Đặt vấn đề Việt Nam với tổng diện tích rừng tự nhiên 33 triệu ha,trong đó có ¾ diện tích là đồi núi, nằm trong vùng nhiệt đới, có điều kiện tự nhiên thuận lợi nên thực vật rừng rất phong phú và đa dạng. Rừng có vai trò quan trọng đối với đời sống của con người, đặc biệt là đồng bào sống trong rừng, gần rừng và phụ thuộc vào rừng. Rừng không chỉ cung cấp gỗ mà còn cung cấp các lâm đặc sản quý phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của hang triệu đồng bào miền núi. Rừng còn là nơi nuôi dưỡng nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, làm sạch môi trường và mang lại giá trị văn hóa, tinh thần.
Tuy nhiên cùng với sự phát triển của xã hội, sự bùng nổ của dân số thế giới, rừng càng bị thu hẹp về diện tích, giảm sút về chất lượng. Nguyên nhân chủ yếu của mất rừng là sự can thiệp thiếu hiểu biết của con người. Với điều kiện sống nghèo đói người ta đã hai thác rừng một cách quá khả năng phục hồi của nó.Ngoài ra những biện pháp kĩ thuật lâm sinh và những biện pháp về kinh tế, xã hội thiếu khoa học đã làm gia tăng những tác động tiêu cực đến rừng. Nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng một trong những giải pháp tốt nhất cho bảo vệ và phát triển rừng là kinh doanh lâm sản ngoài gỗ, kinh doanh lâm sản ngoài gỗ cho phép tạo được nguồn thu nhập kinh tế cho người dân miền núi trong khi đó vẫn bảo vệ được rừng.[14] Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, nó có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế, văn hóa của con người, được trồng khá phổ biến trên thế giới, tiêu biểu là một số quốc gia thuộc khu vực ChâuÁ như: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam.
Chè là sản phẩm có giá trị xuất khẩu rất lớn, ở nước ta chè là một trong mặt hàng nông sản xuất khẩu mạnh nhất, đem lại nguồn thu ngoại tệ cao.Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2009, lượng chè xuất khẩu của Việt Nam đạt 134.000T với kim ngạch đạt 179.5 triệu USD, tăng 28,4% về lượng và tăng 22,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2008.[13] Đối với người dân thì cây chè đã mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định, cải thiện đời sống kinh tế văn hóa xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho bộ phận lao 2 động dư thừa nhất là ở các vùng nông thôn. Tính đến năm 2010 ngành chè giải quyết 6 triệu lao động trên 34 tỉnh thành trong cả nước. Mặt khác, cây chè có chu kỳ kinh tế dài, nó có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm liên tục khoảng 30 - 40 năm, nếu chăm sóc tốt thì chu kỳ này còn kéo dài hơn nữa.[1] Hiện, tổng diện tích chè tập trung trên địa bàn huyện Mường Khương là 1.440 ha, năng suất chè búp của huyện dao động khoảng 40 - 50 tạ/ha/năm, sản lượng chè búp tươi năm 2012 đạt hơn 4.000t, giá trị từ sản xuất chè năm 2012 của huyện Mường Khương đạt 33,5 tỷ đồng. Sản phẩm chè chủ yếu dành cho xuất khẩu.
Nhiều hộ nhờ trồng chè mà đã xóa được nghèo, nâng cao thu nhập.[12] Vụ trồng chè năm 2013, huyện Mường Khương nhận kế hoạch trồng mới 250 ha chè tập trung, trong đó, diện tích chè Shan chất lượng cao là 200 ha. Chè trồng mới chủ yếu tập trung tại Bản Xen, Lùng Vai, Bản Lầu, Thanh Bình, Cao Sơn, Lùng Khấu Nhin.Hiện nay trong sản xuất nông nghiệp, cây chè không chỉ là cây xóa đói, giảm nghèo mà đã giúp nhiều gia đình có kinh tế khá hơn, từng bước vươn lên làm giàu.[12] Xuất phát từ đó tôi lựa chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ nông dân sản xuất chè trên địa bàn xã Lùng Vai, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai”. Làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần thúc đẩy việc sản xuất và xuất khẩu chè trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Mục đích nghiên cứu của đề tài Đánh giá hiệu quả kinh tế cây chè của các hộ gia đình trên địa xã Lùng Vai, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013 - 2014 từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cho cây chè trên địa bàn huyện.
Mục tiêu - Đánh giá được thực trạng phát triển, hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn xã Lùng Vai,huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. - Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của cây chè. - Đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn huyện. Yêu cầu của đề tài - Số liệu thu thập phải trung thực, khách quan.
- Kết quả phân tích phải chính xác. - Những kiến nghị đưa ra phải phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp bản thân thu thập được những kinh nghiệm và kiến thức thực tế, củng cố và áp dụng nhứng kiến thức đã học, từ đó nâng cao và tích luỹ nănglực chuyên môn, đồng thời biết cách thực hiện một đề tài và hoàn thành chương trình đào tạo kĩ sư phát triển nông thôn. - Góp phần thu thập những thông tin cần thiết về thực tiễn sản xuất ở địa phương và làm tài liệu tham khảo, cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.
Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở, tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, lãnh đạo các ban ngành đưa ra phương hướng để phát huy thế mạnh, khắc phục điểm yếu còn tồn tại để giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm phát triển nông nghiệp ngày càng vững mạnh. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái niệm về đánh giá và các vấn đề liên quan đến đánh giá - Theo từ điển tiếng Việt, “đánh giá” là quá trình xem xét và đo lường mức độ đạt được của một sự vật, sự việc với các tiêu chí đã được định trước.[16] - Đánh giá hiệu quả kinh tế là một quá trình phức tạp và công phu. Vì vậy để việc đánh giá đạt kết quả tốt thì quy trình đánh giá gồm những công đoạn sau: - Phân tích mục tiêu kinh tế thành các chỉ tiêu kinh tế.
- Đặt ra các yêu cầu về mức độ đạt được các chỉ tiêu kinh tế dựa trên những dấu hiệu có thể đo lường hoặc quan sát được. - Tiến hành đo lường các dấu hiệu đó để đánh giá mức độ đạt được về các yêu cầu đặt ra, biểu thị bằng số liệu - Phân tích, so sánh các thông tin nhận được với các yêu cầu đề ra rồi đánh giá, xem xét kết quả, để từ đó có thể phát huy thế mạnh, cải tiến, khắc phục nhược điểm. Quan điểm về hiệu quả và hiệu quả kinh tế - Hiệu quả là việc tối đa hóa giá trị của đầu ra trên một đơn vị đầu vào. - Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất có liên quan trực tiếp đến nền sản xuất hàng hoá và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác.
- Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế. Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sảnxuất xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng. Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế.[16] -Xuất phát từ giác độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế.[15] 5 + Quan điểm thứ nhất: Trước đây, người ta coi hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế.
Ngày nay, quan điểm này không còn hợp lý, bởi vì nếu cùng một kết quả xuất nhưng hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng một hiệu quả. + Quan điểm thứ hai: Hiệu quả đạt được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân, hiệu quả sẽ cao khi các nhịp độ tăng của các chỉ tiêu đó cao. Nhưng chi phí hoặc nguồn lực được sử dụng tăng nhanh vì sao? Hơn nữa, điều kiện sản xuất năm hiện tại khác với năm trước, yếu tố bên trong và bên ngoài của nền kinh tế có những ảnh hưởng cũng khác nhau. Do đó, quan điểm này chưa được thoả đáng.
+ Quan điểm thứ ba: Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng chứ không phải là giá trị. + Quan điểm thứ tư: Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức độ tăng khối lượng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội, của nền kinh tế quốc dân. Như vậy, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả, do đó việc xác định khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ quan điểm triết học Mác xớt và những luận điểm của lý thuyết hệ thống để có cách nhìn nhận và đánh giá đúng đắn. - Một là: Theo quan điểm triết học Mác xớt thì bản chất của hiệu quả kinh tế là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực của xã hội[14].
Các Mác cho rằng, quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất. Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật này, nó quy định động lực phát triển của lực lượng sản xuất tạo điều kiện phát triển phát minh xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại. - Hai là: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trń h sản xuất. Hệ thống sản xuất xă hội bao gồm trong đó các 6 quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội.