CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC 1. Khái niệm và vai trò của đội ngũ công chức 1. Khái niệm công chức Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 có hiệu lực từ 01/01/2010 (sửa đổi, bố sung năm 2019) là khung pháp lý cao nhất trong thời gian qua thể hiện khái niệm “công chức” một cách triệt để, có phạm vi.
Theo đó, công chức “…là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước…” Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ đã bổ sung thêm căn cứ xác định công chức ở Điều 2 và bao gồm 9 nhóm đối tượng quy định trong Điều 3, Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11. Luật 52/2019/QH14 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức. Tổng hợp những khái niệm, quy định tác giả rút ra được một số đặc điểm của công chức như sau: Thứ nhất công chức bắt buộc phải là công dân Việt Nam. Điều kiện tiên quyết để được bổ nhiệm công chức là có quốc tịch Việt Nam và phải đáp ứng được các điều kiện theo luật định.
Thứ hai công chức được bổ nhiệm, tuyển dụng theo hình thức xét, thi tuyển sau khi được các cơ quan, đơn vị xem xét dựa trên yêu cầu về vị trí việc làm, nhiệm vụ và chỉ tiêu biên chế tại cơ quan, đơn vị đó. Thứ ba công chức chỉ công nhận khi đảm nhận chức vụ, chức danh trong 9 cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Thứ tư công chức đảm nhận công vụ, chức danh không sẽ có nhiệm kì. Còn trong một số trường hợp khác có thể có theo nhiệm kỳ nhưng ít hơn.
Từ khi được bổ nhiệm theo ngạch, công chức bắt đầu đảm nhiệm chức danh công chức. Công chức sẽ đảm nhiệm chức vụ công chức cho đến tuổi nghỉ hưu trừ khi có yêu cầu luân chuyển, thuyên chuyển về công việc hay bị cho thôi việc do những vi phạm trong thời gian công tác. Trong một số trường hợp nhất định, công chức cũng có thể nhận các chức vụ và chức danh tùy theo độ dài của nhiệm kỳ. Tóm lại, có thể hiểu: Công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thuộc các cơ quan chuyên môn của UBND cấp huyện; trong biên chế và hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước; thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước có tính chất thường xuyên và những nhiệm vụ được phân công khác theo quy định của pháp luật.
Vai trò của đội ngũ công chức thuộc UBND cấp huyện UBND cấp huyện là cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương. UBND cấp huyện có quyền và nghĩa vụ giải quyết các yêu cầu hành chính thông qua việc thực thi Nghị quyết của HĐND cùng cấp. Cơ quan cấp huyện là cấp trực tiếp điều hành cấp xã và chỉ đạo, điều hành, kiểm soát hoạt động của chính quyền cấp xã theo hệ thống chính quyền bốn cấp. Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện có lịch sử ra đời, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mang tính pháp lý nhất định.
UBND cấp huyện có trách nhiệm quản lý, chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn về tổ chức và hoạt động của CBCC, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của các cơ quan chuyên môn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về chuyên môn, nghiệp vụ. Là công chức hành chính nhà nước, đội ngũ công chức tại các cơ quan chuyên môn có đặc trưng như sau: - Trung thành với Đảng, chính quyền, với quốc gia và nhân dân; - Được tuyển dụng, làm việc theo quy trình và thủ tục pháp lý; 10 - Quyền và nhiệm vụ được quy định căn cứ vào các quy định của pháp luật; - Trở thành đội ngũ lao động chuyên nghiệp, chuyên môn cao; - Tuân thủ quy định của pháp luật về chuyên môn công tác. Công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện giữ vai trò trung gian để cho cấp tỉnh với cấp xã được thông suốt, cho nên họ có vai trò hết sức cần thiết. Sức ảnh hưởng của cơ quan chuyên môn cấp huyện vô cùng mạnh mẽ cụ thể ở các khía cạnh đời sống, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các địa phương và toàn thể người dân trong xã, phường, thị trấn; họ là cầu nối giữa cấp tỉnh và cấp xã, là mắt xích quan trọng trong cơ chế thực hiện quyền lực nhân dân.
Tất cả chủ trương, chính sách, quy định, điều chỉnh của Đảng và Nhà nước đều được chuyển tới cấp huyện. Đội ngũ công chức cấp huyện đều trưởng thành từ thực tiễn công việc và trực tiếp giải quyết các vướng mắc của cấp cơ sở ở địa phương. Họ có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, thường xuyên với nhân dân địa phương, trực tiếp chỉ dẫn giải quyết tình huống phát sinh. Đặc biệt, họ là những người có hiểu biết sâu rộng hơn cả đặc điểm tình hình của từng cấp xã, hướng dẫn các cấp xã thực hiện công việc một cách nhanh nhất, chính xác nhất.
Công chức cấp huyện hướng dẫn thi hành các quyết định, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước từ cấp trung ương, cấp tỉnh cho các cấp xã. Công chức cấp huyện phát hiện ra những bất cập của các chính sách khi triển khai trong thực tế đời sống thông qua việc nắm rõ tình hình triển khai thực hiện chủ trương, chính sách pháp luật, mặt khác công chức cấp huyện cũng là kênh truyền đạt những mong muốn, nguyện vọng được đề bạt từ cấp xã lên với các cấp trung ương đến Đảng và Nhà nước để Đảng và Nhà nước điều chỉnh, bổ sung cho đúng, phù hợp với thực tiễn và hợp lòng dân. Công chức cấp huyện có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước và tổ chức bộ máy của chính quyền cấp huyện, phát triển kinh tế - xã hội địa phương, bảo đảm quyền và lợi ích của nhân dân. Tùy theo vị trí, chức danh của mình, 11 mỗi công chức cấp huyện sẽ đảm nhận và thực hiện những nhiệm vụ nhất định, chẳng hạn: Công chức thuộc mảng lao động sẽ có nhiệm vụ tham mưu cho lãnh đạo chính quyền huyện và có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề liên quan đến việc làm trên toàn huyện, công chức văn hóa xã hội sẽ đảm nhận các hoạt động để quản lý và phát triển lĩnh vực văn hóa – xã hội.
Công việc của họ có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước trên toàn huyện, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thông qua việc xử lý, giải quyết các khúc mắc của nhân dân kịp thời, hiệu quả, góp phần ổn định tình hình xã hội trên toàn huyện. Đội ngũ công chức chính là những người góp phần xây dựng bộ máy của chính quyền cấp huyện. Họ có nhiệm vụ tham mưu cho ban lãnh đạo các phương hướng chỉnh sửa, bố trí cơ cấu tổ chức của đơn vị sao cho khoa học, gọn nhẹ, hợp tình, phân công đúng người, đúng việc. Để có thể phát huy một cách toàn vẹn năng lực của đội ngũ công chức đồng thời góp phần củng cố và hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước thì tổ chức bộ máy vững mạnh là điều kiện đầu tiên.
Trong quá trình thực hiện công việc, công chức cấp huyện là những cầu nối giữa các cấp cơ sở để tổ chức thực hiện, quyết định sự thành bại của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong thực tiễn đời sống. Nhờ có cấp huyện mà chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước được thực thi một cách tốt nhất và có hiệu quả nhất. Công chức cấp huyện phát huy những chức năng của mình trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước, của các địa phương; tham gia trực tiếp với quần chúng, tạo thành phong trào rộng rãi. Hiệu lực và hiệu quả của chính quyền cấp huyện được quyết định bởi chất lượng, khả năng thực hiện và hoàn thành công việc của đội ngũ cán bộ quận.
Khái niệm và vai trò của đánh giá thực hiện công việc đối với công chức 1. Khái niệm đánh giá thực hiện công việc đối với công chức Theo Từ điển Tiếng Việt, đánh giá được hiểu là “nhận định giá trị”. Nghĩa 12 là các thành tích trong quá trình làm việc của công chức được thể hiện trong việc đánh giá kết quả công việc đó. Để hoạt động đánh giá thực hiện một cách khoa học và thực chất thì hoạt động đánh giá phải đảm bảo tiêu chí rõ ràng, có phương pháp đánh giá phù hợp.
Tác giả đã thu thập và tìm hiểu được có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về ĐGTHCV. Lê Thanh Hà trong giáo trình Quản trị nhân lực cho rằng: “Đánh giá thực hiện công việc là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc (nhóm người) lao động trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thỏa thuận về sự đánh giá đó với NLĐ. Đây thực chất là việc so sánh tình hình thực hiện công việc của chính người (nhóm người) lao động so với yêu cầu đề ra của tổ chức. Mai Thanh Lan (2019) lại cho rằng “Đánh giá thực hiện công việc là đánh giá mức độ hoàn thành công việc (Performance Appraising) nhằm xác định mức độ hoàn thành công việc của bộ phận và từng cá nhân người lao động so với những tiêu chuẩn đã đề ra của tổ chức”.
Khái niệm của PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân và ThS. Nguyễn Vân Điềm đưa ra là khái niệm bao quát nhất và được tác giả lựa chọn sử dụng trong khóa luận này, đó là: “Đánh giá thực hiện công việc là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của NLĐ trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận về sự đánh giá đó với NLĐ.