứ vào chẩn đoán bệnh mà Bác sỹ có phác đồ điều trị [18]. Tình trạng hiện tại của người bệnh là tình hình sức khỏe của của người bệnh ở tại thời điểm bàn giao giữa các nhân viên y tế với nhau bao gồm tình trạng tỉnh táo, kích động, lơ mơ hay hôn mê và các dấu hiệu sống của người bệnh như mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở, SPO2, cân nặng, chiều cao của người bệnh.
Các thông tin về tình trạng hiện tại của người bệnh sẽ giúp đánh giá cơ bản mức độ nặng nhẹ của bệnh và rất hữu ích trong việc ra quyết định của Bác sỹ, Điều dưỡng trong việc chăm sóc và thực hiện chỉ định thuốc hay các xét nghiệm cận lâm sàng hoặc các quyết định thực hiện phẫu thuật/thủ thuật xâm lấn trên người bệnh [20]. Bệnh kèm theo Là bệnh mà người bệnh mắc phải ngoài bệnh lý mà họ đang được điều trị chính tại bệnh viện. Bệnh kèm theo có thể là nguyên nhân kết quả của bệnh chính đang điều trị, có 7 thể ảnh hưởng một phần trên bệnh lý chính và có thể không ảnh hưởng gì trên bệnh lý chính của người bệnh.