Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây chè (Thea sinensis L.) là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại các vùng trung du và miền núi Việt Nam. Cây chè có chu kỳ khai thác kinh tế kéo dài từ 30 đến 40 năm, thậm chí lâu hơn nếu được chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật. Tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, tổng diện tích chè tập trung đạt 1.440 ha với sản lượng chè búp tươi năm 2012 đạt trên 4.000 tấn, giá trị sản xuất đạt 33,5 tỷ đồng. Cây chè đã trở thành cây trồng chủ lực trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn và nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình.
Xã Lùng Vai là một trong những vùng trọng điểm sản xuất chè của huyện Mường Khương, có diện tích chè tập trung lớn và đang trong quá trình mở rộng diện tích trồng mới. Nhằm đánh giá một cách toàn diện hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất chè ở cấp độ nông hộ, đề tài "Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất chè trên địa bàn xã Lùng Vai, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai" đã được thực hiện.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá hiệu quả kinh tế cây chè của các hộ gia đình trên địa bàn xã Lùng Vai giai đoạn 2013 - 2014, từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè trên địa bàn.
Nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể của nghiên cứu gồm ba nội dung:
- Đánh giá thực trạng phát triển và hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn xã Lùng Vai, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
- Xác định các nhân tố tự nhiên, kinh tế - kỹ thuật và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của cây chè.
- Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn xã và huyện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động sản xuất chè, hiệu quả kinh tế của các hộ nông dân trồng chè và các chính sách, giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cây chè.
- Phạm vi không gian: Các thôn thuộc xã Lùng Vai, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2012 - 2015; số liệu sơ cấp điều tra thực địa năm 2014; thời gian tiến hành đề tài từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và quan niệm về hiệu quả kinh tế
Đề tài tiếp cận khái niệm đánh giá theo nghĩa là quá trình xem xét, đo lường mức độ đạt được của sự vật, hiện tượng dựa trên hệ thống chỉ tiêu định trước. Hiệu quả kinh tế được tiếp cận từ quan điểm triết học Mác-xít về quy luật tiết kiệm thời gian (biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực xã hội nhằm tối đa hóa kết quả với chi phí tối thiểu) và lý thuyết hệ thống trong sản xuất nông nghiệp.
Khóa luận tổng hợp các quan điểm tính toán hiệu quả kinh tế:
- Tỷ số giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra: $H = \frac{Q}{C}$ (trong đó $Q$ là kết quả thu được, $C$ là chi phí bỏ ra).
- Hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí: $H = Q - C$.
- Tỷ số giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí: $H = \frac{\Delta Q}{\Delta C}$.
Về mặt sinh học và sinh thái, cây chè đòi hỏi các điều kiện tự nhiên đặc thù: nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng từ 22 - 28°C (ngừng sinh trưởng dưới 10°C hoặc trên 40°C), lượng mưa trung bình năm từ 1.500 - 2.000 mm, độ ẩm không khí 80 - 85%, đất feralit có tầng dày trên 60 cm, độ pH từ 4,5 đến 6,0, mực nước ngầm dưới 1 m. Các loại sâu bệnh hại chính được tổng kết gồm rầy xanh, bọ cánh tơ, bệnh phồng lá và bệnh đốm nâu.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa và tổng hợp các báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo tổng kết sản xuất nông nghiệp năm 2014 của UBND xã Lùng Vai, số liệu của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Mường Khương, Cục Thống kê, Tổng công ty Chè Việt Nam (Vinatea) và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO).
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) kết hợp phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi. Tiêu chí chọn mẫu là các hộ gia đình có diện tích đất trồng chè từ 360 m² trở lên; quy mô mẫu khảo sát là 50 hộ nông dân trên địa bàn các thôn thuộc xã Lùng Vai.
- Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Số liệu điều tra được tổng hợp, làm sạch và xử lý bằng các phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh và hạch toán kinh tế thông thường.
Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu sử dụng trong đề tài:
- Năng suất cây trồng: $N = \frac{Q}{S}$ (trong đó $N$ là năng suất tính bằng tạ/ha hoặc tấn/ha, $Q$ là tổng sản lượng, $S$ là diện tích).
- Tổng giá trị sản xuất: $GO = \sum (Q_i \times P_i)$ (trong đó $Q_i$ là sản lượng chè loại $i$, $P_i$ là đơn giá tương ứng).
- Chi phí trung gian ($IC$): Toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ thường xuyên như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, làm đất, nước tưới.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của cây chè đối với kinh tế nông hộ miền núi và chiến lược phát triển cây chè hàng hóa của tỉnh Lào Cai cũng như huyện Mường Khương. Xác định rõ mục đích, 3 mục tiêu cụ thể, 3 yêu cầu phương pháp luận và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp kỹ sư ngành Khuyến nông.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả kinh tế, đặc tính nông học của cây chè (Thea sinensis L.), yêu cầu dinh dưỡng (đạm, lân, kali, trung - vi lượng), kỹ thuật canh tác (thời vụ thu hái vụ Xuân, Hè Thu, Thu Đông; kỹ thuật đốn chè tháng 1; tủ gốc giữ ẩm) và các nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị chè.
Tổng quan thực tiễn sản xuất chè trên thế giới (Trung Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka, Nhật Bản, Indonesia, Liên bang Nga) và tại Việt Nam. Phân tích thực trạng ngành chè tỉnh Lào Cai tính đến tháng 11/2012 với tổng diện tích 4.003 ha (chè kinh doanh 3.326 ha, chiếm 83%; chè kiến thiết cơ bản 677 ha, chiếm 17%). Về cơ cấu giống của tỉnh: giống chè Shan chiếm 57,5% (2.032 ha), chè lai LDP1 và LDP2 chiếm 29,7% (1.189 ha), chè trung du chiếm 11,6% (463 ha), giống chè chất lượng cao (Kim Tuyên, Bát Tiên) chiếm 1,2% (49,7 ha). Toàn tỉnh có 12 cơ sở chế biến quy mô công nghiệp (3 nhà máy, 9 xưởng chế biến) với tổng công suất 150 tấn búp tươi/ngày, cùng trên 300 lò chế biến thủ công quy mô hộ.
Tại huyện Mường Khương, diện tích chè năm 2014 đạt 1.744 ha. Dự án chè VietGAP đã nâng năng suất từ 4,5 tấn/ha lên 6,0 tấn/ha, giá búp tươi tăng 20%, giá chè khô tăng 15%, giải quyết việc làm cho hơn 5.000 lao động. Công ty TNHH MTV Chè Thanh Bình đóng vai trò cung ứng giống chính với vườn ươm trên 5,5 triệu bầu giống (5,1 triệu cây Shan, hơn 400.000 cây Kim Tuyên).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Quy định rõ đối tượng khảo sát là hộ sản xuất chè tại xã Lùng Vai; phương pháp chọn mẫu khảo sát thực địa 50 hộ có diện tích trồng chè $\ge 360\text{ m}^2$; quy trình thu thập số liệu thứ cấp từ UBND xã Lùng Vai (báo cáo năm 2014) và số liệu sơ cấp qua công cụ PRA; xác lập công thức tính toán các chỉ tiêu $N$, $Q$, $GO$ và $IC$.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Lùng Vai: Xã nằm cách trung tâm huyện 25 km, gồm 21 thôn bản, có Quốc lộ 4D chạy qua, địa hình thung lũng xen kẽ đồi núi với độ cao trung bình 900 m so với mực nước biển, đất feralit phát triển trên đá biến chất, nhiệt độ trung bình năm 16 - 17°C, lượng mưa trung bình 1.440 - 1.480 mm.
| Chỉ tiêu đất đai và kinh tế xã Lùng Vai |
Năm 2012 |
Năm 2013 |
Năm 2014 |
| Đất trồng chè (ha) |
598,0 |
624,0 |
840,0 |
| Đất trồng cây ăn quả (ha) |
59,0 |
78,0 |
78,5 |
| Đất lâm nghiệp (ha) |
1.834,0 |
1.834,0 |
1.834,0 |
| Tổng số hộ toàn xã (hộ) |
1.232 |
1.232 |
1.232 |
| Tỷ lệ hộ nghèo toàn xã (%) |
16,70 |
12,70 |
8,52 |
| Số hộ nghèo (hộ) |
200 |
155 |
105 |
| Tỷ lệ lao động nông nghiệp (%) |
- |
78,43 |
78,43 |
Về thực trạng sản xuất nông nghiệp tại xã Lùng Vai năm 2014:
- Cây lúa: Diện tích gieo trồng 219 ha (lúa xuân 89 ha, lúa mùa 130 ha), tổng sản lượng 1.113,5 tấn.
- Cây ngô: Tổng diện tích 512 ha, sản lượng cả năm đạt 1.724,9 tấn (giảm 422,4 tấn do hạn hán làm 139,8 ha ngô xuân thiệt hại trên 70%).
- Cây chè: Tổng diện tích đạt 840 ha (chè kinh doanh 540 ha, chè kiến thiết cơ bản 300 ha, trồng mới trong năm 91,5 ha đạt 160% kế hoạch). Năng suất chè kinh doanh bình quân đạt 10 tấn/ha/năm, sản lượng đạt 5.400 tấn (đạt 175,6% kế hoạch, tăng 2.891 tấn so với cùng kỳ).
- Chăn nuôi: Tổng đàn trâu 804 con, đàn bò 16 con, đàn lợn 2.950 con (thịt hơi xuất chuồng 204 tấn), đàn gia cầm 22.000 con.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng hợp những kết luận rút ra từ nghiên cứu về vai trò sinh kế của cây chè đối với xã Lùng Vai, những tồn tại về áp dụng kỹ thuật thâm canh, cơ sở hạ tầng giao thông nội đồng và kiến nghị các chính sách hỗ trợ vốn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, liên kết tiêu thụ sản phẩm cho nông hộ.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Khẳng định cây chè là cây trồng hàng hóa mũi nhọn tại xã Lùng Vai, diện tích mở rộng nhanh chóng từ 598 ha (năm 2012) lên 840 ha (năm 2014), trong đó có 540 ha chè kinh doanh cho năng suất cao (10 tấn búp tươi/ha/năm), đem lại tổng sản lượng 5.400 tấn búp tươi/năm.
- Sản xuất chè đóng vai trò chủ đạo trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo của xã Lùng Vai từ 16,7% (200 hộ năm 2012) xuống còn 8,52% (105 hộ năm 2014), tạo việc làm thường xuyên cho lực lượng lao động nông nghiệp chiếm 78,43% tổng số lao động toàn xã.
- Xác định các hạn chế kỹ thuật và sâu bệnh phổ biến tại địa phương: tình hình gây hại của rầy xanh, bọ cánh tơ, bệnh phồng lá, bệnh đốm nâu; thói quen lạm dụng phân đạm vô cơ, thiếu hụt phân hữu cơ và vi lượng, chưa chú trọng trồng cây che bóng mát trên nương chè dốc.
Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất
- Nhóm giải pháp kinh tế: Hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho nông hộ đầu tư phân bón, máy móc thu hái; xây dựng mối liên kết bền vững giữa nông hộ với các cơ sở chế biến (như Công ty TNHH MTV Chè Thanh Bình) nhằm ổn định giá thu mua búp tươi.
- Nhóm giải pháp kỹ thuật: Áp dụng quy trình hái chừa cải tiến (vụ Xuân hái chừa 2 lá và lá cá, vụ Hè Thu hái chừa 1 lá và lá cá, vụ Thu Đông hái chừa lá cá); đốn chè định kỳ vào tháng 1; bón phân cân đối N-P-K kết hợp trung vi lượng; trồng cây che bóng (cây trầu, trám, muồng lá nhọn) để tạo ánh sáng tán xạ và chống xói mòn đất.
- Nhóm giải pháp cơ sở hạ tầng: Tiếp tục bê tông hóa đường liên thôn, đường nội đồng lên các đồi chè để giảm công vận chuyển và tránh dập nát búp chè sau thu hoạch.
- Nhóm giải pháp lao động: Tập huấn kỹ thuật khuyến nông chuyển giao quy trình sản xuất an toàn VietGAP, nâng cao nhận thức của người dân về phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM).
Đóng góp của đề tài
Tác giả đã cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, hiện trạng sử dụng đất và năng suất cây chè tại xã Lùng Vai giai đoạn 2012 - 2015, phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý của chính quyền địa phương và định hướng quy hoạch vùng nguyên liệu chè huyện Mường Khương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Quy mô mẫu điều tra dừng lại ở 50 hộ trên địa bàn một xã; thời gian điều tra thực địa ngắn (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015); việc tính toán khấu hao chi phí kiến thiết cơ bản ban đầu của các nương chè lâu năm gặp khó khăn do nông hộ không lưu giữ sổ sách ghi chép tài chính qua nhiều năm.
- Hướng mở rộng: Cần tiếp tục theo dõi biến động hiệu quả tài chính của nông hộ theo chuỗi giá trị chè hoàn chỉnh (từ khâu trồng, thu hái đến chế biến và xuất khẩu), mở rộng địa bàn điều tra so sánh giữa các xã vùng cao và vùng thấp của huyện Mường Khương.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Khuyến nông, Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp và cán bộ kỹ thuật nông nghiệp cấp cơ sở.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao: Phương pháp xây dựng biểu mẫu khảo sát PRA cho cây công nghiệp lâu năm; hệ thống chỉ tiêu hạch toán kinh tế nông hộ; tư liệu thực tế về cơ cấu giống chè (chè Shan, LDP1, LDP2, Kim Tuyên) và các biện pháp canh tác phòng trừ sâu bệnh hại chè vùng miền núi phía Bắc.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận chọn mẫu khảo sát nông hộ tại xã Lùng Vai dựa trên tiêu chí nào?
Tác giả thiết lập tiêu chí chọn các hộ gia đình có diện tích đất trồng chè từ $360\text{ m}^2$ trở lên, tiến hành phỏng vấn trực tiếp 50 hộ nông dân tại các thôn bản trên địa bàn xã Lùng Vai bằng phiếu điều tra bán cấu trúc kết hợp phương pháp PRA.
2. Năng suất và sản lượng chè kinh doanh của xã Lùng Vai đạt được bao nhiêu trong năm 2014?
Theo báo cáo tổng kết năm 2014 của xã Lùng Vai, diện tích chè kinh doanh là 540 ha (trên tổng diện tích chè 840 ha), năng suất đạt bình quân 10 tấn/ha/năm, tổng sản lượng chè búp tươi đạt 5.400 tấn (đạt 175,6% kế hoạch giao, tăng 2.891 tấn so với cùng kỳ).
3. Cơ cấu giống chè trên địa bàn toàn tỉnh Lào Cai tại thời điểm nghiên cứu gồm những loại nào?
Tính đến tháng 11/2012, toàn tỉnh Lào Cai có 4.003 ha chè, cơ cấu giống gồm: giống chè Shan chiếm 57,5% (2.032 ha), giống chè lai LDP1 và LDP2 chiếm 29,7% (1.189 ha), giống chè trung du chiếm 11,6% (463 ha), và giống chè chất lượng cao như Kim Tuyên, Bát Tiên chiếm 1,2% (49,7 ha).
4. Kết quả triển khai dự án sản xuất chè VietGAP tại huyện Mường Khương được ghi nhận ra sao?
Sau 3 năm thực hiện, dự án chè VietGAP tại huyện Mường Khương đã giúp nâng năng suất chè búp tươi từ 4,5 tấn/ha lên 6,0 tấn/ha; giá bán nguyên liệu chè búp tươi tăng 20%; giá bán sản phẩm chè khô tăng 15%; tạo việc làm ổn định cho hơn 5.000 lao động nông thôn tại địa phương.
5. Tác giả đề xuất những loài cây che bóng nào cho các nương chè tại địa phương?
Tác giả kiến nghị trồng các loại cây che bóng mát gồm cây trầu, cây trám và cây muồng lá nhọn trên nương chè nhằm cung cấp ánh sáng tán xạ tối ưu cho quá trình quang hợp của cây chè, hạn chế bức xạ nhiệt cao, giảm bốc thoát hơi nước và chống xói mòn đất đồi.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lý Thị Phương đã phản ánh chi tiết thực trạng phát triển cây chè và đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ nông dân tại xã Lùng Vai, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai giai đoạn 2012 - 2015. Kết quả nghiên cứu khẳng định chè là cây trồng chủ lực mang lại năng suất 10 tấn/ha/năm và đóng góp trực tiếp vào mục tiêu giảm nghèo bền vững của địa phương. Đề tài đã đề xuất hệ sinh thái giải pháp đồng bộ từ kỹ thuật canh tác, giống, thâm canh cân đối đến liên kết thị trường tiêu thụ, làm tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác khuyến nông và phát triển kinh tế nông thôn tại các tỉnh miền núi phía Bắc.