Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan hội chứng cổ vai tay theo Y học hiện đại 1. Định nghĩa Hội chứng cổ vai tay là một nhóm các triệu chứng lâm sàng liên quan đến các bệnh lý cột sống cổ có kèm theo các rối loạn chức năng rễ, dây thần kinh cột sống cổ và/hoặc tủy cổ, không liên quan tới bệnh lý viêm. Biểu hiện lâm sàng thường gặp là đau vùng cổ, vai và một bên tay, kèm theo một số rối loạn cảm giác và/hoặc vận động tại vùng chi phối của rễ dây thần kinh cột sống cổ bị ảnh hưởng[1,3].
Thoái hoá cột sống cổ là bệnh lý mạn tính khá phổ biến, tiến triển chậm, thường gặp ở người lớn tuổi và/ hoặc liên quan đến tư thế vận động. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hoá sụn khớp và đĩa đệm ở cột sống cổ. Có thể gặp thoái hoá ở bất kỳ đoạn nào tuy nhiên đoạn C5-C6-C7 là hay gặp nhất[16,17,18]. Sơ lược về cấu tạo giải phẫu và chức năng của cột sống cổ 1.
Cấu tạo giải phẫu Hình 1. Hình ảnh giải phẫu cột sống cổ[19] 4 Cột sống cổ có 7 đốt sống, 5 đĩa đệm, và một đĩa chuyển đoạn. -Từ C1 đến C7, có đường cong ưỡn ra trước, đốt C1 (đốt đội) không có thân đốt, đốt C7 có mỏm gai dài nhất sờ thấy rõ. - Giữa C1 với xương chẩm và giữa C1- C2 không có đĩa đệm, vì vậy giữa C1 và xương chẩm và C1 - C2 không có lỗ tiếp hợp.
Các đốt sống cổ kể từ C2 trở xuống liên kết với nhau bởi 3 khớp: - Khớp đĩa đệm gian đốt: đĩa đệm gian đốt luôn phải chịu áp lực tải trọng lớn. Khi có sự cố định lâu trong một tư thế (do nghề nghiệp) hoặc do áp lực trọng tải, sẽ dẫn đến thoái hóa đĩa đệm và hình thành các gai xương ở các đĩa đệm cổ thấp. - Khớp sống - sống (còn gọi là khớp mấu lồi đốt sống, khớp nhỏ): tạo nên bởi các mấu sống trên và mấu sống dưới của hai thân đốt kế cận và được nhận biết trên phim chụp tư thế nghiêng (Hình 1. - Khớp bán nguyệt (còn gọi là khớp Luschka), chỉ có duy nhất ở cột sống cổ.
Mỗi thân đốt sống có 2 mấu bán nguyệt ở góc trên ngoài, hợp với 2 góc dưới ngoài của thân đốt trên để tạo nên 2 khớp bán nguyệt ở mỗi khe gian đốt. Mấu bán nguyệt bình thường có hình gai hoa hồng dễ nhận biết trên phim X quang tư thế thẳng(Hình 1. Khi khớp bán nguyệt bị thoái hóa dễ chèn ép vào động mạch đốt sống thân nền. Mấu bán nguyệt Khớp sống-sống Hình 1.
Hình ảnh cột sống cổ trên phim X quang thẳng và nghiêng 5 Lỗ tiếp hợp (còn gọi là lỗ ghép) (Hình 1.3): thành trong của lỗ tiếp hợp hình thành bởi phía ngoài là thân đốt sống và khớp Luschka. Khớp mấu lồi đốt sống hình thành bởi diện khớp mấu lồi đốt sống trên và diện khớp mấu lồi đốt sống dưới, khớp được bao bọc bởi bao khớp ở phía ngoài. Lỗ tiếp hợp C3 - C4 Đĩa đệm C4 - C5 Cuống sống Mấu khớp dưới C6 Mấu khớp trên C7 Hình 1. Hình ảnh lỗ tiếp hợp trên phim X quang tư thế chếch ¾ Dây thần kinh hỗn hợp chạy dọc theo lỗ tiếp hợp và tách ra thành 2 phần cảm giác và vận động riêng biệt.
Phần vận động còn gọi là rễ trước tiếp xúc với khớp bán nguyệt, rễ sau nằm ở phía bên trong mỏm khớp và bao khớp. Rễ thần kinh bình thường chỉ chiếm khoảng 1/4 -1/5 lỗ tiếp hợp[20,21]. Đĩa đệm: được cấu tạo bởi 3 thành phần là nhân nhầy, vòng sợi và mâm sụn. - Nhân nhầy: được cấu tạo bởi một màng liên kết.
Bình thường nhân nhầy nằm ở trong vòng sợi, khi cột sống vận động về một phía thì nó bị đẩy chuyển động dồn về phía đối diện. - Vòng sợi: gồm những vòng sợi sụn (fibro-cartilage) rất chắc chắn và đàn hồi đan vào nhau theo kiểu xoắn ốc. Ở phía sau và sau bên của vòng sợi tương đối mỏng, nơi dễ xảy ra lồi và thoát vị đĩa đệm. - Mâm sụn: gắn chặt vào tấm cùng của đốt sống, nên còn có thể coi là một phần của đốt sống.
6 - Chiều cao của đĩa đệm: ở đoạn sống cổ khoảng 3mm. Dây chằng: - Dây chằng dọc trước bám ở mặt trước các đốt ống và đĩa đệm. - Dây chằng dọc sau bám vào mặt sau thân đốt và đĩa đệm. - Ngoài ra còn dây chằng vàng, dây chằng liên gai, dây chằng liên ngang.
Mạch máu, thần kinh: - Từ đốt C6 đến C2 có động mạch đốt sống thân nền, tĩnh mạch và một số nhánh thần kinh giao cảm cổ chạy trong lỗ động mạch ở giữa mỏm ngang của mỗi đốt và ngay bên cạnh mỏm móc. - Thần kinh vận động: các nhánh của đám rối cổ sâu: nhánh vận động cho cơ ở cột sống, cơ thang, cơ ức đòn chũm. Nhánh C5 chi phối vận động cơ delta, cơ tròn nhỏ, các cơ trên gai, dưới gai. Nhánh C6 chi phối vận động cơ nhị đầu, cơ cánh tay trước.
Nhánh C7 chi phối vận động cơ tam đầu. Nhánh C8 chi phối vận động cơ gấp ngón tay. - Cảm giác: nhánh C1, C2, C3 cho nửa sau đầu. Nhánh C4 cho vùng vai.
Nhánh C5,C6,C7 cho nửa quay cánh tay, cẳng tay, ngón 1, 2, 3. Nhánh C8, D1 cho nửa trụ cánh tay, cẳng tay, ngón 4,5. - Phản xạ gân xương: nhánh C5 chi phối phản xạ gân xương cơ nhị đầu. Nhánh C6 chi phối phản xạ gân xương cơ nhị đầu và trâm quay.
Nhánh C7 chi phối phản xạ gân xương cơ tam đầu[20,21]. Chức năng cột sống cổ. Chức năng chịu tải trọng và bảo vệ tuỷ Ở cột sống cổ các thân đốt sống nhỏ, đĩa đệm không chiếm toàn bộ bề mặt thân đốt, do đó tải trọng tác động phần lớn lên đĩa đệm dẫn tới sự giảm chiều cao gian đốt. Khoang gian đốt C5-C6, C2-C3 là những nơi chịu tải trọng lớn nhất ở cột sống cổ, do đó hay gặp thoái hoá ở những đoạn đốt sống 7 cổ này.
Cột sống cổ còn là nơi bảo vệ tủy và các thành phần khác trong ống sống. Chức năng vận động - Cột sống cổ có phạm vi vận động rất lớn. Đoạn cổ trên (C1-C3) đáp ứng cho chuyển động xoay, thường ít gặp thoái hóa ở đoạn này. Các khớp đốt sống cổ cho phép chuyển động trượt giữa các thân đốt sống tạo nên vận động duỗi và gấp cột sống cổ.
Các cử động của cột sống cổ bao gồm: - Cử động theo mặt phẳng trước sau: cúi và ngửa cổ. Động tác này được thực hiện ở ba phần, đơn thuần chỉ xảy ra ở xương chẩm và đốt đội. Còn lại là vai trò của các khớp đốt sống khác từ C2 đến C7. - Cử động theo mặt phẳng ngang: nghiêng sang hai bên phải, trái.
- Cử động quay cổ: động tác này chủ yếu do khớp trục đội (C1 - C2) đảm nhiệm còn lại là sự tham gia của các đốt sống từ C2 đến C7[6,22]. Các động tác vận động của cột sống cổ 1. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh. Nguyên nhân Sự lão hóa: Ở người trưởng thành các tế bào sụn không có khả năng sinh sản và tái tạo, cùng với sự lão hóa của cơ thể, các tế bào sụn cũng giảm dần chức năng tổng hợp sợi Collagen và Mucopolysacarit, làm cho chất lượng sụn kém đi nhất là tính đàn hồi và chịu lực.
8 Yếu tố cơ giới Là yếu tố quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình thoái hóa, thể hiện bằng sự tăng bất thường lực nén trên một đơn vị diện tích của mặt khớp và đĩa đệm, còn được gọi là hiện tượng quá tải, bao gồm: - Các dị dạng khớp bẩm sinh làm thay đổi diện tỳ nén bình thường của khớp và cột sống. - Các biến dạng thứ phát sau chấn thương, u, loạn sản, làm thay đổi mối tương quan, hình thái của khớp và cột sống. - Sự tăng tải trọng do tăng cân quá mức như béo phì. Các yếu tố khác Di truyền: cơ địa già sớm.
Nội tiết: tuổi mãn kinh, đái tháo đường, loãng xương do nội tiết. Chuyển hóa: bệnh gout, bệnh da sạm màu nâu. - Tư thế bất động cột sống do đặc điểm nghề nghiệp (làm việc vi tính, thợ may, lái xe. Cơ chế bệnh sinh Hai lý thuyết chính được nhiều tác giả ủng hộ trong cơ chế bệnh sinh của THCSC là lý thuyết cơ học và lý thuyết tế bào.
- Lý thuyết cơ học mô tả các vi gãy xương do suy yếu các sợi Collagen dẫn đến việc hư hỏng các chất Proteoglycan. - Lý thuyết tế bào nêu nên cơ chế tăng áp lực làm tế bào sụn cứng lại, giải phóng các enzym tiêu protein làm huỷ hoại dần dần các chất cơ bản[6,22]. Nguyên nhân gây hội chứng hội chứng cổ vai tay. - Nguyên nhân thường gặp nhất (70-80%) là do thoái hóa cột sống cổ, thoái hóa các khớp liên đốt và liên mỏm bên làm hẹp lỗ tiếp hợp, gây chèn ép rễ/ dây thần kinh cột sống cổ tại các lỗ tiếp hợp.
9 - Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ (20-25%), đơn thuần hoặc kết hợp với thoái hóa cột sống cổ. - Các nguyên nhân khác bao gồm chấn thương, khối u, nhiễm trùng, loãng xương, bệnh lý viêm cột sống, bệnh lý phần mềm cạnh cột sống. -Trong một số trường hợp, hội chứng cổ vai tay là do bản thân bệnh lý cột sống cổ gây đau cổ và lan ra vai hoặc tay, mà không có bệnh lý rễ/ dây thần kinh cổ1. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng 1.
Triệu chứng lâm sàng Triệu chứng lâm sàng của HCCVT tùy thuộc nguyên nhân, mức độ, và giai đoạn bệnh mà bệnh nhân có thể có những triệu chứng và hội chứng sau: Hội chứng cột sống cổ - Đau cổ gáy: + Đau cổ gáy cấp tính: hay vẹo cổ cấp xuất hiện sau một đêm ngủ dậy do gối đầu lệch hoặc sau lao động nặng, mệt mỏi, căng thẳng, lạnh.thấy đau vùng cổ gáy một bên lan lên vùng chẩm. + Đau cổ gáy mạn tính: đau âm ỉ khi tăng khi giảm, khó vận động một số động tác vì đau, đôi khi thấy lạo xạo khi quay cổ. + Có điểm đau cột sống cổ: ấn vào các gai sau cột sống cổ thấy đau. - Hạn chế vận động cột sống cổ: đau làm đầu vẹo sang một bên không quay về bên kia được do cơ bên đau bị co cứng phản xạ[1,6].