Chương I: Tổng quan nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ngành chè xuất khẩu Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Chương II: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập Chương III: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của ngành chè xuất khẩu Việt Nam trong điều kiện hội nhập Chương IV: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tranh của ngành chè xuất khẩu Việt Nam trong điều kiện hội nhập 7. Khung nghiên cứu của Luận án - Tổng quan tình hình nghiên cứu - Lý luận về năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh ngành hàng chè xuất khẩu - Các chỉ tiêu đ nh gia - Thực trạng năng - Phương hướng, giải năng lực cạnh tranh lực cạnh tranh pháp chủ yếu nâng ngành hàng chè ngành hàng chè xuất cao năng lực cạnh - Các nhân tố ảnh hưởng khẩu Việt Nam tranh ngành hàng chè đến năng lực cạnh tranh ngành hàng chè - Bài học kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh ngành hàng chè từ các quốc gia khác Hình 1.1 Khung nghiên cứu của luận án 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH CHÈ XUẤT KHẨU VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP 1.1 Một số nghiên cứu của thế giới về năng lực cạnh tranh ngành chè Tác giả, Alastair Hicks (2001), trong nghiên cứu “Review of global tea production and the impact on industry of the Asian economic situation” được xuất bản tại Bangkok: Food and Agricultural Organization Regional Office for Asia and the Pacific. Nghiên cứu cho thấy chè là thức uống phổ biến nhất và giá rẻ nhất trên thế giới bên cạnh nước. Nó được tiêu thụ bởi hầu hết c c nhóm tuổi ở tất cả các cấp của xã hội.
Kết quả khảo s t của nghiên cứu cho thấy năm 2000 có đến ba tỷ tách trà được tiêu thụ hàng ngày trên toàn thế giới. Trong khi đó chi phi lao động chiếm tỷ trọng khoảng 50-60% tổng chi phí sản xuất, t c giả kết luận ngành công nghiệp chè đóng góp một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các nước tham gia sản xuất. Các nước sản xuất chè lớn chủ yếu là các nước đang ph t triển với chi phí lao động thấp. Tuy nhiên trong nghiên cứu của t c giả chủ yếu đi vào nghiên cứu về chi ph sản xuất đối với ngành chè cũng như đóng góp của nó về gi trị tạo công ăn việc làm cho người lao động tại c c quốc gia xuất khẩu chè mà chưa quan tâm đến việc nghiên cứu liên quan đến nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm chè xuất khẩu đặc biệt trong bối cảnh hội nhập sâu rộng như hiện nay.
Van Der Wal, Sanne (2008) trong một nghiên cứu về “Sustainability issues in the tea sector: A comparative analysis of six leading producing countries” cho thấy điều kiện làm việc cho người hái chè thường là rất thấp, với mức lương thấp, công việc thấp và bảo đảm thu nhập, phân biệt đối xử theo sắc tộc và giới tính, thiếu thiết bị bảo vệ và phương tiện cơ bản không đầy đủ như nhà. ồng thời không có khả năng cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân trồng chè vì công đoàn không hiệu quả hoặc không có và / hoặc không đại diện được cho họ bởi vì hầu hết trong số họ là người lao động tạm thời. Trong khi sản lượng chè của hộ gia đình đang tăng trưởng trên toàn thế giới tuy nhiên vấn đề gặp phải của họ là sự ép gi của c c thương l i bên cạnh đó t c động môi trường của ngành là đ ng kể đối với việc giảm 9 đa dạng sinh học và chuyển đổi môi trường sống, tiêu thụ năng lượng cao (chủ yếu sử dụng gỗ ngấm nước) và hàm lượng thuốc trừ sâu cao ở một số quốc gia. C c kết quả nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc phân t ch c c yếu tố liên quan đến ph t triển bền vững đối với ngành chè bằng việc phân t ch so s ch c c số liệu của c c quốc gia xuất khẩu lớn nhất (6 quốc gia) tuy nhiên đối với nghiên cứu này, c c lý thuyết về năng lực cạnh tranh thường không được đề cập và chủ yếu so s nh dựa trên gi trị chi ph cũng như c c yếu tố về môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản phẩm chè mà không đề cập nhiều đến vấn đề thương mại cũng như gia tăng hàm lượng gi trị gia tăng trong c c khâu của sản phẩm.
Các t c giả Nguyen Dang Viet và Fiordaliza (2011), với đề tài “Vertical integration of tea markets in Vietnam.), Journal of ISSAAS [International Society for Southeast Asian Agricultural Sciences] (Philippines). Kết quả cho thấy chè là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chiến lược của Việt Nam. Sản phẩm này được tập trung ở các tỉnh miền Bắc và Tây Nguyên tại khu vực phía Nam của đất nước. Những người tham gia trong ngành chè bao gồm nông dân trồng chè, người chế biến, người xuất khẩu và các nhà bán lẻ.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp dữ liệu chuỗi thời gian về giá ở các cấp độ kh c nhau / c c giai đoạn của các kênh tiếp thị chè, hội nhập theo chiều dọc của thị trường chè để phân tích. C c kết quả cho thấy đối với các kênh phân phối sản phẩm trà đen, hiện tượng ép gi của thương l i đối với người trồng chè. Qua đó c c t c giả cho rằng đó là kết quả tất yếu của mô hình thiếu sự phối hợp thiếu hiệu quả giữa người trồng chè và người chế biến chè. Các t c giả cho rằng các nhà bán lẻ đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành giá và kênh thông tin về giá, trong khi chế biến chè đã không đóng một vai trò trung tâm trong việc truyền tải giá trên thị trường chè.
Hơn nữa, giá xuất khẩu chè sang Nga đã được tích hợp cao với chè thế giới, trong khi đó chỉ số giá hàng hóa (TCPI) tại ài Loan và Ba Lan đã không không được tích hợp đầy đủ với giá trên thị trường thế giới. ể tăng cường sự hội nhập của thị trường chè, cần khuyến khích thiết lập một trung tâm điều phối giá chè, cải thiện hoạt động mua bán chè tại thị trường trong nước, và tăng cường sức mạnh thị trường của người trồng và chế biến chè. Nghiên cứu này chủ yếu đi vào nghiên cứu ph t triển hệ thống kênh 10 phân phối cũng như thực hiện việc điều chỉnh gi cả xuất khẩu chè mà chưa tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của ngành chè trên c c lĩnh vực liên quan đến hệ thống khoa học quản lý kinh tế cũng như khoa học kĩ thuật nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chè. Trong khi đó Wenner, Robert (2011), trong nghiên cứu " Lịch sử lâu đ i của trà Việt Nam Văn hóa, sản xuất và triển vọng phát triển." Independent Study Project (ISP) Collection.
Cho rằng Việt Nam đang ở giai đoạn quan trọng trong sự phát triển. Nếu chính sách quản lý đúng đắn thì tương lai của đất nước là vô cùng tươi sáng. iều này thể hiện ở các tầng lớp trung lưu phát triển và mức sống tiếp tục tăng trong cả nước. Nông nghiệp sẽ đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển trong tương lai khi gần 70% dân số tham gia trực tiếp vào công việc nông nghiệp.
Mỗi cây trồng được sản xuất và xuất khẩu tại Việt Nam sẽ đóng một vai trò khác nhau và không thể tách rời trong sự phát triển cũng như sự thay đổi nền nông nghiệp với việc gia tăng sự hiện diện toàn cầu của Việt Nam. Nghiên cứu này xem xét cụ thể trong lĩnh vực sản xuất chè ở Việt Nam qua ống kính của phát triển nông nghiệp. Chè không chỉ là sản phẩm xuất khẩu mạnh mẽ ở Việt Nam, nó có mối quan hệ lịch sử và văn hóa. Bài viết này đi sâu vào xem xét kh a cạnh văn hóa và toàn cầu hóa gặp nhau như thế nào, và tương lai gì cho chè ở Việt Nam.
Nghiên cứu cho rằng gần đây khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mang lại vị trí tuyệt vời để gia tăng thương mại quốc tế với c c đối tác mới, giữ tiềm năng lớn cho sự tăng trưởng trong ngành công nghiệp chè. Tuy nhiên khi ngành công nghiệp phát triển, những gì xảy ra với nền văn hóa truyền thống cũng như ảnh hưởng quốc tế đóng một vai trò ngày càng tăng trong cuộc sống Việt. Nghiên cứu này tìm cách trả lời 3 câu hỏi này cũng như cung cấp một cái nhìn tổng thể về nơi mà các ngành công nghiệp chè đã đến từ đâu và tương lai có thể giữ. Các yêu tố về năng lực cạnh tranh chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu c c vấn đề liên quan đến lịch sử, truyền thống và văn ho chè ở Việt Nam qua đó thể hiện công nghệ trồng và chế biến theo c ch truyền thống và ý nghĩa của việc truyền tải thông điệp về văn ho chè của Việt Nam ra thế giới c c lý luận mang t nh quản lý đối với ngành công nghiệp này t được đề cập trong nghiên cứu này.
11 Nguyen Van Phu và Nguyen The To (2014), “Agricultural extension and technical efficiency of tea production in northeastern Vietnam”. Bureau d'Economie Théorique et Appliquée, UDS, Strasbourg. Nghiên cứu này sử dụng hàm sản xuất biến ngẫu nhiên để phân tích hiệu quả kỹ thuật của sản xuất chè ở vùng ông Bắc Việt Nam. Nghiên cứu ước tính rằng hiệu quả kỹ thuật trung bình của sản xuất chè là rất thấp, chỉ khoảng 32%.
Hiệu quả kỹ thuật có thể được cải thiện bằng việc có một trung tâm huấn luyện về kỹ năng b n hàng trong khi nó có thể bị ảnh hưởng xấu bởi tiếp cận thông tin về thị trường chè. Kết quả cho thấy rằng có một tiềm năng lớn cho việc cải thiện hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất chè bằng cách sử dụng các yếu tố đầu vào và công nghệ có sẵn. ối với mục đ ch nâng cao hiệu quả, cần được thực hiện trên phần mở rộng nông nghiệp (giữ các hình thức hiện tại của đào tạo về kỹ năng b n hàng, sửa chữa cung cấp thông tin về thị trường chè). Các nhà sản xuất cũng được khuyến cáo phải cẩn thận hơn về việc áp dụng các giống chè trồng của họ.
Ha Tuan Minh (2014), "Establishing a Transformative Learning Framework for Promoting Organic Farming in Northern Vietnam: A Case Study on Organic Tea Production in Thai Nguyen Province." Asian Journal of Business and Management chỉ ra rằng chè là một trong những cây công nghiệp quan trọng cho nông dân sản xuất nhỏ ở Thái Nguyên, một tỉnh phía Bắc của Việt Nam.