Đặt vấn đề Trong những năm qua, ô nhiễm môi trƣờng đã và đang trở nên bức xúc, ảnh hƣởng nghiêm trọng tới môi trƣờng, cảnh quan và sức khỏe cộng đồng. Nó xảy ra trên diện rộng, khắp các khu vực công cộng hay các khu dân cƣ, khu vực sản xuất. Với sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, hoạt động bảo vệ môi trƣờng ở nƣớc ta đã có những chuyển biến tích cực, đạt đƣợc những thành tựu khá to lớn trong những năm qua. Những kết quả chủ yếu nhận thức chung của toàn xã hội về bảo vệ môi trƣờng đã đƣợc nâng lên một bƣớc từng ngƣời dân, từng thành phần kinh tế đã có ý thức hơn trong bảo vệ môi trƣờng; việc ngăn chặn sự gia tăng ô nhiễm môi trƣờng đạt kết quả khích lệ, cải thiện môi trƣờng có những tiến bộ nhất định các giúp môi trƣờng trong lành hơn giảm bớt sự ô nhiễm trƣớc đó; bên cạnh đó cũng đã hình thành tƣơng đối đầy đủ hệ thống văn bản pháp luật cũng nhƣ hệ thống tổ chức quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng từ Trung ƣơng đến địa phƣơng và nâng cao vị thế của Việt Nam trong công tác bảo vệ môi trƣờng ở khu vực và thế giới.
Để đạt đƣợc những thành tựu này Đảng và toàn dân ta đã phải bỏ ra rất nhiều kinh phí vật chất, của cải và sức lực. Đứng trƣớc các thách thức to lớn và yêu cầu bức xúc đốivới công tác bảo vệ môi trƣờng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững đất nƣớc; công tác bảo vệ môi trƣờng trong thời gian tới cần thiết phải có những chuyển biến to lớn cả về lƣợng và chất. Để tiến tới thực hiện mục tiêu đó, một trong những giải pháp quan trọng và cơ bản đó là xã hội hoá bảo vệ môi trƣờng. Trong công tác bảo vệ môi trƣờng đó phải nhắc tới một mảng rất quan trọng đó là việc thu gom, vận chuyển và chôn lấp rác thải.
Rác thải nói chung hay chất thải sinh hoạt hiện nay đang là một vấn đề rất cấp thiết đƣợc đặt ra. Việc phát sinh rác thải n 2 ngày càng nhiều, công tác thu gom đạt tỷ lệ thấp, không xử lý hết vì một nguyên nhân là các bãi chôn lấp rác thải ngày càng bị quá tải. Công việc thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt tại các làng, xã, thị trấn, thị tứ (địa bàn mà hệ thống các công ty môi trƣờng đô thị chƣa với tới, thu nhập và mức sống của ngƣời dân thấp, nhận thức và ý thức BVMT còn hạn chế, hỗ trợ từ ngân sách Nhà nƣớc còn ít) còn nhiều vấn đề bất cập, hạn chế. Chính vì thế cần sớm có các phƣơng án thích hợp sao cho có hiệu quả trong công tác này.
Và mô hình xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải đã đƣợc đƣa ra. Từ khi mô hình này đƣợc đƣa vào áp dụng đã đạt đƣợc những thành tựu khá cao và cần đƣợc áp dụng rộng rãi. Đƣợc sự đồng ý của Ban Giám Hiệu nhà trƣờng, Ban chủ nhiệm khoa Quản lí tài nguyên, dƣới sự hƣớng dẫn của thầy giáo T.S Nguyễn Chí Hiểu – Giảng viên khoa Môi Trƣờng, trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng công tác thu gom và xử lý rác thải tại thị trấn Phủ Thông ,huyên Bạch Thông ,tỉnh Bắc Kạn’’. Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 1.
Mục đích của đề tài Điều tra, đánh giá hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải trên địa bàn thị trấn Phủ Thông. Đề xuất các biện pháp để thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với điều kiện của huyện để đạt hiệu quả cao hơn nhằm nâng cao công tác quản lý môi trƣờng một cách khoa học và bền vững, kết hợp với việc bảo vệ môi trƣờng góp phần nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội trong các năm gần đây của thị trấn Phủ Thông. Tìm hiểu nguồn phát sinh rác thải của địa phƣơng.
n 3 Tìm ra biện pháp quản lý rác thải sinh hoạt hiệu quả hơn cho thị trấn 1. Yêu cầu của dề tài Các số liệu, thông tin đƣa ra phải đảm bảo đô ̣ tin câ ̣y , chính xác, đầ y đủ , chi tiế t… Nhƣ̃ng giải pháp đề xuấ t phải có tính khả thi phù hơ ̣p với điề u kiê ̣n của thị trấn. Ý nghĩa của đề tài * Trong học tập và nghiên cứu khoa học: - Đề tài sẽ là cầu nối giữa kiến thức học tập và thực tế, là cơ hội tiếp cận với thực tế để hiểu rõ hơn về bản chất vấn đề. - Đề tài là cơ sở để lựa chọn, áp dụng các biện pháp quản lý rác thải phù hợp mang lại hiệu quả cao.
* Trong thực tiễn: - Đánh giá đƣợc lƣợng rác thải phát sinh, tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý chất sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Phủ Thông - Đề xuất những biện pháp khả thi nhằm tăng cƣờng lƣợng rác thải đƣợc thu gom, xử lý. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. các khái niệm liên quan - Rác: Là thuật ngữ dùng để chỉ chất thải rắn hình dạng tƣơng đối cố định, bị vứt bỏ từ hoạt động của con ngƣời.
Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một bộ phận của chất thải rắn, đƣợc hiểu là các chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con ngƣời (Trần Hiếu Nhuệ và cs, 2001) [5] - Chất thải: Là sản phẩm đƣợc sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con ngƣời, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thƣơng mại, dịch vụ, giao thông, sinh hoạt gia đình, trƣờng học, các khu dân cƣ, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải nhƣ khí thải của các phƣơng tiện giao thông. Chất thải là kim loại, hóa chất và từ các loại vật liệu khác. - Chất thải rắn: Là chất thải ở thể rắn, đƣợc thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
- Chất thải rắn sinh hoạt: Là chất thải ở trạng thái rắn phát sinh trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày của con ngƣời từ các khu dân cƣ, làng mạc, trƣờng học… Chất thải sinh hoạt hay còn gọi là rác thải sinh hoạt cần đƣợc phân loại và có biện pháp tái sử dụng, tái chế, xử lý hợp lí để thu hồi năng lƣợng và bảo vệ môi trƣờng. (Trƣơng Thành Nam, 2007) [6] - Tái chế chất thải: thực chất là ngƣời ta lấy lại những phần vật chất của sản phẩm hàng hóa cũ và sử dụng các nguyên liệu này để tạo ra những sản phẩm mới. n 5 - Tái sử dụng chất thải: thực chất có những sản phẩm hoặc nguyên liệu có quãng đời sử dụng kéo dài, ngƣời ta có thể sử dụng đƣợc nhiều lần mà không bị thay đổi hình dạng vật lý, tính chất hóa học. * Phế liệu: là sản phẩm, vật liệu bị loại trừ ra khỏi quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng đƣợc thu hồi để tái chế, tái sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm khác.
*Quản lý rác thải sinh hoạt : là hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tƣ, xây dung cơ sở quản lý rác thải sinh hoạt thu gom, lƣu trữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý rác thải sinh hoạt để giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng. * Thu gom rác thải: là hoạt động tập hợp, phân loại, lƣu giữ tạm thời rác thải tại nhiều điểm thu gom và cơ sở đƣợc cơ quan thẩm quyền chấp thuận. * Vận chuyển rác thải: là quá trình chuyên chở rác thải nơi phát sinh, thu gom, lƣu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng. * Xử lý rác thải: là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong rác thải, thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong rác thải.2 Nguồn gốc , phân loại và thành phần chất thải 2.1 Nguồn gốc phát sinh chủ yếu chất thải Khối lƣợng rác thải sinh hoạt hiện nay ngày càng tăng do các tác động của sự gia tăng dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội mà nhu cầu sử dụng tiêu dùng trong các đô thị và các vùng nông thôn đã có những thay đổi.
Trong đó các nguồn phát sinh chất thải chủ yếu gồm: - Từ các khu dân cƣ (một hộ, nhiều hộ…) - Từ các khu công nghiệp (công nghiệp nhẹ, công nghiệp hóa học công nghiệp năng lƣợng, vật liệu xây dựng…) - Từ nông nghiệp (Vỏ bao, chai thuốc BVTV…) n 6 - Từ các khu trống của đô thị (bến xe, công viên…) - Từ thƣơng mại, dịch vụ (các cửa hàng, chợ…) - Từ các cơ quan, trƣờng học - Từ các cơ sở y tế (rác thải của các bệnh nhân, nhân viên…) Qua đánh giá tìm hiểu về nguồn phát sinh chất thải giúp cho chúng ta có những hiểu biết nhất định để từ đó có thể ứng dụng đƣợc các biện pháp khoa học kỹ thuật giúp giảm thiểu các tác động xấu của chất thải tới môi trƣờng 2. Phân loại chất thải rắn 2. Chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải sinh ra từ các hoạt động hàng ngày của con ngƣời. Rác sinh hoạt thải ra ở mọi lúc, mọi nơi trong phạm vi thành phố hoặc khu dân cƣ, từ các hộ gia đình, khu thƣơng mại, chợ và các tụ điểm buôn bán, nhà hàng, khách sạn, công viên, khu vui chơi giải trí, các viện nghiên cứu, trƣờng học, các cơ quan nhà nƣớc.
Theo phƣơng diện khoa học có thể phân biệt các loại chất thải rắn nhƣ sau: - Chất thải thực phẩm bao gồm các loại thức ăn dƣ thừa, rau, quả. đƣợc sinh ra trong khâu chuẩn bị, dự trữ, nấu ăn. Ngoài các loại thức ăn dƣ thừa từ các gia đình còn có thức ăn dƣ thừa từ các nhà hàng, khách sạn, bếp ăn tập thể của trƣờng học bệnh viện, ký túc xá, chợ. Loại chất thải này mang bản chất dễ bị phân huỷ sinh học, trong quá trình phân huỷ tạo ra mùi gây khó chịu, ảnh hƣởng tới sức khoẻ con ngƣời, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng ẩm.
- Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân ngƣời và phân của các loại động vật khác.