Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng chè xuất khẩu Việt Nam trong thời kỳ hội nhập" tập trung giải quyết bài toán nâng cao giá trị và vị thế của ngành hàng chè Việt Nam trên thị trường quốc tế. Mặc dù Việt Nam được xem là cái nôi của cây chè thế giới và đứng thứ 5 toàn cầu về sản xuất và xuất khẩu (sau Kenya, Trung Quốc, Sri Lanka và Ấn Độ), sản phẩm chè xuất khẩu vẫn đối mặt với nhiều bất cập mang tính cơ cấu. Sản phẩm chè Việt Nam đã hiện diện tại hơn 100 quốc gia, tuy nhiên giá trị kim ngạch và đơn giá xuất khẩu còn thấp. Năm 2017, lượng chè xuất khẩu của Việt Nam đạt 139,8 ngàn tấn với kim ngạch 228 triệu USD (tăng 6,8% về khối lượng và 4,8% về giá trị so với năm 2016). Đến năm 2018, khối lượng xuất khẩu đạt 127,34 ngàn tấn, kim ngạch đạt 217,83 triệu USD, ghi nhận mức giảm 8,9% về lượng và 4,4% về trị giá so với năm 2017. Dù giá xuất khẩu bình quân năm 2018 đạt 1.710,7 USD/tấn (tăng 4,9% so với năm 2017), mức giá này vẫn thấp hơn đáng kể so với mức giá bình quân của thị trường thế giới.

Bên cạnh hạn chế về giá trị, cơ cấu thị trường xuất khẩu của ngành chè bộc lộ sự phụ thuộc lớn vào một số thị trường truyền thống. Năm 2018, tổng kim ngạch nhập khẩu từ 10 thị trường lớn nhất đạt 183 triệu USD, chiếm 84,01% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong đó, Pakistan là thị trường lớn nhất với 81,63 triệu USD (chiếm 37,47%), tiếp theo là Đài Loan với 28,75 triệu USD (chiếm 13,2%); riêng hai thị trường này đã chiếm tới 50,67% tổng kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam. So với tỷ trọng khoảng 90% của 10 thị trường lớn vào đầu thập niên 2000, mức 84,01% năm 2018 cho thấy công tác đa dạng hóa thị trường của các doanh nghiệp chè còn hạn chế và chưa phát triển theo chiều sâu.

Ở khâu sản xuất và chế biến, tính đến năm 2018, diện tích chè cả nước đạt 130.600 ha (trong đó diện tích chè kinh doanh là 116.300 ha), năng suất chè búp tươi bình quân đạt 8,88 tấn/ha, tổng sản lượng chè búp tươi đạt 1.032,744 nghìn tấn (tương đương hơn 200 nghìn tấn chè khô). Toàn quốc có hơn 500 cơ sở chế biến chè công nghiệp có quy mô công suất từ 1.000 kg chè búp tươi/ngày trở lên với tổng công suất thiết kế đạt 4.646 tấn/ngày, tương đương năng lực chế biến gần 1,5 triệu tấn búp tươi/năm (TBT/năm). Tuy nhiên, sản lượng chế biến thực tế chỉ đạt khoảng 600 ngàn TBT/năm, tương ứng khoảng 40% công suất thiết kế. Thực trạng dư thừa công suất chế biến cùng sự thiếu hụt nguyên liệu đạt chuẩn cho thấy chuỗi giá trị ngành chè tiềm ẩn nhiều yếu tố thiếu bền vững. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần xây dựng một hệ thống tiêu chí định lượng và mô hình phân tích toàn diện nhằm xác định rõ thực trạng và các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh ngành chè.

Bảng tổng hợp một số chỉ tiêu cơ bản của ngành chè Việt Nam giai đoạn 2017–2018 theo số liệu trong luận án:

Chỉ tiêu thống kê Năm 2017 Năm 2018 So sánh 2018/2017 (%)
Khối lượng xuất khẩu chè 139,8 ngàn tấn 127,34 ngàn tấn -8,9%
Kim ngạch xuất khẩu chè 228,00 triệu USD 217,83 triệu USD -4,4%
Giá xuất khẩu bình quân 1.630,9 USD/tấn 1.710,7 USD/tấn +4,9%
Tổng diện tích trồng chè - 130.600 ha -
Diện tích chè kinh doanh - 116.300 ha -
Năng suất chè búp tươi bình quân - 8,88 tấn/ha -
Tổng sản lượng chè búp tươi - 1.032,744 nghìn tấn -
Tỷ trọng kim ngạch top 10 thị trường - 84,01% -
Thị phần kim ngạch thị trường Pakistan - 37,47% -
Thị phần kim ngạch thị trường Đài Loan - 13,20% -
Tỷ lệ huy động công suất chế biến thiết kế - ~40,00% -

Mục đích nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh ngành hàng chè Việt Nam; đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành chè xuất khẩu thông qua hệ thống tiêu chí cụ thể; phát hiện và kiểm định mô hình các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh ngành chè, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành hàng chè xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung chính:

  1. Tổng quan về cơ sở lý luận liên quan đến năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh ngành chè và nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chè.
  2. Nghiên cứu thực trạng xuất khẩu ngành chè, thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành chè xuất khẩu và nguyên nhân của tình hình; xây dựng mô hình đánh giá các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh ngành chè.
  3. Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chè xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chè xuất khẩu Việt Nam, các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành chè và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chè xuất khẩu Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện đối với các doanh nghiệp xuất khẩu ngành chè trên phạm vi cả nước thuộc ba miền Bắc, Trung, Nam.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2010–2018; số liệu khảo sát sơ cấp được thực hiện và thu thập trong năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân tích có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ngành chè và năng lực cạnh tranh nông sản xuất khẩu, phân chia thành hai nhóm chính:

Các công trình nghiên cứu trên thế giới:

  • Alastair Hicks (2001) trong công trình do Văn phòng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) xuất bản, đã phân tích tình hình sản xuất chè toàn cầu và tác động của bối cảnh kinh tế Châu Á. Nghiên cứu chỉ ra năm 2000 có 3 tỷ tách trà được tiêu thụ mỗi ngày; chi phí lao động chiếm 50–60% tổng chi phí sản xuất và các nước xuất khẩu lớn chủ yếu là các quốc gia đang phát triển có chi phí nhân công rẻ, song chưa đi sâu vào giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập.
  • Sanne Van Der Wal (2008) nghiên cứu các vấn đề phát triển bền vững tại 6 quốc gia sản xuất chè hàng đầu, chỉ ra các hạn chế về điều kiện làm việc của người lao động, thiếu vắng tổ chức công đoàn đại diện, hiện tượng ép giá của thương lái và tác động suy giảm đa dạng sinh học do lạm dụng thuốc trừ sâu, nhưng chưa gắn với lý thuyết năng lực cạnh tranh thương mại.
  • Nguyen Dang Viet và Fiordaliza (2011) phân tích sự tích hợp dọc của thị trường chè Việt Nam, chỉ ra hiện tượng ép giá người trồng chè ở kênh phân phối trà đen do thiếu phối hợp với cơ sở chế biến; đồng thời phát hiện giá chè xuất khẩu sang Nga tích hợp cao với giá thế giới trong khi giá xuất sang Đài Loan và Ba Lan chưa có sự tích hợp đầy đủ.
  • Robert Wenner (2011) nghiên cứu lịch sử, văn hóa và triển vọng ngành chè Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO, song phạm vi chỉ dừng lại ở các yếu tố truyền thống và canh tác thủ công mà chưa tiếp cận từ góc độ quản trị kinh tế.
  • Nguyen Van Phu và Nguyen The To (2014) sử dụng hàm sản xuất ngẫu nhiên để đo lường hiệu quả kỹ thuật sản xuất chè tại vùng Đông Bắc Việt Nam, ước tính hiệu quả kỹ thuật bình quân đạt mức thấp (khoảng 32%) và khuyến nghị cải thiện đào tạo kỹ năng bán hàng cùng thông tin thị trường.
  • Ha Tuan Minh (2014) áp dụng ma trận SWOT và khung học tập chuyển hóa để thúc đẩy mô hình trồng chè hữu cơ tại tỉnh Thái Nguyên.
  • Charles Kirimi Mbui (2016) nghiên cứu tác động của quản trị chiến lược đến giá trị gia tăng chè xuất khẩu tại Kenya, chứng minh 90% doanh nghiệp chú trọng xúc tiến thương mại và quảng cáo qua truyền hình, phát thanh mang lại hiệu quả gia tăng giá trị rõ rệt.
  • Nguyen Viet Khoi, Chu Huong Lan, To Linh Huong (2015) phân tích chuỗi giá trị ngành chè tại Mộc Châu và Sơn La, chỉ rõ vị thế đàm phán yếu của người nông dân.

Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Dự án ISG-MARD của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sử dụng mô hình cân bằng bộ phận đánh giá tác động của Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) đến các mặt hàng lúa gạo, cà phê, chè và mía đường, chứng minh tự do hóa giúp tăng khối lượng và giá xuất khẩu nhưng chưa phản ánh đầy đủ chuỗi giá trị ngành chè.
  • Quỹ Nghiên cứu ICARD-MISPA (2005) đánh giá khả năng cạnh tranh của chè cùng một số nông sản trong khuôn khổ AFTA.
  • Mai Thị Thanh Xuân và Ngô Đăng Thành (2006) nghiên cứu công nghiệp chế biến nông sản ở Việt Nam, định hướng mục tiêu công nghệ và quy hoạch vùng nguyên liệu đến năm 2010.
  • Lê Thị Bình (2010), Phạm Thị Xuân Thọ (2014), Nguyễn Xuân Minh (2013), Nguyễn Ngọc Vinh (2013) phân tích thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam sau khi gia nhập WTO, chỉ rõ các điểm yếu về sản xuất manh mún, xuất khẩu thô, thiếu thương hiệu và rào cản kỹ thuật.
  • Chu Văn Cấp (2013) phân tích vai trò của văn hóa doanh nghiệp đối với năng lực cạnh tranh trong bối cảnh WTO.
  • Đinh Văn Thành (2010) nghiên cứu năng lực tham gia chuỗi giá trị nông sản toàn cầu nhưng chưa phân tích chuyên sâu cho sản phẩm chè.
  • Dự án MUTRAP phân tích tác động cam kết WTO và các FTA ở cấp độ vĩ mô nền kinh tế.
  • Trần Công Thắng (2004) nghiên cứu sự tham gia của người nghèo trong chuỗi giá trị ngành chè.
  • Phùng Văn Chấn (1993), Nguyễn Hữu Khải (2005), Nguyễn Thị Nhiễu (2006), Nguyễn Thu Hà (2011), Đỗ Văn Ngọc (2006) và Nguyễn Thị Huyền (2010) tiếp cận ngành chè ở các khía cạnh đơn lẻ như kinh tế sản xuất, dự báo thị trường, xúc tiến marketing, phát triển thương hiệu, công nghệ chế biến chè đen OTD hoặc phát triển ngành chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Các công trình trước đây phần lớn nghiên cứu khái quát cho toàn bộ nhóm hàng nông sản, hoặc nghiên cứu ngành chè tại các địa bàn cục bộ, hoặc sử dụng dữ liệu trong giai đoạn cũ khi Việt Nam mới gia nhập WTO. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về việc đánh giá có hệ thống năng lực cạnh tranh ngành chè xuất khẩu Việt Nam thông qua một bộ tiêu chí định lượng rõ ràng (thị phần, nguồn nguyên liệu, công nghệ, vốn, năng lực liên kết, thương hiệu) và xây dựng mô hình kiểm định thực nghiệm các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh ngành chè trong bối cảnh các FTA thế hệ mới như CPTPP và EVFTA.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các lý thuyết nền tảng về thương mại quốc tế và năng lực cạnh tranh:

  • Các lý thuyết thương mại cổ điển và tân cổ điển: Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, và Lý thuyết tỷ lệ yếu tố sản xuất của Eli Heckscher và Bertil Ohlin (mô hình H-O).
  • Khái niệm năng lực cạnh tranh: Luận án tiếp cận khái niệm cạnh tranh theo Từ điển kinh doanh Anh (1992), Karl Marx, Michael Porter và định nghĩa của Diễn đàn Cao cấp về Cạnh tranh Công nghiệp (HLFIC) thuộc OECD. Năng lực cạnh tranh được phân chia thành 4 cấp độ: cấp quốc gia (theo khung đánh giá 8 nhóm nhân tố của Diễn đàn Kinh tế Thế giới - WEF gồm Mức độ mở cửa, Chính phủ, Tài chính, Công nghệ, Kết cấu hạ tầng, Quản lý kinh doanh, Lao động, Thể chế), cấp ngành (theo mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter), cấp doanh nghiệp và cấp sản phẩm.
  • Khung phân tích mô hình "Kim cương" của Michael Porter: Luận án kế thừa mô hình gồm 4 nhóm yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia (Điều kiện về yếu tố sản xuất; Các điều kiện về cầu; Các ngành hỗ trợ và có liên quan; Chiến lược doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức và môi trường cạnh tranh) cùng 2 yếu tố tác động bổ trợ là Cơ hội và Vai trò của Chính phủ.
  • Mô hình nghiên cứu đề xuất của luận án: Tác giả xác lập khung nghiên cứu gồm 6 nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh ngành hàng chè xuất khẩu Việt Nam gồm: (1) Điều kiện nhân tố sản xuất, (2) Điều kiện về cầu, (3) Điều kiện về quản trị, (4) Hoạt động marketing, (5) Vai trò của chính phủ, và (6) Văn hóa bản địa. Khung này được tổng hợp từ mô hình Porter và các nghiên cứu của Momaya (2004), Onar & Polat (2010), Maureen Were và cộng sự (2002), Thompson, Strickland & Gamble (2007), Phùng Thị Trung (2016), và Tô Linh Hương (2018).

Bộ tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh ngành chè xuất khẩu gồm 6 tiêu chí:

  1. Thị phần sản phẩm chè (tỷ lệ giữa kim ngạch xuất khẩu của quốc gia trên tổng kim ngạch xuất khẩu chè toàn thế giới).
  2. Chất lượng nguồn nguyên liệu (tính đồng đều, độ an toàn, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, sự ổn định nguồn cung).
  3. Năng lực công nghệ của doanh nghiệp chè (trình độ thiết bị chế biến so với thế giới và trong nước, khả năng hấp thụ công nghệ mới).
  4. Tiếp cận vốn của các doanh nghiệp thuộc ngành chè (khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức, chi phí vốn).
  5. Năng lực liên kết doanh nghiệp (mối liên kết ngang giữa các hộ nông dân và liên kết dọc giữa nông dân với doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu).
  6. Thương hiệu sản phẩm (mức độ nhận diện, uy tín chất lượng, chứng nhận xuất xứ trên thị trường quốc tế).

Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu giai đoạn 2010–2018 được thu thập từ các cơ quan quản lý nhà nước và hiệp hội chuyên ngành gồm Bộ Công Thương, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Hiệp hội Chè Việt Nam (VITAS), cùng các tổ chức quốc tế như FAO, IMF.
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu chè trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam theo danh sách trích xuất từ Niên giám thống kê năm 2018 của Tổng cục Thống kê. Bảng hỏi khảo sát được gửi qua thư điện tử (email) kết hợp phỏng vấn trực tiếp.
  • Kỹ thuật phân tích dữ liệu thứ cấp: Sử dụng phân tích thống kê mô tả, phương pháp tổng hợp so sánh và phương pháp phân tích màng bao dữ liệu định hướng đầu vào DEA (Data Envelopment Analysis) để ước lượng hiệu quả cạnh tranh ngành chè xuất khẩu.
  • Kỹ thuật phân tích dữ liệu sơ cấp:
    • Đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha nhằm loại các biến quan sát không đạt yêu cầu theo khuyến nghị của Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2009).
    • Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) để đánh giá giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của thang đo.
    • Phân tích mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM - Partial Least Squares Structural Equation Modeling) theo Rigdon (2012). Kỹ thuật này dựa trên phương sai (variances), tập trung giải thích và dự đoán các cấu trúc đích, đánh giá các chỉ số mô hình phản ánh, hệ số xác định $R^2$, hệ số tác động $f^2$, chỉ số độ phù hợp mô hình (model fit) và kiểm định mức ý nghĩa thống kê của các liên kết bằng kỹ thuật lặp Bootstrapping.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ngành chè xuất khẩu Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

Chương 1 thực hiện rà soát có hệ thống các công trình nghiên cứu trên phạm vi quốc tế và tại Việt Nam liên quan đến ngành chè và xuất khẩu nông sản. Luận án phân tích 8 công trình quốc tế điển hình và hơn 15 nghiên cứu chuyên sâu trong nước. Nội dung chương chỉ rõ:

  • Các nghiên cứu quốc tế (Alastair Hicks, Sanne Van Der Wal, Nguyen Dang Viet, Robert Wenner, Nguyen Van Phu, Charles Kirimi Mbui...) chủ yếu tiếp cận ở khía cạnh chi phí sản xuất, tính bền vững xã hội của người lao động, chuỗi giá trị cục bộ hoặc các rào cản kỹ thuật đơn lẻ.
  • Các nghiên cứu trong nước (dự án ISG-MARD, ICARD-MISPA, MUTRAP, các đề tài của Bộ Công Thương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các luận án tiến sĩ kinh tế trước đó) thường đánh giá năng lực cạnh tranh ở cấp độ vĩ mô cho toàn bộ nhóm ngành nông sản hoặc phân tích chuỗi giá trị chè tại một số địa phương đặc thù như Thái Nguyên, Sơn La, Mộc Châu.
  • Chương 1 kết luận rằng cho đến thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào đánh giá một cách toàn diện và cập nhật năng lực cạnh tranh của ngành chè xuất khẩu Việt Nam bằng hệ thống tiêu chí đa chiều kết hợp mô hình định lượng hiện đại trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA.

Chương 2: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh ngành chè trong điều kiện hội nhập

Chương 2 thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh và thiết kế nghiên cứu cho luận án:

  • Hệ thống hóa các khái niệm cạnh tranh, phân định 4 cấp độ năng lực cạnh tranh (quốc gia, ngành, doanh nghiệp, sản phẩm) và phân tích các lý thuyết thương mại quốc tế của Adam Smith, David Ricardo, Heckscher-Ohlin cùng mô hình "Kim cương" của Michael Porter.
  • Luận giải tác động của các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế (Thỏa thuận thương mại ưu đãi - PTA, Khu vực mậu dịch tự do - FTA, Liên minh thuế quan - CU) đối với ngành chè xuất khẩu.
  • Xây dựng hệ thống 6 tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh ngành chè: Thị phần sản phẩm chè; Chất lượng nguồn nguyên liệu; Năng lực công nghệ của doanh nghiệp chè; Tiếp cận vốn của các doanh nghiệp thuộc ngành chè; Năng lực liên kết doanh nghiệp; Thương hiệu sản phẩm.
  • Đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 nhóm nhân tố độc lập tác động đến năng lực cạnh tranh ngành chè (Nhân tố sản xuất, Cầu sản phẩm, Yếu tố quản trị, Hoạt động marketing, Vai trò chính phủ, Văn hóa bản địa).
  • Thiết lập quy trình nghiên cứu, thiết kế bảng hỏi và quy trình phân tích dữ liệu kết hợp DEA cho số liệu thứ cấp và PLS-SEM cho số liệu khảo sát sơ cấp.
  • Tổng kết kinh nghiệm quốc tế về nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chè tại 3 quốc gia sản xuất lớn: Kenya (vai trò điều phối của Cơ quan Phát triển Chè Kenya - KTDA và Ủy ban Chè Kenya - TBK), Sri Lanka (chiến lược xây dựng thương hiệu quốc gia và kiểm soát chất lượng chè Ceylon), và Trung Quốc (đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm và khai thác văn hóa trà truyền thống).

Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh ngành hàng chè xuất khẩu Việt Nam trong điều kiện hội nhập

Chương 3 trình bày bức tranh thực trạng ngành chè xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2010–2018 thông qua dữ liệu thứ cấp và kết quả kiểm định mô hình định lượng từ dữ liệu sơ cấp năm 2018:

  • Đặc điểm phát triển ngành chè: Năm 2018, tổng diện tích chè cả nước đạt 130.600 ha, diện tích kinh doanh là 116.300 ha; năng suất chè búp tươi bình quân đạt 8,88 tấn/ha; sản lượng búp tươi đạt 1.032,744 nghìn tấn (tương đương trên 200 nghìn tấn chè khô). Khối lượng xuất khẩu năm 2018 đạt 127,34 ngàn tấn với trị giá 217,83 triệu USD, đơn giá bình quân đạt 1.710,7 USD/tấn.
  • Đánh giá thực trạng theo 6 tiêu chí:
    • Thị phần: Chiếm vị trí thứ 5 thế giới nhưng phụ thuộc quá lớn vào các thị trường dễ tính; Pakistan và Đài Loan chiếm tới 50,67% tổng kim ngạch năm 2018.
    • Chất lượng nguyên liệu: Tồn tại sự mất cân đối giữa diện tích canh tác an toàn và quy mô chế biến; vấn đề dư lượng thuốc bảo vệ thực vật còn phức tạp.
    • Năng lực công nghệ: Cả nước có hơn 500 cơ sở chế biến (công suất từ 1.000 kg/ngày trở lên), tổng công suất thiết kế 4.646 tấn/ngày (gần 1,5 triệu TBT/năm) nhưng công suất thực tế chỉ đạt 600 ngàn TBT/năm (khoảng 40% công suất thiết kế). Đa số doanh nghiệp đánh giá công nghệ chế biến đang sử dụng ở mức trung bình hoặc lạc hậu so với thế giới.
    • Tiếp cận vốn: Doanh nghiệp gặp khó khăn khi tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức dài hạn để đổi mới công nghệ.
    • Năng lực liên kết: Thiếu tính bền vững trong liên kết dọc giữa người trồng chè và cơ sở chế biến; liên kết ngang giữa các hộ nông dân còn yếu, dẫn đến tình trạng tranh mua, tranh bán nguyên liệu thô.
    • Thương hiệu: Phần lớn chè xuất khẩu dưới dạng chè rời (chè thô), chưa xây dựng được thương hiệu quốc gia mạnh trên thị trường quốc tế.
  • Kết quả phân tích mô hình định lượng PLS-SEM từ mẫu khảo sát năm 2018:
    • Dữ liệu thang đo đạt độ tin cậy nội tại qua kiểm định Cronbach's Alpha và giá trị hội tụ, phân biệt qua phân tích EFA.
    • Mô hình cấu trúc được kiểm định qua hệ số $R^2$, $f^2$, chỉ số model fit và kỹ thuật Bootstrapping.
    • Kết quả xác nhận 5 nhân tố có tác động tích cực hoặc ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến năng lực cạnh tranh ngành chè gồm: Điều kiện nhân tố sản xuất (NTSX), Cầu đối với sản phẩm (CSP), Yếu tố quản trị (QT), Chính sách của chính phủ (VTCP), và Hoạt động marketing (HDM) (nhân tố có tác động mạnh nhất). Riêng nhân tố Văn hóa bản địa (VHBD) không có tác động đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh ngành hàng chè xuất khẩu.
  • Đánh giá chung: Nêu rõ những kết quả đạt được về quy mô sản xuất, đồng thời chỉ ra các hạn chế cố hữu về đơn giá thấp, công suất dư thừa và phân tích nguyên nhân sâu xa từ khâu quy hoạch, quản trị và liên kết chuỗi.

Chương 4: Giải pháp và kiến nghị nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chè xuất khẩu trong điều kiện hội nhập

Chương 4 xác định các cơ hội và thách thức trong bối cảnh hội nhập quốc tế (đặc biệt khi thực thi CPTPP, EVFTA, xu hướng phát triển thương mại điện tử trực tuyến và tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư), từ đó đề xuất quan điểm, định hướng phát triển xuất khẩu chè giai đoạn 2020–2030 cùng hệ thống 7 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm: Quy hoạch lại vùng nguyên liệu đạt chuẩn VietGAP và GlobalGAP; kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng hóa chất nông nghiệp; nâng cấp dây chuyền công nghệ chế biến sâu để giảm tỷ lệ hao hụt và nâng cao chất lượng chè thành phẩm.
  2. Hoàn thiện công tác quản trị doanh nghiệp: Nâng cao năng lực quản trị chiến lược, quản trị tài chính và quản trị chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp ngành chè; tái cấu trúc bộ máy vận hành theo hướng tinh gọn, hiệu quả.
  3. Hoàn thiện hoạt động marketing: Đổi mới hoạt động nghiên cứu thị trường, tham gia các hội chợ thương mại quốc tế; tăng cường quảng bá trên các kênh truyền thông số và nền tảng thương mại điện tử toàn cầu.
  4. Phát triển thương hiệu chè với văn hóa Việt Nam: Xây dựng nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý và thương hiệu quốc gia cho sản phẩm chè; kết hợp quảng bá chè với các giá trị văn hóa ẩm thực truyền thống Việt Nam.
  5. Hoàn thiện công tác xây dựng thị trường gắn với cầu đối với sản phẩm: Nghiên cứu thị hiếu tiêu dùng tại các thị trường cao cấp (EU, Mỹ, Nhật Bản) để phát triển các dòng sản phẩm chè đặc sản, chè hữu cơ, chè tiện dụng đáp ứng nhu cầu thị trường.
  6. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Mở các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác cho người nông dân; đào tạo chuyên sâu về kỹ năng thương mại quốc tế, ngoại ngữ và đàm phán hợp đồng cho đội ngũ cán bộ xuất khẩu.
  7. Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ của Chính phủ đối với ngành chè: Rà soát cơ chế chính sách tín dụng ưu đãi cho đầu tư công nghệ chế biến chè; hỗ trợ kinh phí xúc tiến thương mại quốc gia; hoàn thiện khung pháp lý về quy hoạch nhà máy gắn với vùng nguyên liệu để khắc phục tình trạng dư thừa công suất thiết kế.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt học thuật và lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh áp dụng cụ thể cho ngành hàng nông sản xuất khẩu chủ lực trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.
  • Phát triển và điều chỉnh mô hình "Kim cương" của Michael Porter cho phù hợp với đặc thù ngành chè Việt Nam thông qua việc xây dựng khung phân tích gồm 6 nhân tố tác động (Nhân tố sản xuất, Cầu sản phẩm, Yếu tố quản trị, Hoạt động marketing, Vai trò của chính phủ, Văn hóa bản địa).
  • Xác lập bộ tiêu chí cơ bản gồm 6 thành phần để đánh giá toàn diện năng lực cạnh tranh của ngành hàng chè xuất khẩu (Thị phần, Nguồn nguyên liệu, Năng lực công nghệ, Tiếp cận vốn, Năng lực liên kết, Thương hiệu sản phẩm).
  • Đóng góp vào hệ thống phương pháp nghiên cứu thông qua việc kết hợp giữa phân tích dữ liệu thứ cấp (bằng phương pháp DEA) và phân tích dữ liệu sơ cấp (bằng kỹ thuật phân tích độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM với kỹ thuật Bootstrapping).

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Tổng hợp các bài học kinh nghiệm quốc tế từ ba quốc gia xuất khẩu chè hàng đầu thế giới (Kenya, Sri Lanka, Trung Quốc) trong việc tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và quảng bá thương hiệu, chỉ rõ khả năng vận dụng vào điều kiện Việt Nam.
  • Cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng giai đoạn 2010–2018 về diện tích, sản lượng, năng suất, kim ngạch, giá bán, công suất thiết kế và tỷ lệ huy động công suất chế biến của ngành chè cả nước.
  • Kết quả kiểm định mô hình xác định mức độ tác động của các nhân tố:
    • Nhân tố sản xuất có mối quan hệ tích cực đến năng lực cạnh tranh ngành chè xuất khẩu.
    • Cầu đối với sản phẩm có tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh ngành chè.
    • Yếu tố quản trị có tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh ngành chè xuất khẩu.
    • Chính sách của chính phủ có tác động đến năng lực cạnh tranh ngành chè xuất khẩu.
    • Hoạt động marketing có tác động mạnh nhất đến năng lực cạnh tranh ngành chè.
    • Văn hóa bản địa không có tác động đến nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chè xuất khẩu.
  • Đề xuất hệ thống 7 nhóm giải pháp đồng bộ và có tính khả thi cao nhằm định hướng phát triển ngành chè xuất khẩu giai đoạn 2020–2030 trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Dữ liệu thứ cấp phục vụ phân tích trong luận án được thu thập và tổng hợp đến hết năm 2018; do đó chưa phản ánh được các biến động thị trường và kết quả thực thi đầy đủ sau khi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA chính thức đi vào hiệu lực.
  • Khảo sát dữ liệu sơ cấp được tiến hành trong phạm vi các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu chè trên cả nước trong năm 2018, chưa mở rộng điều tra trực tiếp trên diện rộng đối với toàn bộ các hộ nông dân trồng chè và các đối tác thương mại, nhà bán lẻ tại các thị trường nhập khẩu nước ngoài.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Cập nhật chuỗi số liệu thứ cấp cho các giai đoạn tiếp theo sau năm 2020 nhằm đánh giá tác động thực tế của CPTPP và EVFTA đối với kim ngạch và cơ cấu xuất khẩu chè của Việt Nam.
  • Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra tới các tác nhân phân phối và người tiêu dùng tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm (như Pakistan, Đài Loan, Nga, EU) để phân tích sâu hơn về độ co giãn của cầu và rào cản phi thuế quan đối với sản phẩm chè Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Công Thương các tỉnh trồng chè): Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện quy hoạch vùng trồng, kiểm soát cấp phép công suất nhà máy chế biến, ban hành các chính sách hỗ trợ tín dụng và định hướng đàm phán thương mại.
  • Đối với Hiệp hội Chè Việt Nam (VITAS) và các doanh nghiệp xuất khẩu chè: Là tài liệu tham khảo trong việc đánh giá lại năng lực nội tại theo 6 tiêu chí; tối ưu hóa chiến lược marketing xuất khẩu; củng cố các mối liên kết dọc với hộ nông dân và định hướng chuyển dịch từ xuất khẩu chè thô sang các sản phẩm chế biến sâu có thương hiệu.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản lý kinh tế, Kinh doanh thương mại: Cung cấp khung lý thuyết mở rộng từ mô hình Kim cương của Michael Porter cùng quy trình thực nghiệm kết hợp phương pháp DEA và mô hình PLS-SEM trong nghiên cứu kinh tế ngành hàng nông sản.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vị thế sản xuất và xuất khẩu của ngành chè Việt Nam trên thế giới được ghi nhận như thế nào trong luận án?
    Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về sản xuất và xuất khẩu chè, sau Kenya, Trung Quốc, Sri Lanka và Ấn Độ. Năm 2017, lượng xuất khẩu đạt 139,8 ngàn tấn, kim ngạch 228 triệu USD. Năm 2018, xuất khẩu đạt 127,34 ngàn tấn, trị giá 217,83 triệu USD. Giá xuất khẩu bình quân năm 2018 đạt 1.710,7 USD/tấn, tăng 4,9% so với năm 2017 nhưng vẫn thuộc nhóm quốc gia có giá xuất khẩu thấp.

  2. Cơ cấu thị trường xuất khẩu chè của Việt Nam có đặc điểm gì nổi bật trong năm 2018?
    Xuất khẩu chè phụ thuộc lớn vào một số ít thị trường. Năm 2018, 10 thị trường lớn nhất chiếm 84,01% tổng kim ngạch xuất khẩu (đạt 183 triệu USD). Trong đó, Pakistan là thị trường lớn nhất với 81,63 triệu USD (chiếm 37,47%), Đài Loan đứng thứ hai với 28,75 triệu USD (chiếm 13,2%). Riêng hai thị trường này đã chiếm 50,67% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

  3. Quy mô và thực trạng huy động công suất của các cơ sở chế biến chè tại Việt Nam ra sao?
    Tính đến năm 2018, cả nước có hơn 500 cơ sở chế biến chè công nghiệp có quy mô công suất từ 1.000 kg chè búp tươi/ngày trở lên, với tổng công suất thiết kế đạt 4.646 tấn/ngày, tương đương năng lực chế biến gần 1,5 triệu tấn búp tươi/năm. Tuy nhiên, sản lượng chế biến thực tế chỉ đạt khoảng 600 ngàn tấn búp tươi/năm, tương ứng khoảng 40% công suất thiết kế.

  4. Mô hình định lượng PLS-SEM của luận án xác định những nhân tố nào tác động đến năng lực cạnh tranh ngành chè?
    Mô hình nghiên cứu xác định có 5 nhân tố có tác động tích cực hoặc ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến năng lực cạnh tranh ngành chè xuất khẩu gồm: Điều kiện nhân tố sản xuất, Điều kiện về cầu đối với sản phẩm, Yếu tố quản trị, Chính sách của chính phủ, và Hoạt động marketing (tác động mạnh nhất). Riêng nhân tố Văn hóa bản địa được kiểm định là không có tác động đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chè xuất khẩu.

  5. Hệ thống 6 tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh ngành chè do luận án xác lập gồm những gì?
    Hệ thống 6 tiêu chí đánh giá gồm: (1) Thị phần sản phẩm chè, (2) Chất lượng nguồn nguyên liệu, (3) Năng lực công nghệ của doanh nghiệp chè, (4) Tiếp cận vốn của các doanh nghiệp thuộc ngành chè, (5) Năng lực liên kết doanh nghiệp, và (6) Thương hiệu sản phẩm.

Kết luận

Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh ngành hàng chè xuất khẩu và bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của Việt Nam. Thông qua việc phân tích chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010–2018 và kiểm định mô hình định lượng PLS-SEM từ dữ liệu khảo sát năm 2018, nghiên cứu đã đánh giá khách quan thực trạng ngành chè dựa trên bộ 6 tiêu chí và chứng minh mức độ tác động của 5 nhân tố cốt lõi (nhân tố sản xuất, cầu sản phẩm, quản trị, chính sách chính phủ, marketing) đến năng lực cạnh tranh. Các kết quả phân tích cung cấp luận cứ thực chứng quan trọng để xác định nguyên nhân của tình trạng đơn giá xuất khẩu thấp, cơ cấu thị trường tập trung và nghịch lý dư thừa công suất chế biến thiết kế. Trên cơ sở đó, hệ thống 7 nhóm giải pháp được đề xuất tạo tiền đề định hướng cho các cơ quan hoạch định chính sách và doanh nghiệp xuất khẩu nhằm nâng cao giá trị gia tăng và vị thế cạnh tranh của ngành chè Việt Nam giai đoạn 2020–2030.