CHƯƠNG I TỎNG QUAN 1. Sơ lược về quá trình phát triển bệnh phong. Bệnh phong là một trong những bệnh có từ lâu đời của loài người, có lẽ nó bắt nguồn ở Án Độ và được phát hiện sớm vào năm 1.400 trước công nguyên. Ở Trung Quốc, bệnh phong đã được thông báo lần đầu tiên ở Bắc Kinh vào thế kỷ thứ 4 trước công nguyên do người Nhật Bản mang tới.
Bệnh phong lan tới vùng Địa Trung Hải có lẽ do đội quân của nhà quân sự Alexander trở về từ chiến dịch Án Độ vào năm 327 - 326 trước công nguyên: Ở Châu Âu, bệnh phong thực sự được thông báo lần đầu ở Hy Lập vào năm 150 sau công nguyên [12]. Đầu thế ký 13, bệnh phong xuất hiện ở Rumani thuộc Châu Âu và thời gian này ở châu Âu có 19.000 người mắc bệnh phong. Ở thời đại này, không chỉ xã hội mà cả nhà thờ đều coi bệnh nhân phong là đáng kinh tởm và họ - phải sông trong những khu nhà hoặc ở trong các bệnh viện cách ly khỏi thành phố dành cho người bệnh. Bệnh phong bắt đầu giảm ở Châu Âu vào thé ky 15 [12].
Bệnh phong lan truyền từ Trung Đông đến Châu Phi do giao dịch thương mại. Một trường hợp đầu tiên đã được thông báo ở Châu Mỹ do người di cu từ Châu Âu. Sau đó, những người nô lệ Châu Phi mang bệnh phong tới Châu Mỹ, đặc biệt tới Brazin. Hầu hết những trường hợp bệnh phong được thông báo ở Hawaii đêu do người đi cư từ Trung Quốc đến [12].
Sự lây truyền bệnh phong. Tác nhân gây bệnh là trực khuẩn A4wcobacterium leprae (M. leprae), được Bác sĩ Gerhard Henrik Armauer Hansen, người Na Ủy tìm ra năm 1873.leprae là loại vì khuẩn nội tế bảo, có ái tính đặc biệt với tế bào Schwann (té bào thần kinh) và các tế bào thuộc hệ thống võng mạc nội mô. Trực khuẩn có dạng hình que, khi nhuộm Ziehl Neelsen bắt màu đỏ, kháng cồn, toan, chưa nuôi cấy được trên môi trường nhân tạo, thời gian phân chia của trực khuẩn từ 5 12-14 ngày [12].
Gần đây người ta có thể tiêm truyền làm nhân Ä⁄./eprae lên ở gan bàn chân chuột (Rees và Shepard) và đã gây được bệnh thực nghiệm - trên con Ta-Tu (Armadillo chín khoang) là một loài gam nham sống trong hang núi ở Trung và Nam Mỹ [33, 34]. ˆ__ Những hiểu biết của chúng ta về khía cạnh dịch tễ học của bệnh phong đến nay vẫn còn chưa đây đủ. Vai trò của vật chủ trung gian truyền bệnh vẫn chưa được chứng minh. Tuy nhiên, khoảng 4% Armadillos 6 Louisiana và Texas bị bệnh dạng phong mắc phải tự nhiên [23].
Đường lây từ người sang người là chủ yếu. Mleprae có thể tồn tại ngoài cơ thể người trong những giọt chất tiết li tỉ ở mũi trong nhiều ngày./eprae được tìm thấy ở chất nhày mũi của những người trong gia đình có tiếp xúc với bệnh nhân phong thể nhiều vi khuẩn. Vì vậy sự lây truyền trực tiếp do tiếp xúc lâu dài hoặc thân mật cần được quan tâm [12]. Tuy nhiền những người tiếp xúc tình cờ hoặc ngắn ngày thỉnh thoảng cũng có thể mắc bệnh.feprae cũng có thể được nuốt vào và đi vào cơ thể qua đạ dày ruột non, nhưng điều này không được phần lớn các bác sĩ chấp nhận [12].
Gần đây thông qua thực nghiệm người ta cho rằng M.laprae có thể xâm nhập cơ thể người lành bằng đường hô hấp trên. Mặc dù Milaprae được tìm thấy trong tinh dich, buồng trứng, dây rốn, rau thai và thậm chí trong bào thai nhưng khá năng lây truyền bệnh phong bẩm sinh vẫn bị loại bỏ [12]. Hiện nay vai trò cơ học của côn trùng chuyên vi khuẩn sống từ bệnh nhân không điều trị sang người lành vẫn còn bàn luận. Nhận thức về bệnh phong trong cộng đồng.
Trước đây, khi khoa học chưa phát triển, chưa tìm được thuốc điều trị bệnh phong và do trực khuan M leprae cé di tinh voi dây thần kinh ngoại biên và do những cơn phản ứng phong xảy ra làm tổn thương một số dây thần kinh ngoại biên như thần kinh cảm giác, thần kinh vận động, thân kinh giao cảm, thần kinh phó giao cảm. đã làm cho bàn tay bản chân mất câm giác, chân đi cất cần, ngón tay ngón chân bị cò, cụt, rụt,. Bên cạnh đó, bệnh còn làm tổn thương niêm mạc mũi, sụn mũi dẫn đến sập sóng mũi. Nhiều bộ phận khác của cơ thể cũng bị tổn thương, làm cho cơ thể bệnh nhân bị tàn tật, biến đạng, 6 cùi, cụt, lở loét, gây ấn tượng xấu trong xã hội và đã làm cho mọi người trong xã hội ghê sợ, xa lánh bệnh nhân.
Nhiều bệnh nhân phong đã bị dân chúng tại địa phương buộc phải rời khỏi địa phương mình ở, phải vào ven rừng làm nhà ở tạm trước sự xua đuổi khinh bi của cộng đồng. Nhiều cơ sở điều trị bệnh nhân phong đã được xây dựng trong các vùng rừng núi cách xa trung tâm dân cư bình thường sinh sống. Do chưa có thuốc điều trị nên vi trùng từ cơ thể bệnh nhân thải ra đã lây bệnh cho nhiều người trong cùng gia đình từ thế hệ này đến thế hệ khác, làm cho nhiều người trong xã hội lầm tưởng cho rằng bệnh phong là bệnh di truyền. Nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, càng ngày càng có nhiều loại thuốc mới điều trị phong hữu hiệu.
Nhiều bệnh nhân đã được điều trị khỏi bệnh, không bị tàn tật. Dần dần nhân dân đã hiểu được bệnh phong không phải là bệnh nan y theo quan niệm sai lầm trước đây. Hiện nay phần lớn bệnh nhân phong được sống hạnh phúc trong gia đình và cộng đồng xã hội. Tình hình bệnh phong trên thế giới.
Trên thế giới có khoảng 10 - 12 triệu người mắc bệnh phong. Số bệnh nhân được điều trị khỏi ngày cảng tăng. Số đăng ký điều trị hàng năm giảm dẫn. Tỷ lệ mắc bệnh phong cao ở Trung Phi, Án Độ và:Đông Nam Á.
Người ta ước tính số lượng bệnh nhân phong ở Án Độ là 2,5 triệu vào năm 1961; 3,2 triệu vào năm 1971; 3,9 triệu vào năm 1981 và 3 triệu người vào tháng 3/1991 [40]. Tỷ lệ mắc bệnh phong ở Bombay khoảng 10 - 15 người/1. Bệnh phong cũng phổ biến ở Trung và Nam Mỹ. Brazin là nước có bệnh phong nhiều nhất ở Nam Mỹ.
Ở Mỹ, bệnh phong vẫn tồn tại ở Texas, Louisiana và Hawaii. Bệnh phong vẫn còn thấy ở California, Florida và thành phó NewYork, chủ yếu trong số những người di cư. Khu vực Tây Thái Bình Dương được ghỉ nhận có tỷ lệ lưu hành thấp nhất sau Châu Âu (Tỷ lệ lưu hành 0,16/10.000 năm 1996) và có độ bao phủ đa hoá trị liệu (ĐHTL) cao nhất (99% so với 91% trên thế giới ). Số lượng bệnh nhân phong cao nhất là Philippines, tiếp theo là Việt Nam, Trung Quốc, Cambodia, Malaysia và Papua New Guninea [45].
Từ năm 1982, sau một quá trình nghiên cứu về các thuốc điều trị bệnh phong, WHO đã khuyến cáo áp dụng ĐHTL trong bệnh phong [39]. Sau một thời gian nhận thấy đa hóa trị liệu mang lại hiệu quả to lớn trong việc điều trị bệnh phong, năm 1991 WHO đã ra nghị quyết loại trừ bệnh phong với chỉ tiêu đề ra là làm hạ tỷ lệ lưu hành bệnh xuống < 1/10. Năm 1994, hội nghị phong quốc tế tại Hà Nội đã ra “Tuyên Ngôn Hà Nội” về tăng nhanh tốc độ công tác chống phong trên thế giới [38]. : Nhờ ĐHTL, chương trình chống phong trên thế giới đã đạt những thành tựu lớn.
Từ năm 1985 - 2000 tỷ lệ lưu hành bệnh trên thế giới đã giảm 86% (cuối năm 1999 còn 1,25/10. Năm 1985 có 122 nước có tỷ lệ lưu hành >1/10.000; năm 2000 chỉ còn 22 nước có tỷ lệ lưu hành > 1/10. Đã có I1 triệu bệnh nhân được chữa khỏi bằng ĐHTL [9]. Trong thời gian qua, nhờ đa hóa trị liệu nên đã ngăn chặn được khoảng 500.000 trường hợp tái phát nếu chỉ điều trị đơn thuần Dapson.
Hàng ngàn bệnh nhân phong được theo dõi sau 9 năm hoàn thành ĐHTL nhưng tỷ lệ tái phát thấp, chỉ dưới 0,1% mỗi năm [38]. Trên thế giới, số lượng bệnh nhần đăng ký đều đặn trong 20 năm qua là: 2,8 triệu vào năm 1966; 3,6 triệu vào năm 1975 và 5,4 triệu vào năm 1985. Tuy nhiên từ năm 1985 số lượng bệnh nhân đăng ký giảm rõ ràng. Số lượng bệnh nhân từ 5,4 triệu đăng ký trong năm 1985 xuống chỉ còn 3,7 triệu trong năm 1990 (giảm khoảng 31%) và còn 920.585 bệnh nhân đăng ký trong năm 1996 [40,43,42,45].
Đến năm 1998, trên thế giới vẫn còn 16 nước có tỷ lệ bệnh phong lưu hành cao là Án Độ, Brazil, Indonesia, Bangladesh, Nigeria, Myanmar, Mozambique, Congo, Nepal, Ethiopia, Madagascar, Sudan, Philippines, Guinea, Niger, Cambodia. Trong năm 1998 tổng số bệnh phong mới phát hiện của 16 nước này là 661.102 trường hợp, nhiều nhất là Án Độ với 524.441 bệnh nhân, thứ hai là Brazil với 43.933 bệnh nhân và tiếp theo là Indonesia với 15. Tỷ lệ phát hiện bệnh nhân mới cao nhất là Guinea: 83,35/100.000 dân, thứ hai là Án Độ: 53,10/100.000 dân và kế tiếp là Nepal: 31,49/100. Tỷ lệ lưu bành bệnh trên thế giới đã giảm từ 2,3/10.
Tuy nhiên trong 16 nước có tỷ lệ bệnh phong cao nhất, tỷ lệ lưu hành năm 1998 vẫn còn 3,81/10. Tình hình bệnh phong tại Việt Nam. Bệnh phong đã có lâu đời ở Việt Nam và là một trong những bệnh xã hội đã từng gây ra nhiều đau khổ, bất hạnh cho người bệnh. Năm 1959, những cuộc điều tra dịch tễ học đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam đã sơ bộ xác định tỷ lệ lưu hành bệnh phong khoảng 2,1/10.
Ở Tây Bắc có nơi tỷ lệ lên đến 17/10. Ở miền Nam, qua điều tra cơ bản năm 1976 và do tài liệu cũ để lại, tỷ lệ bệnh phong có nơi lên đến 30 — 40/10.000 dân, đặc biệt là ở vùng Tây nguyên [2]. Tại Việt Nam, chương trình thanh toán phong từng vùng và ĐHTL đã được tiến hành từ năm 1983. Từ năm 1983 đến năm 1999 đã phát hiện được 40.378 bệnh nhân phong mới, đã điều trị khỏi cho 50.
Tỷ lệ lưu hành bệnh giảm từ 6,78/10.000 nam 1996 và đến năm 2000 chỉ còn 0,23/10. _ Hiện nay trong cả nước đã có 28 tỉnh đã được công nhận là tỉnh loại trừ bệnh phong theo 3 tiêu chuẩn của Việt Nam như Thanh Hoá, Thái Bình, Hải Phòng, Đà Nẵng. Tuy nhiên một số tỉnh được công nhận loại trừ bệnh phong vẫn còn xuất hiện bệnh nhân phong mới hàng năm. Tính trên phạm vi cả nước, đến năm 1995 ta đã đạt được chỉ tiêu loại trừ bệnh phong theo tiêu chuẩn của Tổ Chức Y Tế Thé Giới (tỷ lệ lưu hành <1/10.
Đời sống của người bệnh đã được cải thiện một cách rõ rệt.