Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu quả của can thiệp động mạch vành qua da bằng cộng hưởng từ tim trên bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá hiệu quả của can thiệp động mạch vành qua da bằng cộng hưởng từ tim trên bệnh nhân hội, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Chuyên ngành

Nội – Tim Mạch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Y Học

2014

176
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Hiệu Quả Can Thiệp Động Mạch Vành

Đánh giá hiệu quả của can thiệp động mạch vành qua da (CTĐMVQD) là một chủ đề quan trọng trong y học hiện đại. Nghiên cứu này tập trung vào việc sử dụng cộng hưởng từ tim (CMR) để đánh giá hiệu quả của CTĐMVQD trên bệnh nhân bị hội chứng mạch vành cấp (HCĐMVC). CMR cho phép khảo sát cấu trúc và chức năng tim một cách chính xác, từ đó giúp cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân.

1.1. Định Nghĩa Hội Chứng Mạch Vành Cấp

Hội chứng mạch vành cấp (HCĐMVC) bao gồm các tình trạng như nhồi máu cơ tim (NMCT) và cơn đau thắt ngực không ổn định. Việc nhận diện sớm và chính xác HCĐMVC là rất quan trọng để có phương pháp điều trị kịp thời.

1.2. Vai Trò Của CMR Trong Đánh Giá Tim

CMR là phương pháp tiên tiến giúp đánh giá tình trạng tim mạch, bao gồm cả tưới máu và chức năng thất trái. Phương pháp này được coi là tiêu chuẩn vàng trong việc đánh giá hiệu quả của CTĐMVQD.

II. Thách Thức Trong Đánh Giá Hiệu Quả Can Thiệp Động Mạch Vành

Mặc dù có nhiều phương pháp đánh giá hiệu quả của CTĐMVQD, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các yếu tố như thời gian can thiệp, tình trạng bệnh nhân và phương pháp chẩn đoán có thể ảnh hưởng đến kết quả. Việc thiếu dữ liệu đồng nhất từ các nghiên cứu cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Kết Quả

Các yếu tố như tuổi tác, giới tính, và tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của CTĐMVQD. Việc phân tích các yếu tố này là cần thiết để đưa ra những kết luận chính xác.

2.2. Khó Khăn Trong Việc So Sánh Các Nghiên Cứu

Sự khác biệt trong thiết kế nghiên cứu và phương pháp đánh giá có thể dẫn đến những kết quả không đồng nhất. Điều này làm cho việc tổng hợp dữ liệu và đưa ra khuyến nghị trở nên khó khăn.

III. Phương Pháp Đánh Giá Hiệu Quả Can Thiệp Động Mạch Vành

Để đánh giá hiệu quả của CTĐMVQD, nhiều phương pháp đã được áp dụng. CMR là một trong những phương pháp hiện đại nhất, cho phép đánh giá chi tiết về cấu trúc và chức năng tim. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng CMR có thể cung cấp thông tin quan trọng về tình trạng tim mạch của bệnh nhân.

3.1. CMR So Với Các Phương Pháp Khác

CMR có nhiều ưu điểm so với các phương pháp truyền thống như điện tâm đồ hay siêu âm tim. Nó cho phép đánh giá chính xác hơn về tình trạng tưới máu và chức năng tim.

3.2. Quy Trình Thực Hiện CMR

Quy trình thực hiện CMR bao gồm nhiều bước, từ chuẩn bị bệnh nhân đến việc phân tích hình ảnh. Sự chính xác trong từng bước là rất quan trọng để đảm bảo kết quả đánh giá.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Can Thiệp Động Mạch Vành

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng CTĐMVQD có hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện chức năng tim ở bệnh nhân HCĐMVC. Các chỉ số như phân suất tống máu và khối lượng cơ tim đã được cải thiện đáng kể sau can thiệp.

4.1. So Sánh Kết Quả Trước Và Sau Can Thiệp

Kết quả cho thấy có sự cải thiện rõ rệt về chức năng tim sau khi thực hiện CTĐMVQD. Các chỉ số như EF và SWT đã được cải thiện đáng kể.

4.2. Đánh Giá Theo Nhóm Bệnh Nhân

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự khác biệt về hiệu quả giữa các nhóm bệnh nhân có và không có ST chênh lên. Điều này cho thấy cần có những phương pháp điều trị phù hợp cho từng nhóm.

V. Kết Luận Về Hiệu Quả Can Thiệp Động Mạch Vành

CTĐMVQD là một phương pháp hiệu quả trong điều trị bệnh nhân HCĐMVC. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng CMR để đánh giá hiệu quả can thiệp là cần thiết và có giá trị. Cần tiếp tục nghiên cứu để xác định rõ hơn về hiệu quả của phương pháp này.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Về CMR

CMR có tiềm năng lớn trong việc đánh giá tình trạng tim mạch. Các nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc cải thiện kỹ thuật và ứng dụng của CMR.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Thực Hành Lâm Sàng

Cần có những khuyến nghị rõ ràng về việc sử dụng CMR trong thực hành lâm sàng để đảm bảo bệnh nhân nhận được sự chăm sóc tốt nhất.

18/06/2025
Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu quả của can thiệp động mạch vành qua da bằng cộng hưởng từ tim trên bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 SƠ LƯỢC VỀ HỘI CHỨNG ĐỘNG MẠCH VÀNH CẤP: Hội chứng động mạch vành cấp (HCĐMVC – Acute Coronary Syndrome) là từ thông dụng dùng cho các triệu chứng lâm sàng tương ứng với thiếu máu cục bộ (TMCB) cơ tim cấp tính (hình 1) [9]. Hội chứng này bao gồm NMCT (có ST chênh lên hay không có ST chênh lên, có sóng Q hay không có sóng Q) và cơn đau thắt ngực không ổn định (CĐTNKOĐ). Một bệnh nhân nhập viện vào phòng cấp cứu vì triệu chứng đau ngực cần phải được đánh giá những hướng chẩn đoán sau: 1) HCĐMVC (hình 1), sau đó có thể phân loại thành: a) NMCT cấp có ST chênh lên (STEMI: ST Elevation Myoacardial Infarction) b) NMCT không có ST chênh lên (NSTEMI: Non-ST Elevation Myoacardial Infarction) c) CĐTNKOĐ (chắc chắn, nhiều khả năng, có thể) 2) Tình trạng tim mạch không phải HCĐMVC (chẳng hạn như viêm màng ngoài tim cấp) 3) Tình trạng không phải do tim đi kèm với những bệnh lý đặc hiệu khác (chẳng hạn như đau ngực do co thắt thực quản) 4) Tình trạng không phải do tim chưa xác định rõ.1: Hội chứng động mạch vành cấp. Nửa trên của hình minh họa diễn tiến theo thời gian và mối liên quan giữa biểu hiện lâm sàng với tiến triển của việc hình thành mảng xơ vữa, khởi phát, và biến chứng của CĐTNKOĐ/ NSTEMI cùng với các hướng điều trị tương ứng trong từng giai đoạn bệnh.

Mặt cắt dọc động mạch cho thấy diễn tiến theo thời gian của mảng xơ vữa từ (1) động mạch bình thường đến (2) khởi đầu sang thương và tích tụ lipid ngoại bào ở nội mạc, đến (3) tiến triển sang giai doạn xơ mỡ (fibrofatty stage), đến (4) tiến triển sang thương kèm biểu hiện tiền đông máu và bào mòn mũ xơ. HCĐMVC phát triển khi mảng xơ vữa dễ bị tổn thương hay mảng xơ vữa nguy cơ cao bị rạn vỡ mũ xơ (5); vỡ mảng xơ vữa là yếu tố kích thích sự tạo huyết khối. Sau đó sẽ có hiện tượng hấp thụ huyết khối và tích tụ collagen cùng với tăng sinh tế bào cơ trơn (6). Sau khi vỡ mảng xơ vữa dễ bị tổn thương hay mảng xơ vữa nguy cơ cao, bệnh nhân sẽ có biểu hiện khó chịu do TMCB do giảm lưu lượng máu đi qua động mạch thượng tâm mạc bị tổn thương.

Lưu lượng máu bị giảm có thể do huyết khối làm tắc nghẽn hoàn toàn động mạch (nửa dưới, bên phải) hay do huyết khối gây bán tắc (nửa dưới, bên trái). Bệnh nhân bị TMCB có thể kèm/ hay không kèm ST chênh lên trên ECG. Trong số những bệnh nhân có kèm ST chênh lên, đa số (mũi tên trắng dày ở phần dưới hình) sẽ phát triển thành NMCT có sóng Q, mặc dù có một số ít (mũi tên trắng mỏng) phát triển thành NMCT không có sóng Q. Những bệnh nhân không có ST chênh lên sẽ phát triển thành hoặc là CĐTNKOĐ, hoặc là NSTEMI (mũi tên đỏ dày), phân biệt được về sau dựa vào có hay không có tăng men tim trong máu (CK-MB hay troponin tim).

Đa số bệnh nhân có NSTEMI về sau sẽ phát triển thành NMCT không sóng Q trên ECG, chỉ có một số ít phát triển thành NMCT có sóng Q (mũi tên đỏ mỏng). Phổ biểu hiện lâm sàng từ CĐTNKOĐ sang NSTEMI hay STEMI được gọi HCĐMVC. [9] (Nguồn: Circulation, 123, e426-459) 6 Các biểu hiện của CĐTNKOĐ bao gồm: CĐTN xuất hiện lúc nghỉ (Rest angina): CĐTN xảy ra lúc nghỉ và kéo dài, thường > 20 phút. Thường gặp trong NSTEMI.

CĐTN mới khởi phát (New-onset angina): CĐTN mới xảy ra (<1 tháng) với độ nặng ít nhất là CCS III (theo phân độ CĐTN của Hội tim mạch Canada, sẽ được đề cập rõ hơn trong phần 1. CĐTN tăng dần (Increasing angina): CĐTN đã được chẩn đoán trước đó tiến triển tăng dần nặng hơn (crescendo) với đau nhiều hơn, giảm ngưỡng gây đau hay tăng độ nặng cơn đau (tăng 1 độ nặng CCS đến tối thiểu là CCS III), đau kéo dài hơn, tăng tần suất cơn đau. [9] CĐTN tái phát trong vòng 4-6 tuần sau NMCT cấp. Biểu hiện khác: CĐTN tái phát trong vòng 4-6 tuần sau phẫu thuật bắc cầu hay CTĐMVQD; phù phổi cấp tái phát.

Chẩn đoán xác định HCĐMVC không ST chênh lên dựa vào hai tiêu chuẩn sau: (a) ST chênh xuống hay có bất thường sóng T (b) Có triệu chứng thiếu máu cơ tim kèm hay không cảm giác khó chịu ở ngực. Triệu chứng thiếu máu cơ tim có thể bao gồm (1) Buồn ói và ói hay vã mồ hôi không giải thích được (2) Cảm giác khó thở liên tục do suy tim trái (3)Cảm giác yếu ớt, chóng mặt, nặng đầu hay ngất không giải thích được. CĐTNKOĐ và NSTEMI có sinh lý bệnh và biểu hiện lâm sàng tương tự nhau nhưng khác nhau về độ trầm trọng và sự tăng men tim. NSTEMI được xác định khi có sự tăng các men tim (CK-MB hay Troponin) mà không có ST chênh lên liên tục [9].

Đối với STEMI, trước đây người ta thường chẩn đoán xác định NMCT dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán kinh điển của Tổ chức Y tế thế giới (WHO – World Health Organisation), khi có ít nhất 2 trong 3 tiêu chuẩn sau: 7 (1) Lâm sàng : cơn đau thắt ngực kiểu mạch vành (2) Điện tâm đồ (ECG): thay đổi động học kiểu NMCT (3) Xét nghiệm : thay đổi động học men tim. Tuy nhiên, hiện nay với sự phát triển các dấu ấn sinh học tim nhạy hơn và đặc hiệu cho mô cơ tim cùng với các kỹ thuật hình ảnh nhạy hơn đã cho phép phát hiện các tổn thương hay hoại tử cơ tim diện rất nhỏ. Hơn nữa, thực tế đã nảy sinh nhu cầu phân biệt các tình huống khác nhau có thể gây NMCT như NMCT “tự phát” và NMCT “liên quan thủ thuật”. Do đó, đã hình thành định nghĩa mới cho NMCT được thống nhất toàn cầu lần đầu tiên vào năm 2000, và sau đó là năm 2007 rồi gần đây nhất (2012) đã có sự đồng thuận lần thứ 3 giữa Hội Tim châu Âu (ESC - European Society of Cardiology), Trường môn Tim Mạch Hoa Kỳ/ Hội Tim Mạch Hoa Kỳ (ACC/AHA) và Liên đoàn Tim thế giới (WHF – World Heart Federation) cũng như được WHO chấp nhận [66].

Theo định nghĩa này, từ NMCT cấp nên được sử dụng khi có bằng chứng của hoại tử cơ tim trong một bệnh cảnh lâm sàng của TMCB cơ tim cấp. Trong bệnh cảnh này, nếu có 1 trong bất kỳ tiêu chuẩn nào sau đây sẽ được chẩn đoán là NMCT cấp: (1) Phát hiện có tăng và/hoặc giảm các giá trị dấu ấn sinh học tim (tốt nhất là troponin tim – cTn) với ít nhất một giá trị trên 99% giới hạn trên trị bình thường (URL – upper reference limit) và kèm ít nhất một trong các dấu hiệu sau: Triệu chứng thiếu máu cục bộ cơ tim. Thay đổi ST – T đáng kể, mới xuất hiện hay được cho là mới hoặc blốc nhánh trái mới. Xuất hiện sóng Q bệnh lý trên ECG.

Bằng chứng hình ảnh học của mới mất cơ tim còn sống hay có bất thường vận động vùng mới xuất hiện Nhận diện có huyết khối trong ĐMV trên chụp ĐMV cản quang hay trên tử thiết. 8 (2) Tử vong do tim kèm triệu chứng gợi ý TMCB cơ tim và có thay đổi kiểu TMCB trên ECG được cho là mới xuất hiện hay có blốc nhánh trái mới, nhưng tử vong đã xảy ra trước khi xét nghiệm dấu ấn sinh học, hay trước khi dấu ấn sinh học kịp tăng. Thêm vào đó, cần phải có 1 trong các yếu tố sau: Triệu chứng gợi ý TMCB cơ tim, hay Thay đổi ECG kiểu TMCB mới xuất hiện, hay Có dấu hiệu biến chứng thủ thuật trên chụp ĐMV cản quang, hay Có hình ảnh mới mất cơ tim còn sống hay có bất thường vận động vùng mới xuất hiện. (4) Huyết khối stent kết hợp với NMCT khi được phát hiện trên chụp ĐMV cản quang hay trên tử thiết trong bệnh cảnh TMCB cơ tim và kèm tăng và/hoặc giảm các giá trị dấu ấn sinh học tim (tốt nhất là troponin tim – cTn) với ít nhất một giá trị trên 99% URL.

(5) NMCT liên quan phẫu thuật bắc cầu ĐMV (CABG - Coronary Artery Bypass Grafting) được định nghĩa khi tăng cTn gấp 10 lần URL ở bệnh nhân có giá trị căn bản bình thường. Thêm vào đó, cần phải có 1 trong các yếu tố sau: Sóng Q bệnh lý mới hay blốc nhánh trái mới, hay Có bằng chứng trên chụp ĐMV cản quang có tắc nghẽn mới ở cầu nối hay ở ĐMV tự nhiên, hay Có hình ảnh mới mất cơ tim còn sống hay có bất thường vận động vùng mới xuất hiện.2 SƠ LƯỢC VỀ CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH QUA DA VÀ HIỆU QUẢ CỦA CTĐMVQD TRONG HCĐMVC: 1.1 Sơ lược về CTĐMVQD: [64] CTĐMVQD bao gồm các kỹ thuật can thiệp qua da làm giảm hẹp lòng ĐMV, điều trị xơ vữa ĐMV qua ống thông. Có nhiều kỹ thuật CTĐMVQD: nong mạch vành bằng bóng đơn thuần, đặt stent (stent kim loại thường hoặc stent có phủ thuốc) vào trong động mạch vành, cắt hút mảng xơ vữa (extraction atherectomy), cắt mảng xơ vữa mạch vành có định hướng (DCA = Directional coronary Atherectomy), khoan phá mảng xơ vữa (rotational atherectomy), ống thông lấy bỏ huyết khối theo dòng lưu biến (rheolytic thrombectomy catheter), các dụng cụ bảo vệ chống thuyên tắc gần và xa (proximal and distal embolic protection devices), cắt bỏ mảng xơ vữa bằng dao cắt laser (excimer laser coronary atherectomy), và các dụng cụ xạ trị tại chỗ nhằm giảm tái hẹp trong stent. Tại Việt Nam, CTĐMVQD gần như đồng nghĩa với nong và/hoặc đặt stent động mạch vành, có kèm hút huyết khối hay không (các kỹ thuật khác chưa được phổ biến rộng rãi do đòi hỏi các dụng cụ phức tạp hơn).

Nong mạch vành được Andreas Gruentzig giới thiệu đầu tiên vào năm 1977 như là một phương pháp điều trị tái thông mạch vành không bằng phẫu thuật. Về cơ bản kỹ thuật này đưa một ống thông có gắn bóng ở đầu vào chỗ động mạch vành bị hẹp, bơm bóng lên và sau đó xả bóng xuống, lấy ống thông ra. Những báo cáo ban đầu đã cho thấy nong mạch vành bằng bóng có thể làm giảm mức độ hẹp động mạch vành và làm giảm hay làm mất các biểu hiện khách quan và chủ quan của thiếu máu cục bộ (TMCB) cơ tim. Các báo cáo quan sát trên số lượng lớn bệnh nhân đã khẳng định nong mạch vành có thể được áp dụng cho những nhóm bệnh nhân khác nhau với tỉ lệ thành công cao hơn, tỉ lệ biến chứng thấp hơn khi so sánh với những kinh nghiệm ban đầu.

Giá trị của nong mạch vành càng được khẳng định khi so sánh kết quả của nong mạch vành với các phuơng pháp điều trị thay thế khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ