Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y học với đề tài "Đánh giá hiệu quả thuốc erlotinib trong điều trị ung thư phổi biểu mô tuyến giai đoạn muộn" do nghiên cứu sinh Lê Thu Hà (khóa 30, Trường Đại học Y Hà Nội) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Trần Văn Thuấn, thuộc chuyên ngành Ung thư, mã số 62720149, hoàn thành năm 2017.

Ung thư phổi là bệnh lý ác tính phổ biến và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư trên phạm vi toàn cầu. Theo thống kê của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC) thuộc Tổ chức Y tế Thế giới (GLOBOCAN 2012), toàn cầu có khoảng 1,8 triệu ca mắc mới (chiếm 12,9% tổng số ca ung thư) và chiếm gần 27% tổng số ca tử vong do ung thư. Trong đó, ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm 85% đến 90%. Phần lớn bệnh nhân phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn khi khối u đã xâm lấn rộng hoặc di căn xa, dẫn đến tỷ lệ sống thêm 5 năm rất thấp, chỉ khoảng 4%.

Trước đây, hóa trị toàn thân là phương pháp điều trị chủ yếu cho ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa (IIIB-IV hoặc tái phát, di căn), nhưng thời gian sống thêm trung bình thường không vượt quá 12 tháng do hạn chế về tính chọn lọc, độc tính tủy xương cao và tình trạng kháng thuốc. Những hiểu biết về sinh học phân tử đã xác định thụ thể yếu tố phát triển biểu mô (EGFR) là đích phân tử quan trọng, với tỷ lệ bộc lộ quá mức chiếm 40% đến 80% và tỷ lệ đột biến gen EGFR tại Việt Nam lên tới 64,2%. Thuốc ức chế tyrosine kinase của EGFR (EGFR TKIs) thế hệ 1 như erlotinib (Tarceva) đã chứng minh hiệu quả kéo dài thời gian sống thêm và giảm thiểu tác dụng phụ.

Tại Việt Nam, erlotinib được cấp phép sử dụng từ năm 2009 cho điều trị bước 2 sau thất bại với hóa chất và từ năm 2011 cho điều trị bước 1. Mặc dù vậy, nhiều bệnh nhân mang đột biến gen EGFR vẫn không được tiếp cận điều trị đích ngay từ đầu do điều kiện kinh tế, chính sách bảo hiểm y tế hoặc chẩn đoán đột biến muộn, buộc phải điều trị bằng hóa chất trước rồi mới chuyển sang erlotinib ở các bước sau. Tại thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào đánh giá chuyên biệt hiệu quả của thuốc erlotinib trên nhóm đối tượng bệnh nhân đặc thù này.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung:

  1. Đánh giá kết quả điều trị của thuốc erlotinib (Tarceva) trong ung thư phổi biểu mô tuyến giai đoạn muộn đã thất bại với hoá trị.
  2. Đánh giá một số tác dụng phụ của thuốc.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: 79 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ thể biểu mô tuyến giai đoạn muộn (giai đoạn IIIB, IV theo tiêu chuẩn AJCC 2010 hoặc tái phát, di căn), có đột biến gen EGFR tại exon 19 hoặc exon 21, đã thất bại với ít nhất một phác đồ hóa chất trước đó và được điều trị bằng erlotinib đơn thuần đường uống ít nhất 2 tháng.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại ba trung tâm chuyên khoa gồm Bệnh viện K, Bệnh viện Ung bướu Hà Nội và Trung tâm Y học hạt nhân và điều trị ung bướu thuộc Bệnh viện Bạch Mai.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và theo dõi bệnh nhân từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 10 năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các bằng chứng dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh, chẩn đoán, phân loại mô bệnh học và các thử nghiệm lâm sàng trong nước cũng như quốc tế về ung thư phổi và thuốc ức chế EGFR tyrosine kinase.

Về các công trình quốc tế, tác giả điểm lại các nghiên cứu then chốt:

  • Thử nghiệm lâm sàng pha II của Perez-Soler R. (2004) trên 57 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ thất bại với hóa trị chứa platinum ghi nhận tỷ lệ đáp ứng 12%, tỷ lệ bệnh ổn định 39%, thời gian sống thêm trung bình đạt 8,4 tháng và tỷ lệ sống thêm 1 năm là 40%.
  • Thử nghiệm lâm sàng pha III ngẫu nhiên, mù đôi có đối chứng NCIC-CTG BR21 trên 731 bệnh nhân tiến hành tại 17 quốc gia cho thấy erlotinib 150 mg/ngày vượt trội so với giả dược: tỷ lệ đáp ứng 8,9% so với 1% (p < 0,01), trung vị sống thêm toàn bộ (STTB) đạt 6,7 tháng so với 4,7 tháng (HR = 0,7; p < 0,01), trung vị sống thêm không tiến triển (STKTT) đạt 9,7 tuần so với 8,0 tuần (HR = 0,71).
  • Thử nghiệm pha IV đa trung tâm TRUST trên 6.580 bệnh nhân (trong đó có 1.242 bệnh nhân Đông và Đông Nam Á) ghi nhận ở nhóm bệnh nhân châu Á điều trị bước 2 có tỷ lệ đáp ứng 27%, tỷ lệ kiểm soát bệnh 78%, trung vị STKTT 5,78 tháng và trung vị STTB 14,7 tháng.
  • Các nghiên cứu đánh giá điều trị bước 2 của erlotinib trên nhóm bệnh nhân có đột biến gen EGFR khẳng định thời gian sống thêm không tiến triển đạt mức cao:
Tác giả nghiên cứu Năm công bố Số lượng bệnh nhân (n) và đặc điểm STKTT trung vị (tháng)
Massuti và cộng sự 2012 n = 217 (bước 2, đột biến exon 19: 134, exon 21: 83) 14,0
Rosell và cộng sự 2009 n = 104 (đột biến trên exon 19, 21) 13,0
Zhou và cộng sự 2011 n = 56 (bước 2, có đột biến gen EGFR) 15,8
Yoshiko Urata 2016 n = 160 (bước 2, có đột biến gen EGFR) 10,0
  • Nghiên cứu trên nhóm di căn não của Porta và cộng sự ghi nhận tỷ lệ đáp ứng 6/17 bệnh nhân có đột biến; phân tích gộp 16 thử nghiệm lâm sàng trên 464 bệnh nhân di căn não cho thấy tỷ lệ đáp ứng chung là 51,8% và tỷ lệ đáp ứng trên nhóm có đột biến gen EGFR đạt từ 60% đến 80%.
  • Về trình tự điều trị giữa hóa trị và TKIs: Nghiên cứu IPASS ghi nhận tỷ lệ đáp ứng với hóa chất ở nhóm có đột biến EGFR cao hơn nhóm không có đột biến (47% so với 23,5%); phân tích gộp của Zhang Y., Sun Y., Wang L. và cộng sự (2013) trên 6 thử nghiệm pha III cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về STTB giữa hai nhóm điều trị EGFR TKIs trước hoặc sau hóa trị (HR = 1,22); các nghiên cứu OPTIMAL, TORCH và EURTAC chỉ ra lợi ích của việc điều trị tuần tự kết hợp.

Về các công trình trong nước:

  • Nguyễn Tuyết Mai và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 36 bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến giai đoạn muộn điều trị Tarceva bước 2/3 tại Bệnh viện K ghi nhận trung vị STKTT đạt 8,15 tháng và STTB đạt 12,1 tháng.
  • Lê Thượng Vũ và Trần Nguyên Ngọc (2013) nghiên cứu trên 98 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ điều trị Tarceva ghi nhận tỷ lệ đáp ứng chung là 35,5%, trung vị STKTT nhóm điều trị bước 2/3 là 8 ± 1,5 tháng và trung vị STTB là 18 ± 2,1 tháng.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam được thực hiện trên cỡ mẫu nhỏ hoặc trên nhóm bệnh nhân không chọn lọc tình trạng đột biến gen. Luận án này tập trung khảo sát một cách hệ thống trên quần thể thuần nhất gồm 79 bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến giai đoạn muộn có đột biến gen EGFR (exon 19 và 21) đã thất bại với hóa trị, làm rõ hiệu quả điều trị tiếp theo của erlotinib về cải thiện triệu chứng, đáp ứng khối u, thời gian sống thêm và hồ sơ an toàn thực tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở sinh học phân tử về con đường truyền tín hiệu của thụ thể yếu tố phát triển biểu bì (EGFR), thuộc họ ErB tyrosine kinase (HER-1, HER-2, HER-3, HER-4). Phân tử protein EGFR gồm ba phần: phần ngoại bào, phần xuyên màng và phần nội bào mang hoạt tính tyrosine kinase. Sự gắn kết phối tử kích hoạt quá trình nhị trùng thụ thể và tự phosphoryl hóa chuỗi kinase nội bào, khởi động hai con đường dẫn truyền tín hiệu chính: RAF-MEK-MAPK (điều hòa phân chia tế bào) và PI3K-AKT-mTOR (kiểm soát sự sống còn, ức chế quá trình chết theo chu trình, kích thích tân tạo mạch và di căn).

Đột biến gen EGFR nằm tại vùng mã hóa cho miền gắn kết ATP (từ exon 18 đến 21 trên nhiễm sắc thể 7p12):

  • Nhóm I: Đột biến mất đoạn trên exon 19 (chiếm khoảng 45%, phổ biến là mất đoạn LREA từ acid amin 747 đến 749).
  • Nhóm II: Đột biến điểm thay thế nucleotid trên exon 21 (chiếm khoảng 40-45%, phổ biến là đột biến L858R thay arginine bằng leucine tại codon 858; ngoài ra có L861Q) và exon 18 (G719X, G719S, G719A, G719C chiếm khoảng 4%). Các đột biến nhóm I và II làm tăng hệ số phân ly Km với ATP và giảm với EGFR TKIs, khiến thụ thể tăng ái lực chọn lọc với thuốc.
  • Nhóm III: Đột biến trên exon 20 (như T790M, V769L, S768I và đột biến thêm đoạn) liên quan đến cơ chế kháng thuốc EGFR TKIs, trong đó T790M chiếm 50% nguyên nhân kháng erlotinib thứ phát.

Dược lý học của thuốc erlotinib (Tarceva, Roche): Hoạt chất erlotinib hydrochloride salt có công thức hóa học C22H23N3O4 (tên khoa học: N-(3-ethynylphenyl)-6,7-bis(2-methoxyethoxy)-4-quinazolinamine). Thuốc cạnh tranh vị trí gắn ATP tại miền tyrosine kinase nội bào của thụ thể EGFR, ức chế phản ứng phosphoryl hóa nội bào, ngăn chặn dẫn truyền tín hiệu sinh u. Thuốc dùng đường uống liều 150 mg/ngày, uống lúc đói (ít nhất 1 giờ trước hoặc 2 giờ sau ăn). Người hút thuốc lá bị giảm 50-60% nồng độ phân bố thuốc, có thể dung nạp liều lên đến 300 mg.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu, theo dõi dọc thuần tập không đối chứng.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến giai đoạn IIIB-IV (theo AJCC 2010 ấn bản 7) hoặc tái phát, di căn; tuổi từ 18 trở lên; có đột biến EGFR tại exon 19 hoặc 21; đã thất bại với ít nhất một phác đồ hóa chất trước đó; điều trị bằng erlotinib đơn thuần ít nhất 2 tháng; có tổn thương đích đánh giá theo tiêu chuẩn RECIST 1.1; hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin theo dõi.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn lựa chọn trên; có bệnh lý nội khoa nặng không thể theo dõi; thông tin theo dõi bị gián đoạn.
  • Công cụ và kỹ thuật đánh giá:
    • Đánh giá giai đoạn bệnh: Hệ thống phân loại TNM 2010 (AJCC ấn bản 7).
    • Đánh giá đáp ứng khối u: Tiêu chuẩn RECIST 1.1 (đáp ứng hoàn toàn - ĐƯHT, đáp ứng một phần - ĐƯMP, bệnh giữ nguyên - BGN, bệnh tiến triển - BTT). Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) = ĐƯHT + ĐƯMP; tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) = ĐƯHT + ĐƯMP + BGN.
    • Đánh giá chất lượng cuộc sống và cải thiện cơ năng: Bộ câu hỏi EORTC QLQ-C30 đánh giá sau 2 tháng điều trị; ghi nhận thời gian duy trì đáp ứng cơ năng và mức giảm thuốc giảm đau.
    • Đánh giá thể trạng: Chỉ số toàn trạng ECOG PS (0 đến 2) và chỉ số khối cơ thể (BMI).
    • Xét nghiệm đột biến gen EGFR: Sử dụng bệnh phẩm mô sinh thiết hoặc tế bào học, phân tích bằng kỹ thuật Real-time PCR (Scorpion ARMS), giải trình tự gen trực tiếp hoặc Digital PCR.
    • Đánh giá độc tính: Phân loại theo cơ quan (huyết học, men gan AST/ALT/Bilirubin, chức năng thận creatinin, độc tính trên da, hệ tiêu hóa) và phân độ độc tính theo tiêu chuẩn chung.
    • Phương pháp phân tích sống thêm: Xây dựng đường cong sống thêm không tiến triển (STKTT) và sống thêm toàn bộ (STTB) theo phương pháp Kaplan-Meier; kiểm định mối liên quan bằng phân tích đơn biến và đa biến.
  • Nguồn tư liệu: Hồ sơ bệnh án nội trú, ngoại trú, phim chụp CT scan ngực, MRI sọ não, xạ hình xương, PET-CT, kết quả xét nghiệm mô bệnh học, hóa mô miễn dịch, xét nghiệm đột biến gen tại Bệnh viện K, Bệnh viện Ung bướu Hà Nội và Bệnh viện Bạch Mai.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết và thực tiễn về ung thư phổi. Về dịch tễ học, tác giả phân tích số liệu toàn cầu và Việt Nam theo GLOBOCAN 2012, ghi nhận ung thư giai đoạn 2008-2010 tại Hà Nội và toàn quốc, trong đó tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi ở nam giới Hà Nội là 39,9/100.000 dân và nữ giới là 13,2/100.000 dân. Yếu tố nguy cơ hàng đầu là thuốc lá (chiếm 85-90% trường hợp, nguy cơ tăng 15-20 lần ở người hút trên 1 bao/ngày), bên cạnh yếu tố môi trường (khí Radon, amiăng, niken, crom, asen), bệnh phổi mạn tính và biến đổi gen (mất đoạn 3p21, gen p53, EGFR, KRAS, ALK).

Chẩn đoán bệnh dựa trên lâm sàng (triệu chứng phế quản, triệu chứng xâm lấn chèn ép, hội chứng cận u, triệu chứng di căn) và cận lâm sàng (X-quang, CT scan, MRI, PET-CT với độ nhạy 90-92%, nội soi phế quản, sinh thiết xuyên thành ngực dưới CT với độ chính xác 76%, nội soi trung thất, cell block, hóa mô miễn dịch TTF1, Napsin A). Tiêu chuẩn giai đoạn dựa theo TNM 2010:

Giai đoạn TNM 7th N0 N1 N2 N3
T1a (<= 2 cm) IA IIA IIIA IIIB
T1b (2-3 cm) IA IIA IIIA IIIB
T2a (3-5 cm) IB IIA IIIA IIIB
T2b (5-7 cm) IIA IIB IIIA IIIB
T3 (> 7 cm, xâm lấn) IIB IIIA IIIA IIIB
T4 (lan rộng) IIIA IIIA IIIB IIIB
M1a (dịch màng phổi, nốt đối bên) IV IV IV IV
M1b (di căn xa) IV IV IV IV

Về mô bệnh học, chương 1 cập nhật phân loại WHO 2014 cho ung thư biểu mô tuyến thành 5 typ ưu thế (lepidic, chùm nang, nhú, vi nhú, đặc) và các thể xâm nhập tối thiểu. Tác giả tổng hợp mối liên quan giữa thứ typ mô bệnh học với tỷ lệ đột biến gen:

Thứ typ UTBM tuyến phổi Tỷ lệ đột biến EGFR (%) Tỷ lệ đột biến KRAS (%)
Tại chỗ 85,7% 0,0%
Xâm nhập tối thiểu 83,3% 8,3%
Thể Lepidic 71,4% 0,0%
Thể Nhú 68,5% 4,5%
Thể Nang 38,4% 23,1%
Thể Vi nhú 40,1% Không nêu
Thể Đặc 14,3% 25,0%
Thể Tuyến xâm nhập chế nhày 0,0% 80,0 - 100,0%

Chương này cũng tổng thuật các nhóm thuốc nhắm trúng đích theo dấu ấn sinh học:

Đột biến gen / Chỉ điểm sinh học Thuốc điều trị trúng đích phân tử
Đột biến gen EGFR Erlotinib, Gefitinib, Afatinib
Chuyển đoạn gen EML4-ALK Crizotinib, Ceritinib
Kết hợp gen ROS1 Crizotinib
Đột biến ERBB2 (HER2) Trastuzumab, Afatinib
Đột biến BRAF Vemurafenib, Dabrafenib
Khuếch đại gen MET Crizotinib
Kết hợp gen RET Cabozatinib

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp triển khai trên 79 bệnh nhân tại ba bệnh viện (Bệnh viện K, Bệnh viện Ung bướu Hà Nội, Bệnh viện Bạch Mai). Quy trình nghiên cứu gồm:

  1. Thu thập thông tin chẩn đoán ban đầu, giai đoạn TNM, tiền sử điều trị hóa chất trước đó (loại phác đồ, số chu kỳ, đáp ứng, thời gian STKTT với hóa chất).
  2. Đánh giá tình trạng trước khi dùng erlotinib: triệu chứng lâm sàng, chỉ số ECOG PS, BMI, xét nghiệm cận lâm sàng, tổn thương đích theo RECIST 1.1, kết quả xét nghiệm đột biến gen EGFR (exon 19 hoặc 21).
  3. Quy trình dùng thuốc: Erlotinib viên nén 150 mg uống hàng ngày, hướng dẫn xử trí khi quên thuốc, giảm liều từng nấc 50 mg khi có độc tính nặng độ 3-4 hoặc tạm dừng điều trị.
  4. Đánh giá định kỳ: Đánh giá cải thiện triệu chứng cơ năng bằng bộ câu hỏi EORTC QLQ-C30; chụp CT scan lồng ngực và MRI sọ não sau mỗi 2-3 tháng để xác định đáp ứng khách quan theo RECIST 1.1; ghi nhận thời gian sống thêm STKTT và STTB.
  5. Theo dõi độc tính trên huyết học, chức năng gan thận, độc tính trên da và đường tiêu hóa. Xử lý số liệu bằng các thuật toán thống kê y học chuyên dụng, phân tích đơn biến và đa biến. Đảm bảo các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu được từ 79 bệnh nhân nghiên cứu:

  • Đặc điểm nhóm bệnh nhân: Tỷ lệ phân bố tuổi, giới tính, tiền sử hút thuốc lá, tiền sử bệnh nội khoa, chỉ số toàn trạng ECOG PS, chỉ số khối cơ thể BMI.
  • Đặc điểm bệnh học và di căn: Phân bố vị trí tổn thương di căn (màng phổi, phổi đối bên, não, xương, gan, thượng thận), số lượng cơ quan di căn.
  • Tiền sử điều trị hóa chất: Số lượng phác đồ hóa chất đã trải qua, tỷ lệ phân bố các phác đồ (phác đồ chứa platinum), mức độ đáp ứng với hóa chất trước đó và thời gian STKTT của hóa trị bước trước.
  • Xét nghiệm đột biến gen: Phân bố tỷ lệ bệnh nhân mang đột biến mất đoạn trên exon 19 và đột biến điểm trên exon 21.
  • Kết quả điều trị erlotinib:
    • Đánh giá cơ năng: Tỷ lệ cải thiện các triệu chứng ho, khó thở, đau ngực lượng hóa bằng thang điểm EORTC QLQ-C30 sau 2 tháng dùng thuốc; thời gian bắt đầu xuất hiện đáp ứng cơ năng; tỷ lệ bệnh nhân giảm liều hoặc ngừng dùng thuốc giảm đau.
    • Đánh giá đáp ứng khách quan: Tỷ lệ ĐƯHT, ĐƯMP, BGN, BTT theo tiêu chuẩn RECIST 1.1 trên tổn thương nguyên phát và tổn thương di căn não; tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR).
    • Phân tích sống thêm: Trung vị thời gian STKTT và STTB của toàn bộ nhóm nghiên cứu.
    • Phân tích STKTT và STTB theo các phân nhóm: Theo nhóm tuổi, giới tính, chỉ số toàn trạng ECOG PS, loại exon đột biến EGFR (exon 19 so với exon 21), tiền sử hút thuốc lá, mức độ nổi ban da do thuốc, số lượng phác đồ hóa chất trước đó và mức độ đáp ứng với hóa trị trước.
    • Kết quả phân tích đơn biến và phân tích hồi quy đa biến nhằm xác định các yếu tố tiên lượng độc lập đối với STKTT và STTB.
  • Độc tính và tác dụng không mong muốn:
    • Tỷ lệ và mức độ độc tính huyết học (giảm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu).
    • Tỷ lệ biến đổi chức năng gan (tăng men gan AST, ALT, Bilirubin) và chức năng thận (tăng creatinin máu).
    • Đặc điểm độc tính trên da: Tỷ lệ nổi ban da dạng trứng cá, vị trí ban nổi (mặt, ngực, lưng), tỷ lệ viêm quanh móng, mức độ nặng của ban da.
    • Độc tính trên hệ tiêu hóa: Tỷ lệ và mức độ tiêu chảy, buồn nôn, viêm niêm mạc miệng.
    • Tỷ lệ bệnh nhân phải giảm liều hoặc tạm thời gián đoạn điều trị do độc tính.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung phân tích, so sánh các kết quả đạt được với y văn:

  • Về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng: Bàn luận về tính đại diện của mẫu nghiên cứu 79 bệnh nhân tại Việt Nam về phân bố tuổi, giới, tình trạng hút thuốc và vị trí di căn so với các báo cáo trong nước và quốc tế.
  • Về xét nghiệm đột biến gen EGFR: Phân tích tỷ lệ và vai trò của đột biến exon 19 và 21 trong việc định hướng điều trị đích trên bệnh nhân biểu mô tuyến tại Việt Nam.
  • Về hiệu quả điều trị của erlotinib:
    • So sánh tốc độ cải thiện triệu chứng lâm sàng và chất lượng cuộc sống (EORTC QLQ-C30) với các thử nghiệm quốc tế.
    • Bàn luận về tỷ lệ đáp ứng khách quan trên u nguyên phát và hiệu quả kiểm soát tổn thương não nhờ khả năng thấm qua hàng rào máu não của erlotinib.
    • Phân tích thời gian sống thêm STKTT và STTB, đặt trong tương quan so sánh với các nghiên cứu bước 2 trên nhóm có đột biến gen EGFR của Massuti (14 tháng), Rosell (13 tháng), Zhou (15,8 tháng), Yoshiko Urata (10 tháng) và các nghiên cứu trong nước của Nguyễn Tuyết Mai, Lê Thượng Vũ.
    • Bàn luận về các yếu tố ảnh hưởng đến sống thêm: Phân tích sâu sự khác biệt về tiên lượng giữa đột biến exon 19 và exon 21, mối tương quan thuận giữa mức độ nổi ban trên da với thời gian sống thêm, vai trò của chỉ số thể trạng ECOG và tiền sử hút thuốc.
  • Về độc tính và tính an toàn: Bàn luận về cơ chế nổi ban da, biến cố tiêu chảy và tính an toàn của liều chuẩn 150 mg/ngày; tính khả thi trong quản lý tác dụng phụ tại các cơ sở điều trị ở Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án mang lại những kết quả và đóng góp cụ thể về mặt khoa học và thực tiễn lâm sàng:

  • Khẳng định giá trị thực tiễn của thuốc erlotinib trong điều trị tiếp theo (bước 2/3) cho bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến phổi giai đoạn muộn có đột biến gen EGFR (exon 19 và 21) sau khi đã thất bại với hóa trị tại Việt Nam.
  • Cung cấp dữ liệu lâm sàng toàn diện về tỷ lệ đáp ứng khối u, khả năng kiểm soát tổn thương di căn não, mức độ cải thiện triệu chứng cơ năng (lượng hóa qua bộ câu hỏi EORTC QLQ-C30) và các chỉ số sống thêm (STKTT, STTB) trên một quần thể bệnh nhân thuần nhất được xác định đột biến gen.
  • Xác định mối liên quan giữa các đặc điểm sinh học phân tử (vị trí đột biến exon 19 so với exon 21), dấu hiệu lâm sàng (mức độ nổi ban da do thuốc), thể trạng bệnh nhân (chỉ số ECOG PS) với đáp ứng điều trị và thời gian sống thêm thông qua phân tích đơn biến và đa biến.
  • Cung cấp bằng chứng về hồ sơ an toàn và độc tính của erlotinib trong điều kiện điều trị thực tế tại Việt Nam, khẳng định các tác dụng phụ thường gặp (ban da, tiêu chảy, tăng men gan nhẹ) phần lớn ở mức độ nhẹ và vừa, có thể kiểm soát được mà không làm gián đoạn kéo dài liệu trình điều trị.

Kiến nghị đề xuất từ nghiên cứu:

  • Đề xuất chỉ định xét nghiệm đột biến gen EGFR thường quy cho tất cả các bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ thể biểu mô tuyến giai đoạn tiến xa để tối ưu hóa chiến lược điều trị cá thể hóa.
  • Khuyến nghị sử dụng erlotinib như một lựa chọn điều trị bước 2 hoặc bước tiếp theo hiệu quả cao cho những bệnh nhân mang đột biến EGFR nhạy cảm thuốc chưa có điều kiện tiếp cận thuốc ức chế tyrosine kinase ở bước 1.
  • Chú trọng theo dõi, phát hiện sớm và xử trí các tác dụng phụ ngoài da và tiêu hóa nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống và sự tuân thủ điều trị của người bệnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả can thiệp lâm sàng không đối chứng trên cỡ mẫu 79 bệnh nhân, chưa thực hiện thử nghiệm đối đầu ngẫu nhiên có nhóm chứng để so sánh trực tiếp giữa việc dùng TKIs bước 1 với TKIs bước 2 trên cùng một quần thể.
  • Nghiên cứu tập trung vào hai loại đột biến nhạy cảm thuốc chính là exon 19 và exon 21, chưa phân tích chuyên sâu các biến đổi gen kháng thuốc thứ phát phát sinh sau khi bệnh tiến triển với erlotinib (như đột biến T790M trên exon 20 hoặc khuếch đại gen MET).

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế kháng thuốc thứ phát, đặc biệt là theo dõi sự xuất hiện của đột biến EGFR T790M sau thất bại với erlotinib, làm cơ sở chỉ định các thuốc EGFR TKIs thế hệ tiếp theo (như osimertinib).
  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá các phác đồ điều trị phối hợp hoặc tuần tự giữa liệu pháp nhắm trúng đích, hóa trị và các thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch trên bệnh nhân ung thư phổi tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng và tham khảo cho nhiều đối tượng:

  • Bác sĩ chuyên ngành Ung bướu, Hô hấp và Xạ trị: Tham khảo trực tiếp phác đồ sử dụng erlotinib bước 2/3, quy trình đánh giá đáp ứng khối u theo RECIST 1.1, quản lý tổn thương di căn não và phương pháp xử trí các tác dụng không mong muốn thường gặp trên lâm sàng.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh về thiết kế nghiên cứu lâm sàng đánh giá thuốc nhắm trúng đích phân tử, ứng dụng công cụ EORTC QLQ-C30 trong lượng hóa chất lượng cuộc sống và kỹ thuật phân tích sống thêm trong ung thư học.
  • Các nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách bảo hiểm: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về hiệu quả của thuốc erlotinib trên bệnh nhân mang đột biến gen EGFR sau thất bại hóa trị, phục vụ việc xây dựng hướng dẫn chẩn đoán điều trị quốc gia và chính sách chi trả bảo hiểm y tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Đối tượng bệnh nhân được lựa chọn đưa vào nghiên cứu của luận án gồm những ai?
Nghiên cứu bao gồm 79 bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ thể biểu mô tuyến giai đoạn muộn (IIIB, IV theo AJCC 2010 hoặc tái phát, di căn), có đột biến gen EGFR tại exon 19 hoặc 21, đã thất bại với ít nhất một phác đồ hóa chất trước đó và điều trị bằng erlotinib đơn thuần đường uống ít nhất 2 tháng tại Bệnh viện K, Bệnh viện Ung bướu Hà Nội và Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2009 đến tháng 10/2015.

2. Thuốc erlotinib được sử dụng trong nghiên cứu có đặc tính dược lý và liều dùng như thế nào?
Erlotinib (biệt dược Tarceva của Roche) có công thức hóa học C22H23N3O4, là chất ức chế chọn lọc thụ thể EGFR tyrosine kinase thông qua cơ chế cạnh tranh vị trí gắn ATP nội bào. Thuốc được dùng đường uống với liều chuẩn khuyến cáo 150 mg/ngày, uống lúc đói (ít nhất 1 giờ trước hoặc 2 giờ sau khi ăn), điều chỉnh giảm từng nấc 50 mg khi xuất hiện tác dụng phụ nặng.

3. Tại sao đột biến trên exon 19 và exon 21 của gen EGFR lại nhạy cảm với thuốc erlotinib?
Đột biến mất đoạn trên exon 19 và đột biến điểm L858R trên exon 21 (chiếm khoảng 90% các đột biến hoạt hóa EGFR) làm tăng hệ số phân ly của thụ thể với ATP và giảm với thuốc EGFR TKIs, khiến thụ thể giảm ái lực với ATP tự nhiên và tăng ái lực mạnh mẽ với erlotinib, dẫn đến ức chế dẫn truyền tín hiệu sinh u hiệu quả.

4. Những tác dụng không mong muốn thường gặp nhất của thuốc erlotinib được ghi nhận trong y văn là gì?
Hai tác dụng không mong muốn phổ biến nhất là nổi ban da dạng hồng ban, sẩn mủ (gặp ở khoảng 75% bệnh nhân) và tiêu chảy (khoảng 54%), bên cạnh các rối loạn ít gặp hơn như thay đổi móng, tăng men gan thoáng qua hoặc viêm phổi kẽ.

5. Luận án được thực hiện tại những cơ sở nào và người hướng dẫn khoa học là ai?
Luận án được thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội (nghiên cứu sinh khóa 30 Lê Thu Hà) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Trần Văn Thuấn, thu thập số liệu tại Bệnh viện K, Bệnh viện Ung bướu Hà Nội và Trung tâm Y học hạt nhân và điều trị ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai.

Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Lê Thu Hà đã nghiên cứu và đánh giá kết quả điều trị cũng như tác dụng phụ của thuốc erlotinib (Tarceva) trên 79 bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến giai đoạn muộn mang đột biến gen EGFR đã thất bại với hóa trị. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ hiệu quả của thuốc trong việc cải thiện triệu chứng cơ năng, kiểm soát khối u tại chỗ và tổn thương di căn não, đồng thời kéo dài thời gian sống thêm cho người bệnh. Công trình cung cấp các bằng chứng khoa học và lâm sàng thực tế tại Việt Nam, khẳng định vai trò của điều trị trúng đích tiếp theo và tính an toàn của erlotinib trong thực hành điều trị ung thư phổi giai đoạn tiến xa.