ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay trên thế giới, khoảng 70% chế phẩm thuốc trên thị trường là các chế phẩm thuốc nhái, sản phẩm ăn theo hoặc là thuốc không thiết yếu. Ở Việt Nam những năm vừa qua, số lượng chế phẩm thuốc lưu hành trên thị trường không ngừng gia tăng. Điều này kéo theo một thực tế, đó là người kê đơn gặp khó khăn, lúng túng trong việc chọn lựa thuốc, dẫn đến dùng thuốc thiếu hợp lý, an toàn và hiệu quả, đặc biệt tại các bệnh viện tuyến huyện – nơi mà sự cập nhật các thông tin về các loại thuốc mới còn hạn chế. Để khắc phục hiện tượng này, danh mục thuốc thiết yếu đã được Bộ Y tế Việt Nam ban hành và định kỳ sửa đổi nhằm hoàn thiện hơn nữa việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Song song với đó là hàng loạt những văn bản chỉ đạo của Bộ Y tế như các thông tư, chỉ thị nhằm chấn chỉnh lại công tác cung ứng, kê đơn và sử dụng thuốc trong BV. Đặc biệt, việc ban hành thông tư 08/BYT – TT ngày 4/7/1997 về việc thành lập Hội đồng thuốc điều trị đã cải thiện đáng kể công tác Dược trong BV. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của hội đồng thuốc điều trị đó là xây dựng được một danh mục thuốc phù hợp với bệnh viện mình. Trên cơ sở có được danh mục thuốc chủ yếu đó, bệnh viện sẽ tiến hành mua sắm, cấp phát và giám sát sử dụng các thuốc trong danh mục.
Danh mục thuốc của mỗi bệnh viện sẽ khác nhau tùy theo đặc thù của bệnh viện đó. Và việc xây dựng được một danh mục thuốc phù hợp sẽ mang lại rất nhiều lợi ích to lớn cho bệnh viện nói riêng cũng như toàn xã hội nói chung. Do đó, hoạt động xây dựng danh mục thuốc là một bước then chốt và có vai trò tiên quyết tới hiệu quả của việc cung ứng thuốc trong bệnh viện. Tuy nhiên hiện nay, một điều đáng lo ngại là bước quan trọng này lại đang được các bệnh viện quan tâm chưa đúng mức, dẫn đến sự lãng phí về mặt kinh tế cũng như chưa tối đa hóa được hiệu quả điều trị.
Xuất phát từ thực tế đó, với mục đích góp phần nâng cao chất lượng 1 cung ứng thuốc trong bệnh viện, nâng cao vai trò của hội đồng thuốc điều trị trong bệnh viện, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu tại bệnh viện ĐK huyện Can Lộc đó là: “ Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện ĐK huyện Can Lộc năm 2010 ” nhằm giải quyết các mục tiêu sau đây: - Phân tích quy trình xây dựng danh mục thuốc bệnh viện ĐK huyện Can Lộc năm 2010. - Đánh giá tính thích ứng của danh mục thuốc năm 2010 đã được xây dựng.1 Các khái niệm Để giúp người đọc hiểu rõ hơn về nội dung cũng như phục vụ tính logic của đề tài, chúng tôi xin trình bày một số khái niệm được sử dụng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài đó là: Mô hình bệnh tật (MHBT): MHBT của một xã hội, một cộng đồng, một quốc gia nào đó sẽ là tập hợp tất cả những tình trạng mất cân bằng về thể xác, tinh thần dưới tác động của những yếu tố khác nhau, xuất hiện trong cộng đồng đó, xã hội đó trong một khoảng thời gian nhất định. “Ở Việt Nam, về mặt mô hình bệnh tật, các bệnh nhiễm khuẩn là những bệnh phổ biến nhất, kể cả trong quá khứ, hiện tại và trong tương lai” MHBT của BV: không giống mô hình bệnh tật ở cộng đồng, bệnh viện(BV) là nơi chữa bệnh (và khám bệnh) cho người mắc bệnh trong cộng đồng. Mỗi BV có một MHBT riêng.
Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, có 2 loại MHBT BV: MHBT của BV chuyên khoa: chủ yếu là các bệnh chuyên khoa và các bệnh thông thường MHBT của BV đa khoa: chủ yếu là các bệnh thông thường và các bệnh chuyên khoa Ngoài ra, tùy theo hạng và tuyến của BV mà MHBTBV có thể thay đổi. Căn cứ vào MHBT mà BV xây dựng cho mình một DMT phù hợp. Hướng dẫn thực hành điều trị: là văn bản chuyên môn có tính chất pháp lý. Nó được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu trong điều trị học mỗi loại bệnh.
Một hướng dẫn thực hành điều trị có thể có một hoặc nhiều công thức điều trị khác nhau. Hướng dẫn thực hành điều trị là một căn cứ quan trọng để xây dựng danh mục thuốc BV. 3 Danh mục thuốc thiết yếu (DMTTY) là danh mục những loại thuốc thỏa mãn nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho đa số nhân dân. Những loại thuốc này luôn có sẵn bất cứ lúc nào với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp lý.
[1] DMTTY chính là trung tâm của chính sách quốc gia về thuốc và việc sử dụng DMTTY góp phần cải thiện chất lượng của việc chăm sóc sức khỏe cũng như nguồn lực và chi phí thuốc men của quốc gia. Cùng với các quốc gia trên toàn cầu, năm 1985 Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành DMTTY lần đầu tiên gồm 225 thuốc tân dược được xác nhận là an toàn và có hiệu lực. Sau 5 lần sửa đổi, bổ sung, DMTTY Việt Nam lần thứ V được ban hành kèm theo quyết định số17/2005/QĐ-BYT ngày 01/07/2005 của Bộ Y tế bao gồm 355 tên thuốc của 314 hoạt chất tân dược; 94 danh mục thuốc chế phẩm y học cổ truyền; danh mục cây thuốc nam và 215 danh mục vị thuốc, kèm theo bản hướng dẫn sử dụng DMTTY Việt nam lần thứ V [14]. DMTTY là cơ sở để xây dựng danh mục thuốc chủ yếu tại các cơ sở khám, chữa bệnh.
Danh mục thuốc bệnh viện (DMTBV)là kết quả của quá trình lựa chọn thuốc. Nó chứa các thuốc được phê chuẩn để mua sắm và đưa vào sử dụng tại cơ sở khám chữa bệnh cụ thể [16,18]. Cẩm nang danh mục thuốc bệnh viện: là một quyển sách tham khảo ngắn gọn, súc tích chứa những thông tin cơ bản về mỗi thuốc có trong DMT. [18] Hội đồng thuốc và điều trị (HĐTĐT) là một diễn đàn để tập hợp tất cả các bên có liên quan nhằm đưa ra quyết định về sử dụng thuốc và có thể duy trì ở nhiều cấp độ khác nhau trong hệ thống chăm sóc sức khỏe y tế từ tuyến huyện (tại các cơ sở chăm sóc ban đầu) cho tới các bệnh viện lớn và các cơ sở khám chữa bệnh tầm cỡ quốc gia.
[16] Phân loại nguồn thông tin: 4 Nguồn thông tin cấp I: là các bài báo, công trình gốc đăng tải đầy đủ trên các tạp chí hoặc đưa lên mạng Internet, các báo chuyên môn, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên, sổ tay phòng thí nghiệm,…Các thông tin này thường do tác giả công bố các kết quả nghiên cứu của mình mà không có sự can thiệp, đánh giá của bên thứ hai. Nguồn thông tin cấp II: bao gồm hệ thống mục lục các thông tin hoặc các bài tóm tắt của các thông tin thuộc nguồn thông tin thứ nhất, được sắp xếp theo các chủ đề nhất định. Nguồn thông tin cấp III: là các thông tin được xây dựng bằng cách tổng hợp các thông tin từ hai nguồn thông tin trên. Các nguồn thông tin thứ ba thường được công bố dưới dạng sách giáo khoa, các bản hướng dẫn điều trị chuẩn,…[5,16] Phân tích ABC/VEN: Phân tích ABC là một phương pháp phân chia thuốc thành 3 nhóm: các thuốc nhóm A gồm 10-20% số lượng thuốc nhưng chiếm khoảng 70-80% tổng giá tiền tiêu thụ, các thuốc nhóm B (là những thuốc có mức độ sử dụng trung bình) chiếm khoảng 10-15% tổng giá tiền và nhóm C có số lượng thuốc chiếm 70-80% nhưng giá trị tiêu thụ chỉ dưới 10% tổng giá tiền.
Phân tích này được sử dụng để cơ sở y tế nhận biết và ưu tiên cân nhắc các thuốc nhóm A trong việc lựa chọn và mua sắm. Phân tích VEN là một hệ thống sắp đặt sự ưu tiên các thuốc theo tác động điều trị của chúng: V – thuốc tối cần, E – thuốc thiết yếu, N – thuốc không thiết yếu.2 Hội đồng thuốc điều trị: 1.1 Tổ chức của một HĐTĐT? Ở những nước phát triển, thành lập một HĐTĐT là một việc làm không 5 thể thiếu của mỗi bệnh viện, một HĐTĐT hoạt động hiệu quả sẽ giúp BV giải quyết được nhiều vấn đề có liên quan tới việc sử dụng thuốc. Nhưng ở các nước đang phát triển, HĐTĐT hầu như không tồn tại hay có tồn tại nhưng hoạt động không hiệu quả. Nhìn thấy thực tế đó, Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành Thông tư 08/BYT-TT ngày 4/7/1997 hướng dẫn việc tổ chức chức năng nhiệm vụ của HĐTĐT của BV để thực hiện chỉ thị 03/BYT-CT ngày 25/2/1997 của Bộ trưởng BYT về việc chấn chỉnh công tác quản lý và sử dụng thuốc tại BV: Tổ chức HĐTĐT: - Giám đốc BV: Chủ tịch hội đồng - Trưởng khoa dược: Phó chủ tịch thường trực hội đồng - Trưởng phòng kế hoạch tổng hợp: thư ký hội đồng - Các phó giám đốc: gồm 2 người, ủy viên hội đồng - Kế toán trưởng: ủy viên không thường trực hội đồng - Điều dưỡng trưởng: ủy viên hội đồng - Trưởng khoa nội, sản, ngoại, nhi, truyền nhiễm, phòng khám: ủy viên hội đồng.2 Mục tiêu và mục đích của HĐTĐT: Mục đích của một HĐTĐT là nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua việc xác định xem loại thuốc nào cần phải cung ứng, giá cả ra sao và sử dụng thế nào.
Để đạt được mục đích trên, một HĐTĐT cần phải đạt được những mục tiêu sau: - Xây dựng và thực hiện một hệ thống DMT có hiệu quả cả về mặt điều trị cũng như giá thành trong đó bao gồm các hướng dẫn điều trị thống 6 nhất, một danh mục thuốc và cẩm nang hướng dẫn DMT. Có thể nói đây là mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất, quyết định tới hiệu quả hoạt động của một HĐTĐT. - Đảm bảo chỉ sử dụng những thuốc thỏa mãn các tiêu chí về hiệu quả điều trị, độ an toàn, hiệu quả - chi phí và chất lượng - Đảm bảo an toàn thuốc thông qua công tác theo dõi, đánh giá và trên cơ sở đó ngăn ngừa các phản ứng có hại (ADR) và sai sót trong điều trị. - Xây dựng và thực hiện những can thiệp để nâng cao thực hành sử dụng thuốc của các thầy thuốc kê đơn, dược sỹ cấp phát và người bệnh; Điều này đòi hỏi phải thực hiện công tác và giám sát sử dụng thuốc.