Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn 1. Cơ sở lý luận về vấn đề Hợp tác xã nông nghiệp Từ năm 1997 đến nay Hợp tác xã (HTX) đã có những biến đổi quan trọng, cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước từng bước được hình thành và điều tiết quan hệ kinh tế, các HTX từng bước chuyển đổi và đăng ký lại hoạt động phù hợp và thích ứng tốt với sự biến động của cơ chế thị trường; vai trò tự chủ của HTX được đề cao; mô hình HTX mới, phát triển sản xuất kinh doanh gắn với chuỗi giá trị được hình thành và phát triển ngày càng nhiều; góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ổn định chính trị cơ sở và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước và được coi là một thành phần kinh tế quan trọng không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân. Trong những năm gần đây HTX nông nghiệp ở nước ta đã phát triển về cả số lượng và chất lượng, quy mô và hình thức hoạt động ngày một đa dạng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế nước nhà.
Theo Điều 3 - Luật Hợp tác xã năm 2012 “Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 nông dân, hộ gia đình nông nghiệp tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã” (Quốc hội, 2012) [2]. Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể mang tính xã hội: HTX nông nghiệp đầu tiên là để đáp ứng các nhu cầu chung của nông dân về sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nông nghiệp; Nông dân gia nhập HTX là vì họ muốn được HTX cung cấp dịch vụ, sản phẩm mà họ không thể tự làm hoặc làm một mình không đạt hiệu quả. Hoạt động sản 5 xuất, kinh doanh của HTX là nơi thúc đẩy tăng thêm lợi ích, hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ nông dân; Mục tiêu của HTX là phục vụ nhu cầu chung của thành viên, không phải vì lợi nhuận. HTX là một tổ chức kinh tế hợp tác mang tính xã hội hỗ trợ các hộ nông dân tăng cơ hội cạnh tranh.
HTX là một tổ chức xã hội của nông dân, trong đó các thành viên bình đẳng và được phát huy vai trò của cộng đồng dân cư trong quản lý xã hội, kinh doanh. Đối tượng tham gia HTX là những người nông dân, hộ nông dân và pháp nhân. Khi tham gia HTX, thành viên HTX bắt buộc phải góp vốn để xác định tư cách thành viên. Việc thành lập HTX xuất phát từ nhu cầu và lợi ích chung họ liên kết lại với nhau để phát huy sức mạnh tập thể.
Các HTXNN tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân, giúp nông dân tăng tính cạnh tranh, giảm chi phí sản xuất, góp phần không nhỏ vào chuyển dịch kinh tế, ổn định kinh tế xã hội. Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức quan trọng trong việc hỗ trợ phát triển nông thôn và nông nghiệp. Khu vực kinh tế HTX ngày càng phát triển đúng theo tinh thần Nghị quyết số 13 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 5 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của KTTT. Đến 9/2019, cả nước có 23.905 HTX tăng 6,5% so với năm 2018, trong đó 22.649 HTX đang hoạt động, 1.256 ngừng hoạt động; số HTX đang hoạt động được phân loại như sau: nông - lâm - ngư - diêm nghiệp thủy sản: 14.379 HTX, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: 1.923 HTX, thương mại: 1.944 HTX, vận tải và dịch vụ vận tải: 1.375 HTX, xây dựng - sản xuất vật liệu xây dựng: 852 HTX, môi trường: 483 HTX, quỹ tín dụng nhân dân: 1.180 Quỹ, dịch vụ (y tế, nhà ở, giáo dục, du lịch sinh thái.
Có 54/63 tỉnh, thành phố tăng số lượng HTX; số HTX vùng Tây Bắc tăng 4% và chiếm 9% tổng số HTX, Đông Bắc tăng 4% và chiếm 18%, Đồng bằng sông Hồng giảm 5% và chiếm 25%, Bắc Trung bộ tăng 4% và chiếm 18%, Duyên hải Nam Trung bộ giảm 4% và chiếm 5%, Tây Nguyên 6 tăng 6% và chiếm 6%, Đông Nam bộ tăng 3% và chiếm 8%, Đồng bằng sông Cửu Long tăng 4% và chiếm 12%. Trong 9 tháng, cả nước thành lập mới 02 LHHTX, nâng tổng số LHHTX toàn quốc đạt 76, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, thương mại, vận tải. Cả nước có trên 100 nghìn tổ hợp tác (THT), trong đó THT nông nghiệp chiếm 32%, phi nông nghiệp chiếm 68% với các hình thức hợp tác đa dạng, mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân, theo thống kê, 15 THT đã được tư vấn, chuyển đổi thành mô hình HTX trong 9 tháng đầu năm 2019 (Tài liệu, 2020) [2]. Cơ sở lý luận về vấn đề hiệu quả kinh tế và đánh giá hiệu quả kinh tế của HTX nông nghiệp.
Một số quan điểm về hiệu quả kinh tế Quá trình sản xuất kinh doanh trải qua các giai đoạn T – H – T – H’ – T’. Doanh nghiệp dùng tiền (T) mua thiết bị, công nghệ, vật tư, kết hợp với sức lao động tạo ra hàng hóa(H), bán hàng hóa đi với mục đích thu lại số tiền(T) nhiều hơn số tiền bỏ ra ban đầu, sau đó tiếp tục đầu tư tạo ra hàng hóa và tạo ra lợi nhuận nhiều hơn. Vậy quá trình sản xuất kinh doanh là một quá trình thống nhất của nhiều giai đoạn, kết quả của một giai đoạn đều có ảnh hưởng đến cả quá trình và giá trị của doanh nghiệp mang lại nhiều mặt: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường. trong đề tài này em chỉ đề cập đến hiệu quả kinh tế.Mác cho rằng hiệu quả kinh tế là việc: Tiết kiệm hợp lý giữa thời gian lao động sống và thời gian lao động vật hóa giữa các ngành.Mác cũng cho rằng: “Nâng cao năng suất lao động là cơ sở của mọi hoạt động xã hội” theo ông thì để đạt được hiệu quả kinh tế thì cần làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết với số lượng hàng hóa ít hơn thì sẽ tạo ra giá trị sử dụng nhiều hơn.
Có quan điểm khác cho rằng: Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở bất kỳ lĩnh vực nào các nhà sản xuất đều tìm cách sao cho chi phí sản xuất kinh 7 doanh nhỏ nhất và giá trị sản xuất sản phẩm ra ở mức cao nhất. Mọi yếu tố sản xuất đều liên quan tới hai yếu tố cơ bản đó là chi phí sản xuất và kết quả sản xuất thu được từ chi phí đó. Mối tương quan này được xem xét trong cả hai yếu tố cả tương đối và tuyệt đối, cũng như mối quan hệ chặt chẽ giữa hai yếu tố đó: Với cách tiếp cận này quan điểm này chỉ tiếp cận trên góc độ quy mô của hiệu quả, với quan điểm này vẫn chưa phản ánh được hiệu quả vì trong trường hợp tình trạng nguồn lực khan hiếm thì các doanh nghiệp vẫn phải sản xuất làm sao để đạt được hiệu quả tối đa nhất. Hiệu quả kinh tế nông nghiệp được đo bằng tỷ lệ giữa khối lượng sản phẩm thu được và chi phí để đạt được khối lượng đó.
Tức là: H=Q/C trong đó: + H là hiệu quả kinh tế + Q là khối lượng sản phẩm thu được + C là chi phí để đạt được khối lượng sản phẩm Q Cách tiếp cận này cho thấy mức độ hiệu quả của các đơn vị sản xuất mà lại không so sánh được quy mô các đơn vị kinh tế với nhau. Từ những quan điểm trên ta có khái niệm cụ thể và đầy đủ hơn: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế liên quan đến sản xuất hàng hóa. Hiệu quả kinh tế biểu hiện mối quan hệ giữa khối lượng sản phẩm thu được và chi phí để sản xuất ra khối lượng sản phẩm đó. Bản chất của Hiệu quả kinh tế.
Từ định nghĩa đã nói trên ta có thể hiểu nó là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối quan hệ giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận và khả năng đáp ứng của sản 8 phẩm đối với nhu cầu của thị trường. Bản chất của hiệu quả SXKD là phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực như vốn, nguyên vật liệu… Bởi vậy hiệu quả SXKD đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá, phân tích và so sánh kinh tế để tìm ra giải pháp tối ưu nhất để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Với vai trò là phương tiện đánh giá và phân tích kinh tế, hiệu quả SXKD được sử dụng để tổng hợp, đánh giá chung về trình độ sử dụng đầu vào ở toàn bộ HTX và đánh giá được trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở từng bộ phận, từng lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX.
Ý nghĩa của hiệu quả kinh tế: Đối với nền kinh tế quốc dân: Hiệu quả kinh tế của HTXNN phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, trình độ sản xuất và mức độ hoàn thiện của quan hệ sản xuất trong cơ chế thị trường, bao gồm sử dụng các nguồn lực của quốc gia và địa phương. Hợp tác xã nông nghiệp có ý nghĩa to lớn đối không chỉ cho sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn mà còn có ý nghĩa đặc biệt đối với hoạt động sản xuất của người nông dân. HTX nông nghiệp hay HTX trong lĩnh vực nông nghiệp không chỉ là đầu mối thu gom sản phẩm nông nghiệp cho các thành viên hợp tác xã, mà còn là nơi để các thành viên có thể chia sẻ kinh nghiệm sản xuất kinh doanh với nhau, hỗ trợ nhau về vốn, về lao động. Đối với bản thân HTX nông nghiệp: Hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là mức độ sử dụng các nguồn lực bên trong như lao động, tài sản, vốn.
nhằm nâng cao doanh thu, lợi nhuận cho các thành viên HTX. Là cơ sở để thành viên có thể tái sản xuất mở rộng, cải thiện đời sống của mình.