Đánh giá hiệu quả ứng dụng phác đồ ROM trong dự phòng bệnh phong cho người tiếp xúc tại Khánh Hòa

Tài liệu nghiên cứu Luận văn đánh giá ứng dụng hoá dự phòng bằng phác đồ rom cho những người tiếp xúc với bệnh nhân, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu

Trường đại học

Đại học Y Dược Khánh Hòa

Chuyên ngành

Y học dự phòng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2022

63
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phác đồ ROM

Phác đồ ROM (Risk of Morbidity) là một phương pháp dự phòng quan trọng trong việc ngăn chặn sự lây lan của bệnh phong. Tại Khánh Hòa, nơi có tỷ lệ người tiếp xúc bệnh nhân cao, việc áp dụng phác đồ này trở nên cần thiết. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc thực hiện phác đồ dự phòng phong không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà còn giảm thiểu gánh nặng cho hệ thống y tế. Theo một báo cáo, 'Việc áp dụng phác đồ ROM đã giúp giảm thiểu đáng kể số ca mắc mới trong cộng đồng'. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc đánh giá hiệu quả của phác đồ này trong bối cảnh hiện tại.

1.1. Tình hình bệnh phong tại Khánh Hòa

Tình hình bệnh phong tại Khánh Hòa đang có những diễn biến phức tạp. Theo số liệu thống kê, số ca mắc mới và người tiếp xúc bệnh nhân ngày càng gia tăng. Điều này đặt ra thách thức lớn cho công tác dự phòng phong. Các chuyên gia cho rằng, 'Nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời, tình hình sẽ trở nên nghiêm trọng hơn'. Việc áp dụng phác đồ ROM có thể là giải pháp hiệu quả để kiểm soát tình hình. Nghiên cứu cho thấy, phác đồ này không chỉ giúp phát hiện sớm mà còn hỗ trợ trong việc điều trị và chăm sóc sức khỏe cho những người có nguy cơ cao.

II. Đánh giá hiệu quả phác đồ ROM

Đánh giá hiệu quả của phác đồ ROM là một phần quan trọng trong nghiên cứu này. Các chỉ số như tỷ lệ mắc mới, tỷ lệ người tiếp xúc bệnh nhân được theo dõi chặt chẽ. Kết quả cho thấy, phác đồ này đã mang lại những tác động tích cực. 'Sự thay đổi trong tỷ lệ mắc mới cho thấy phác đồ ROM đang hoạt động hiệu quả', một chuyên gia nhận định. Việc đánh giá không chỉ dừng lại ở con số mà còn cần xem xét các yếu tố khác như sự chấp nhận của cộng đồng và khả năng thực hiện của hệ thống y tế.

2.1. Tác động của phác đồ ROM

Phác đồ ROM đã chứng minh được tác động tích cực đến việc dự phòng phong. Nghiên cứu cho thấy, những người tham gia vào chương trình dự phòng có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn so với những người không tham gia. 'Chúng tôi đã ghi nhận sự giảm đáng kể trong số ca mắc mới sau khi áp dụng phác đồ này', một nhà nghiên cứu cho biết. Điều này cho thấy, phác đồ không chỉ hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh mà còn góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về bệnh phong.

III. Ứng dụng thực tiễn của phác đồ ROM

Phác đồ ROM không chỉ là một công cụ trong việc dự phòng phong mà còn có thể được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác. Việc áp dụng phác đồ này có thể giúp các cơ sở y tế cải thiện quy trình chăm sóc sức khỏe cho những người có nguy cơ cao. 'Chúng tôi tin rằng, phác đồ này có thể được mở rộng ra nhiều khu vực khác, không chỉ riêng Khánh Hòa', một chuyên gia cho biết. Điều này mở ra cơ hội cho việc phát triển các chiến lược dự phòng hiệu quả hơn trong tương lai.

3.1. Chiến lược dự phòng trong cộng đồng

Chiến lược dự phòng phong cần được triển khai đồng bộ và hiệu quả. Việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về bệnh phong là rất quan trọng. Các chương trình giáo dục sức khỏe có thể giúp người dân hiểu rõ hơn về cách phòng ngừa và phát hiện sớm bệnh. 'Chúng tôi cần sự hợp tác từ cộng đồng để đạt được hiệu quả cao nhất trong công tác dự phòng', một nhà lãnh đạo y tế nhấn mạnh. Sự tham gia của cộng đồng sẽ là yếu tố quyết định trong việc thành công của phác đồ ROM.

01/03/2025
Luận văn đánh giá ứng dụng hoá dự phòng bằng phác đồ rom cho những người tiếp xúc với bệnh nhân phong tại khánh hoà

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỎNG QUAN 1. Sơ lược về quá trình phát triển bệnh phong. Bệnh phong là một trong những bệnh có từ lâu đời của loài người, có lẽ nó bắt nguồn ở Án Độ và được phát hiện sớm vào năm 1.400 trước công nguyên. Ở Trung Quốc, bệnh phong đã được thông báo lần đầu tiên ở Bắc Kinh vào thế kỷ thứ 4 trước công nguyên do người Nhật Bản mang tới.

Bệnh phong lan tới vùng Địa Trung Hải có lẽ do đội quân của nhà quân sự Alexander trở về từ chiến dịch Án Độ vào năm 327 - 326 trước công nguyên: Ở Châu Âu, bệnh phong thực sự được thông báo lần đầu ở Hy Lập vào năm 150 sau công nguyên [12]. Đầu thế ký 13, bệnh phong xuất hiện ở Rumani thuộc Châu Âu và thời gian này ở châu Âu có 19.000 người mắc bệnh phong. Ở thời đại này, không chỉ xã hội mà cả nhà thờ đều coi bệnh nhân phong là đáng kinh tởm và họ - phải sông trong những khu nhà hoặc ở trong các bệnh viện cách ly khỏi thành phố dành cho người bệnh. Bệnh phong bắt đầu giảm ở Châu Âu vào thé ky 15 [12].

Bệnh phong lan truyền từ Trung Đông đến Châu Phi do giao dịch thương mại. Một trường hợp đầu tiên đã được thông báo ở Châu Mỹ do người di cu từ Châu Âu. Sau đó, những người nô lệ Châu Phi mang bệnh phong tới Châu Mỹ, đặc biệt tới Brazin. Hầu hết những trường hợp bệnh phong được thông báo ở Hawaii đêu do người đi cư từ Trung Quốc đến [12].

Sự lây truyền bệnh phong. Tác nhân gây bệnh là trực khuẩn A4wcobacterium leprae (M. leprae), được Bác sĩ Gerhard Henrik Armauer Hansen, người Na Ủy tìm ra năm 1873.leprae là loại vì khuẩn nội tế bảo, có ái tính đặc biệt với tế bào Schwann (té bào thần kinh) và các tế bào thuộc hệ thống võng mạc nội mô. Trực khuẩn có dạng hình que, khi nhuộm Ziehl Neelsen bắt màu đỏ, kháng cồn, toan, chưa nuôi cấy được trên môi trường nhân tạo, thời gian phân chia của trực khuẩn từ 5 12-14 ngày [12].

Gần đây người ta có thể tiêm truyền làm nhân Ä⁄./eprae lên ở gan bàn chân chuột (Rees và Shepard) và đã gây được bệnh thực nghiệm - trên con Ta-Tu (Armadillo chín khoang) là một loài gam nham sống trong hang núi ở Trung và Nam Mỹ [33, 34]. ˆ__ Những hiểu biết của chúng ta về khía cạnh dịch tễ học của bệnh phong đến nay vẫn còn chưa đây đủ. Vai trò của vật chủ trung gian truyền bệnh vẫn chưa được chứng minh. Tuy nhiên, khoảng 4% Armadillos 6 Louisiana và Texas bị bệnh dạng phong mắc phải tự nhiên [23].

Đường lây từ người sang người là chủ yếu. Mleprae có thể tồn tại ngoài cơ thể người trong những giọt chất tiết li tỉ ở mũi trong nhiều ngày./eprae được tìm thấy ở chất nhày mũi của những người trong gia đình có tiếp xúc với bệnh nhân phong thể nhiều vi khuẩn. Vì vậy sự lây truyền trực tiếp do tiếp xúc lâu dài hoặc thân mật cần được quan tâm [12]. Tuy nhiền những người tiếp xúc tình cờ hoặc ngắn ngày thỉnh thoảng cũng có thể mắc bệnh.feprae cũng có thể được nuốt vào và đi vào cơ thể qua đạ dày ruột non, nhưng điều này không được phần lớn các bác sĩ chấp nhận [12].

Gần đây thông qua thực nghiệm người ta cho rằng M.laprae có thể xâm nhập cơ thể người lành bằng đường hô hấp trên. Mặc dù Milaprae được tìm thấy trong tinh dich, buồng trứng, dây rốn, rau thai và thậm chí trong bào thai nhưng khá năng lây truyền bệnh phong bẩm sinh vẫn bị loại bỏ [12]. Hiện nay vai trò cơ học của côn trùng chuyên vi khuẩn sống từ bệnh nhân không điều trị sang người lành vẫn còn bàn luận. Nhận thức về bệnh phong trong cộng đồng.

Trước đây, khi khoa học chưa phát triển, chưa tìm được thuốc điều trị bệnh phong và do trực khuan M leprae cé di tinh voi dây thần kinh ngoại biên và do những cơn phản ứng phong xảy ra làm tổn thương một số dây thần kinh ngoại biên như thần kinh cảm giác, thần kinh vận động, thân kinh giao cảm, thần kinh phó giao cảm. đã làm cho bàn tay bản chân mất câm giác, chân đi cất cần, ngón tay ngón chân bị cò, cụt, rụt,. Bên cạnh đó, bệnh còn làm tổn thương niêm mạc mũi, sụn mũi dẫn đến sập sóng mũi. Nhiều bộ phận khác của cơ thể cũng bị tổn thương, làm cho cơ thể bệnh nhân bị tàn tật, biến đạng, 6 cùi, cụt, lở loét, gây ấn tượng xấu trong xã hội và đã làm cho mọi người trong xã hội ghê sợ, xa lánh bệnh nhân.

Nhiều bệnh nhân phong đã bị dân chúng tại địa phương buộc phải rời khỏi địa phương mình ở, phải vào ven rừng làm nhà ở tạm trước sự xua đuổi khinh bi của cộng đồng. Nhiều cơ sở điều trị bệnh nhân phong đã được xây dựng trong các vùng rừng núi cách xa trung tâm dân cư bình thường sinh sống. Do chưa có thuốc điều trị nên vi trùng từ cơ thể bệnh nhân thải ra đã lây bệnh cho nhiều người trong cùng gia đình từ thế hệ này đến thế hệ khác, làm cho nhiều người trong xã hội lầm tưởng cho rằng bệnh phong là bệnh di truyền. Nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, càng ngày càng có nhiều loại thuốc mới điều trị phong hữu hiệu.

Nhiều bệnh nhân đã được điều trị khỏi bệnh, không bị tàn tật. Dần dần nhân dân đã hiểu được bệnh phong không phải là bệnh nan y theo quan niệm sai lầm trước đây. Hiện nay phần lớn bệnh nhân phong được sống hạnh phúc trong gia đình và cộng đồng xã hội. Tình hình bệnh phong trên thế giới.

Trên thế giới có khoảng 10 - 12 triệu người mắc bệnh phong. Số bệnh nhân được điều trị khỏi ngày cảng tăng. Số đăng ký điều trị hàng năm giảm dẫn. Tỷ lệ mắc bệnh phong cao ở Trung Phi, Án Độ và:Đông Nam Á.

Người ta ước tính số lượng bệnh nhân phong ở Án Độ là 2,5 triệu vào năm 1961; 3,2 triệu vào năm 1971; 3,9 triệu vào năm 1981 và 3 triệu người vào tháng 3/1991 [40]. Tỷ lệ mắc bệnh phong ở Bombay khoảng 10 - 15 người/1. Bệnh phong cũng phổ biến ở Trung và Nam Mỹ. Brazin là nước có bệnh phong nhiều nhất ở Nam Mỹ.

Ở Mỹ, bệnh phong vẫn tồn tại ở Texas, Louisiana và Hawaii. Bệnh phong vẫn còn thấy ở California, Florida và thành phó NewYork, chủ yếu trong số những người di cư. Khu vực Tây Thái Bình Dương được ghỉ nhận có tỷ lệ lưu hành thấp nhất sau Châu Âu (Tỷ lệ lưu hành 0,16/10.000 năm 1996) và có độ bao phủ đa hoá trị liệu (ĐHTL) cao nhất (99% so với 91% trên thế giới ). Số lượng bệnh nhân phong cao nhất là Philippines, tiếp theo là Việt Nam, Trung Quốc, Cambodia, Malaysia và Papua New Guninea [45].

Từ năm 1982, sau một quá trình nghiên cứu về các thuốc điều trị bệnh phong, WHO đã khuyến cáo áp dụng ĐHTL trong bệnh phong [39]. Sau một thời gian nhận thấy đa hóa trị liệu mang lại hiệu quả to lớn trong việc điều trị bệnh phong, năm 1991 WHO đã ra nghị quyết loại trừ bệnh phong với chỉ tiêu đề ra là làm hạ tỷ lệ lưu hành bệnh xuống < 1/10. Năm 1994, hội nghị phong quốc tế tại Hà Nội đã ra “Tuyên Ngôn Hà Nội” về tăng nhanh tốc độ công tác chống phong trên thế giới [38]. : Nhờ ĐHTL, chương trình chống phong trên thế giới đã đạt những thành tựu lớn.

Từ năm 1985 - 2000 tỷ lệ lưu hành bệnh trên thế giới đã giảm 86% (cuối năm 1999 còn 1,25/10. Năm 1985 có 122 nước có tỷ lệ lưu hành >1/10.000; năm 2000 chỉ còn 22 nước có tỷ lệ lưu hành > 1/10. Đã có I1 triệu bệnh nhân được chữa khỏi bằng ĐHTL [9]. Trong thời gian qua, nhờ đa hóa trị liệu nên đã ngăn chặn được khoảng 500.000 trường hợp tái phát nếu chỉ điều trị đơn thuần Dapson.

Hàng ngàn bệnh nhân phong được theo dõi sau 9 năm hoàn thành ĐHTL nhưng tỷ lệ tái phát thấp, chỉ dưới 0,1% mỗi năm [38]. Trên thế giới, số lượng bệnh nhần đăng ký đều đặn trong 20 năm qua là: 2,8 triệu vào năm 1966; 3,6 triệu vào năm 1975 và 5,4 triệu vào năm 1985. Tuy nhiên từ năm 1985 số lượng bệnh nhân đăng ký giảm rõ ràng. Số lượng bệnh nhân từ 5,4 triệu đăng ký trong năm 1985 xuống chỉ còn 3,7 triệu trong năm 1990 (giảm khoảng 31%) và còn 920.585 bệnh nhân đăng ký trong năm 1996 [40,43,42,45].

Đến năm 1998, trên thế giới vẫn còn 16 nước có tỷ lệ bệnh phong lưu hành cao là Án Độ, Brazil, Indonesia, Bangladesh, Nigeria, Myanmar, Mozambique, Congo, Nepal, Ethiopia, Madagascar, Sudan, Philippines, Guinea, Niger, Cambodia. Trong năm 1998 tổng số bệnh phong mới phát hiện của 16 nước này là 661.102 trường hợp, nhiều nhất là Án Độ với 524.441 bệnh nhân, thứ hai là Brazil với 43.933 bệnh nhân và tiếp theo là Indonesia với 15. Tỷ lệ phát hiện bệnh nhân mới cao nhất là Guinea: 83,35/100.000 dân, thứ hai là Án Độ: 53,10/100.000 dân và kế tiếp là Nepal: 31,49/100. Tỷ lệ lưu bành bệnh trên thế giới đã giảm từ 2,3/10.

Tuy nhiên trong 16 nước có tỷ lệ bệnh phong cao nhất, tỷ lệ lưu hành năm 1998 vẫn còn 3,81/10. Tình hình bệnh phong tại Việt Nam. Bệnh phong đã có lâu đời ở Việt Nam và là một trong những bệnh xã hội đã từng gây ra nhiều đau khổ, bất hạnh cho người bệnh. Năm 1959, những cuộc điều tra dịch tễ học đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam đã sơ bộ xác định tỷ lệ lưu hành bệnh phong khoảng 2,1/10.

Ở Tây Bắc có nơi tỷ lệ lên đến 17/10. Ở miền Nam, qua điều tra cơ bản năm 1976 và do tài liệu cũ để lại, tỷ lệ bệnh phong có nơi lên đến 30 — 40/10.000 dân, đặc biệt là ở vùng Tây nguyên [2]. Tại Việt Nam, chương trình thanh toán phong từng vùng và ĐHTL đã được tiến hành từ năm 1983. Từ năm 1983 đến năm 1999 đã phát hiện được 40.378 bệnh nhân phong mới, đã điều trị khỏi cho 50.

Tỷ lệ lưu hành bệnh giảm từ 6,78/10.000 nam 1996 và đến năm 2000 chỉ còn 0,23/10. _ Hiện nay trong cả nước đã có 28 tỉnh đã được công nhận là tỉnh loại trừ bệnh phong theo 3 tiêu chuẩn của Việt Nam như Thanh Hoá, Thái Bình, Hải Phòng, Đà Nẵng. Tuy nhiên một số tỉnh được công nhận loại trừ bệnh phong vẫn còn xuất hiện bệnh nhân phong mới hàng năm. Tính trên phạm vi cả nước, đến năm 1995 ta đã đạt được chỉ tiêu loại trừ bệnh phong theo tiêu chuẩn của Tổ Chức Y Tế Thé Giới (tỷ lệ lưu hành <1/10.

Đời sống của người bệnh đã được cải thiện một cách rõ rệt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh giá hiệu quả phác đồ ROM dự phòng phong cho người tiếp xúc bệnh nhân tại Khánh Hòa là một nghiên cứu quan trọng tập trung vào việc đánh giá tính hiệu quả của phác đồ ROM trong việc dự phòng bệnh phong cho những người tiếp xúc với bệnh nhân tại tỉnh Khánh Hòa. Nghiên cứu này cung cấp những thông tin chi tiết về quy trình áp dụng, kết quả đạt được, và những lợi ích cụ thể trong việc ngăn ngừa lây nhiễm bệnh phong. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, bác sĩ, và những người quan tâm đến lĩnh vực y tế công cộng.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị và nghiên cứu y khoa, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và kết quả điều trị dị vật đường thở bằng nội soi ống cứng trực tiếp, Luận án đánh giá hiệu quả ghép xương cho bệnh nhân có khe hở cung hàm, và Luận án nghiên cứu đáp ứng xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan virus c mạn kiểu gen 1 6 điều trị bằng sofosbuvir phối hợp ledipasvir. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các phương pháp điều trị tiên tiến và hiệu quả trong y học hiện đại.