Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá hiện trạng công tác thu gom và xử lý rác thải tại thị trấn Phủ Thông - huyện Bạch Thông - tỉnh Bắc Kạn" do sinh viên Hà Minh Hoàng thực hiện (chuyên ngành Địa chính môi trường, Khoa Quản lí tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2016) phản ánh thực trạng ô nhiễm môi trường và quản lý chất thải rắn tại khu vực trung tâm một huyện miền núi. Trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa gia tăng nhanh chóng khiến khối lượng chất thải sinh hoạt phát sinh ngày càng lớn. Tại các địa bàn làng, xã, thị trấn miền núi – nơi hệ thống doanh nghiệp môi trường đô thị chuyên nghiệp chưa vươn tới toàn diện, thu nhập và mức sống người dân còn thấp, nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước còn hạn chế – hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt gặp nhiều khó khăn, bất cập. Tình trạng bãi chôn lấp quá tải, xử lý thủ công, thiếu quy hoạch điểm tập kết gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và ảnh hưởng xấu đến cảnh quan cũng như sức khỏe cộng đồng. Trước yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và thực hiện mô hình xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường, đề tài được triển khai nhằm đánh giá thực chứng và tìm kiếm giải pháp quản lý phù hợp cho địa phương.
Về mục tiêu nghiên cứu, tác giả xác định ba nhiệm vụ chính được đánh số theo văn bản:
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội trong các năm gần đây của thị trấn Phủ Thông.
- Tìm hiểu nguồn phát sinh rác thải của địa phương.
- Tìm ra biện pháp quản lý rác thải sinh hoạt hiệu quả hơn cho thị trấn.
Mục đích tổng quát của đề tài là điều tra, đánh giá hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải trên địa bàn thị trấn Phủ Thông; từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với điều kiện thực tế của huyện, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường và chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể:
- Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng thu gom, vận chuyển và chôn lấp rác thải khu vực thị trấn Phủ Thông, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn thị trấn Phủ Thông, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 10/01/2016 đến ngày 10/05/2016.
- Địa điểm thực tập và thu thập dữ liệu: Ủy ban nhân dân thị trấn Phủ Thông, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận hệ thống hóa cơ sở khoa học về chất thải rắn dựa trên các tài liệu chuyên ngành, tiêu biểu là các định nghĩa về "rác", "chất thải rắn sinh hoạt" theo Trần Hiếu Nhuệ và cộng sự (2001), Trương Thành Nam (2007). Các khái niệm cốt lõi được tác giả chuẩn hóa bao gồm: chất thải, chất thải rắn, tái chế chất thải, tái sử dụng chất thải, phế liệu, quản lý rác thải sinh hoạt, thu gom rác thải, vận chuyển rác thải và xử lý rác thải. Văn bản phân loại chất thải theo nguồn gốc phát sinh (sinh hoạt hộ gia đình, công nghiệp, xây dựng, nhà máy xử lý, nông nghiệp, y tế nguy hại). Về mặt tác động môi trường, đề tài phân tích cơ chế phân hủy rác hữu cơ tạo thành nước rò rỉ chứa các chất ô nhiễm như COD, BOD5, N-NH3, TOC, vi sinh vật và kim loại nặng ngấm vào nước ngầm; cơ chế phát sinh khí ô nhiễm và mùi hôi trong điều kiện hiếu khí, kỵ khí (nhiệt độ tối ưu 35°C, độ ẩm 70-80%); nguy cơ suy thoái độ phì của đất và lan truyền các bệnh truyền nhiễm (sốt rét, bệnh ngoài da, thương hàn, tiêu chảy, giun sán).
Về cơ sở pháp lý, nghiên cứu căn cứ vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản chỉ đạo điều hành gồm:
- Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014.
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu.
- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/01/2009 của Chính phủ về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường.
- Thông tư liên tịch số 45/2010/TTLT-BTC-BTNMT ngày 30/3/2010 hướng dẫn quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường.
- Văn bản số 2272/BXD-VP ngày 10/11/2008 của Bộ Xây dựng về công bố định mức, dự toán thu gom, vận chuyển và xử lý chôn lấp rác thải đô thị.
- Nghị quyết số 18/2013/NQ-HĐND ngày 29/7/2013 của HĐND tỉnh Bắc Kạn về mức thu và tỷ lệ trích để lại các loại phí, lệ phí trên địa bàn tỉnh.
- Quyết định số 1383/2011/QĐ-UBND ngày 29/7/2011 của UBND tỉnh Bắc Kạn ban hành quy định phân công, phân cấp quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
- Văn bản số 470/UBND-THKT ngày 27/7/2015 của UBND huyện Bạch Thông về thu gom, vận chuyển và chôn lấp rác thải đô thị khu vực thị trấn Phủ Thông.
Tổng quan thực tiễn của đề tài trích dẫn số liệu cảnh báo năm 2012 của Ngân hàng Thế giới (WB) về phát sinh rác thải đô thị toàn cầu; kinh nghiệm quản lý chất thải rắn của Nhật Bản (37 đạo luật môi trường, phân loại rác thành 3 nhóm tại nguồn, chi phí xử lý khoảng 300.000 Yên/người/năm) và Singapore (thành lập Đơn vị Chống ô nhiễm APU năm 1970, Bộ Môi trường năm 1972, bãi chôn lấp Semakau rộng 350 ha, chiến lược 3R). Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp số liệu rác thải sinh hoạt phát sinh năm 2014 trên toàn quốc (khoảng 23 triệu tấn/năm, tương đương 63.000 tấn/ngày); rác thải nguy hại (800.000 tấn/năm); rác công nghiệp (khoảng 7 triệu tấn/năm). Tại tỉnh Bắc Kạn, báo cáo môi trường ghi nhận lượng rác khu vực nông thôn phát sinh 158 tấn/ngày (định mức 0,5 kg/người/ngày), trong đó huyện Bạch Thông có 80% dân số sống ở nông thôn nhưng tỷ lệ thu gom rác chỉ đạt khoảng 25% với quy trình xử lý thủ công, lạc hậu.
Tác giả sử dụng bốn phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu niên giám thống kê, báo cáo quản lý tài nguyên môi trường, hồ sơ quy hoạch kinh tế - xã hội của huyện Bạch Thông và thị trấn Phủ Thông.
- Phương pháp phỏng vấn: Xây dựng phiếu điều tra và bộ câu hỏi đánh giá nhanh, phát trực tiếp cho 60 hộ gia đình trên địa bàn thị trấn Phủ Thông (không phân biệt nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính, trình độ) nhằm khảo sát nhận thức môi trường, thói quen phân loại, thu gom và phương thức xử lý rác tại hộ.
- Phương pháp khảo sát thực tế: Quan sát hiện trường, kiểm tra các tuyến đường giao thông, chợ, cơ sở y tế, điểm tập kết rác và đánh giá cảm quan môi trường.
- Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Word và Microsoft Excel để lập bảng biểu, xử lý toán học các số liệu điều tra xã hội học và tính toán cân bằng lượng phát sinh rác thải.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của công tác bảo vệ môi trường trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tốc độ đô thị hóa nhanh tại các thị trấn, thị tứ miền núi. Nội dung chương xác định mục đích nghiên cứu, 3 mục tiêu cụ thể, yêu cầu về độ tin cậy của số liệu và tính khả thi của giải pháp, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài đối với công tác quản lý chất thải rắn tại thị trấn Phủ Thông.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này cung cấp hệ thống cơ sở lý luận, hệ thống hóa các định nghĩa chuyên ngành về chất thải và quản lý chất thải rắn; phân loại chất thải rắn theo nguồn phát sinh và bản chất lý hóa học; phân tích cơ chế tác động tiêu cực của chất thải rắn đối với bốn thành phần: môi trường nước, không khí, đất và sức khỏe con người. Tác giả tổng hợp đầy đủ cơ sở pháp lý từ cấp trung ương (luật, nghị định, thông tư) đến địa phương (nghị quyết HĐND, quyết định UBND tỉnh Bắc Kạn, văn bản UBND huyện Bạch Thông). Đồng thời, chương phân tích kinh nghiệm quản lý, xử lý rác thải quốc tế (Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Singapore, các đô thị châu Á) và hiện trạng chất thải rắn tại Việt Nam cũng như trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này xác lập đối tượng nghiên cứu là hiện trạng thu gom, vận chuyển và chôn lấp rác thải tại thị trấn Phủ Thông; phạm vi không gian thuộc thị trấn; thời gian triển khai từ 10/01/2016 đến 10/05/2016. Tác giả cụ thể hóa 4 nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội địa phương.
- Điều tra, đánh giá nguồn phát sinh, thành phần, thực trạng thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải.
- Đánh giá nhận thức cộng đồng về công tác bảo vệ môi trường.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.
Bên cạnh đó, chương mô tả chi tiết 4 phương pháp thực hiện: thu thập kế thừa dữ liệu thứ cấp, phỏng vấn xã hội học với cỡ mẫu 60 hộ gia đình, khảo sát thực tế và thống kê xử lý số liệu trên máy tính.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, gồm các phân tích cụ thể:
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Thị trấn Phủ Thông là trung tâm huyện lỵ Bạch Thông, diện tích 109,02 ha, cách thành phố Bắc Kạn 18 km về phía bắc, nằm tại điểm giao thoa giữa Quốc lộ 3 và Tỉnh lộ 258. Dân số 1.800 người với 4 tổ dân phố (Phố Chính, Phố Đầu Cầu, Phố Ngã Ba, Phố Nà Hái), hơn 500 hộ gia đình, gồm 5 dân tộc (Tày, Nùng, Dao, Kinh, Hoa). Cơ cấu sử dụng đất năm 2014 gồm 35,76 ha đất nông nghiệp; 26,75 ha đất lâm nghiệp; 33,28 ha đất chuyên dùng; 2,44 ha đất khác. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm 2014 là 22,88°C, độ ẩm bình quân 80,92%. Kinh tế duy trì sản lượng lương thực có hạt trên 190 tấn; đàn gia súc gia cầm năm 2015 gồm 40 con trâu bò, 6.500 con gia cầm, 830 con lợn; tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 45 tỷ đồng. Hạ tầng có 1,5 km Quốc lộ 3 (mặt nhựa rộng 11 m), 0,6 km Tỉnh lộ 258 (rộng 5 m), 2,5 km đường liên xã và 10,5 km đường nội thị.
- Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải: Định mức phát sinh rác thải sinh hoạt bình quân là 0,55 kg/người/ngày (theo báo cáo năm 2015 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bạch Thông). Tổng khối lượng rác phát sinh toàn thị trấn là 2.702 kg/ngày (tương đương 2,702 tấn/ngày), trong đó phát sinh từ hộ gia đình là 990 kg/ngày (chiếm 36,6%) và từ các nguồn cơ quan, trường học, bệnh viện, chợ, cơ sở kinh doanh, đường phố là 1.712 kg/ngày (chiếm 63,4%).
- Thực trạng thu gom và vận chuyển: Bố trí 4 điểm tập kết rác trung chuyển tại các cửa ngõ khu phố: đầu Quốc lộ 3 (phố Đầu Cầu), cuối đường vào bệnh viện (phố Nà Hái), cuối Quốc lộ 3 ra khỏi thị trấn (phố Ngã Ba) và cuối Tỉnh lộ 258 (phố Chính). Nhân viên vệ sinh dùng xe đẩy tay chuyên dụng thu gom theo 2 ca trong ngày (sáng từ 5h00 - 7h00, chiều từ 16h00 - 18h00). Xe ép rác chuyên dụng vận chuyển rác từ các điểm tập kết đi xử lý theo tần suất 2 ngày/lần vào khung giờ từ 18h00 - 20h00.
- Dự báo khối lượng rác thải giai đoạn 2015 - 2020: Dựa trên tỷ lệ tăng dân số và chỉ số gia tăng rác thải đô thị loại 4, lượng rác từ hộ dân cần thu gom, vận chuyển, xử lý năm 2015 là 20,79 tấn/tháng và dự báo đến năm 2020 đạt khoảng 40,824 tấn/tháng. Lượng rác từ các nguồn khác (chợ, bệnh viện, bến xe, đường phố, cơ quan) năm 2015 - 2016 là khoảng 46.230 kg/tháng (46,23 tấn/tháng) và dự báo đến năm 2020 lên tới 53,150 tấn/tháng.
- Đánh giá nhận thức cộng đồng (khảo sát 60 phiếu): Tỷ lệ người dân rất quan tâm đến bảo vệ môi trường đạt 56,7% (34/60 người), quan tâm bình thường đạt 40% (24/60 người), không quan tâm chiếm 3,3% (2/60 người). Về hành vi xử lý rác tại hộ, 61,7% (37/60 hộ) cho vào túi rác đặt tại một chỗ để chờ thu gom, 33,3% (20/60 hộ) xử lý bằng phương pháp đốt thủ công, 1,7% (1/60 hộ) đem tái sử dụng, 3,3% (2/60 hộ) không trả lời.
- Tồn tại và đề xuất giải pháp: Quy hoạch bãi rác trung chuyển còn vướng mắc gây ô nhiễm điểm tập kết; bãi chôn lấp chưa vận hành đúng quy trình kỹ thuật hợp vệ sinh; tình trạng vứt rác và đốt rác tùy tiện vẫn diễn ra tại khu vực chợ và ven đường; tần suất xe ép rác 2 ngày/lần gây ứ đọng rác. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp: hoàn thiện quy hoạch hạ tầng xử lý, tăng cường đầu tư trang thiết bị thu gom, đẩy mạnh mô hình xã hội hóa vệ sinh môi trường, và tăng cường tuyên truyền nâng cao ý thức chấp hành pháp luật môi trường của cư dân.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết các phát hiện chính về tải lượng rác phát sinh, hiệu quả hệ thống thu gom hiện hành và kiến nghị UBND huyện Bạch Thông, UBND thị trấn Phủ Thông tiếp tục bố trí ngân sách, hoàn thiện các điểm tập kết rác đạt chuẩn môi trường và duy trì công tác thanh tra, kiểm tra xử phạt vi phạm.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết cơ cấu và khối lượng rác thải phát sinh trên địa bàn thị trấn Phủ Thông thông qua số liệu điều tra thực địa năm 2016. Số liệu tổng hợp phát sinh rác thải giữa các khu phố được tác giả thiết lập chi tiết:
| STT |
Tên phố |
Dân số (người) |
Khối lượng rác hộ dân (kg/ngày) |
Khối lượng rác nguồn khác (kg/ngày) |
Tổng lượng rác phát sinh (kg/ngày) |
Tỷ trọng rác theo phố (%) |
| 1 |
Phố Nà Hái |
445 |
244,75 |
392,00 |
636,75 |
23,57% |
| 2 |
Phố Ngã Ba |
631 |
347,05 |
750,00 |
1.097,05 |
40,60% |
| 3 |
Phố Chính |
390 |
214,50 |
240,00 |
454,50 |
16,82% |
| 4 |
Phố Đầu Cầu |
334 |
183,70 |
330,00 |
513,70 |
19,01% |
| Tổng |
Toàn thị trấn |
1.800 |
990,00 |
1.712,00 |
2.702,00 |
100,00% |
Khối lượng rác từ các nguồn khác (1.712 kg/ngày) được bóc tách từ các nguồn phát thải thực tế trên địa bàn:
- Rác thải y tế và bệnh viện: Bệnh viện huyện Bạch Thông và Trung tâm Y tế đóng trên phố Nà Hái phát sinh 162 kg/ngày (theo Đề án 162 Bảo vệ môi trường).
- Rác chợ: Chợ huyện Phủ Thông đặt tại phố Ngã Ba phát sinh 500 kg/ngày (chủ yếu là bao bì, túi nilon, rác hữu cơ thực phẩm).
- Rác bến xe: Bến xe khách tại phố Đầu Cầu phát sinh 100 kg/ngày.
- Rác đường phố: Rác quét dọc Quốc lộ 3 và Tỉnh lộ 258 phát sinh tổng cộng 150 kg/ngày (phố Nà Hái 30 kg, phố Ngã Ba 50 kg, phố Chính 40 kg, phố Đầu Cầu 30 kg).
- Rác cơ quan, trường học, kinh doanh dịch vụ: Phát sinh 800 kg/ngày, phân bố đồng đều tại 4 khu phố (mỗi phố 200 kg/ngày) từ 29 cơ quan hành chính, 4 trường học, 10 nhà hàng ăn uống, 4 nhà nghỉ và 160 hộ kinh doanh cá thể.
Về mặt vận hành, khóa luận mô tả quy trình quản lý rác thải thực tế của địa phương: thiết lập 4 điểm tập kết trung chuyển tại 4 khu phố; tổ chức quét dọn và thu gom nội bộ bằng xe đẩy tay vào 2 khung giờ cố định (5h - 7h và 16h - 18h); vận chuyển bằng xe ép rác chuyên dụng với tần suất 2 ngày/lần vào khung giờ 18h - 20h. Về mặt nhận thức xã hội, kết quả điều tra 60 hộ dân ghi nhận 56,7% rất quan tâm đến môi trường, nhưng tồn tại thói quen xử lý rác tiêu cực khi có tới 33,3% số hộ thường xuyên tự đốt rác và chỉ 1,7% thực hiện tái sử dụng.
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Phủ Thông. Đây là nguồn thông tin khoa học giúp chính quyền địa phương đánh giá tải lượng rác, nhận diện điểm nghẽn hạ tầng (điểm trung chuyển, tần suất vận chuyển, kỹ thuật chôn lấp) và làm cơ sở hoạch định kế hoạch thu gom, vận chuyển rác thải giai đoạn 2015 - 2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số hạn chế do tác giả tự nhìn nhận và giới hạn khách quan của phạm vi nghiên cứu:
- Năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu của sinh viên còn hạn chế; thời gian thực hiện đề tài ngắn (4 tháng, từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2016).
- Quy mô mẫu khảo sát nhận thức cộng đồng dừng ở mức 60 hộ gia đình, chưa bao phủ toàn diện toàn bộ hơn 500 hộ dân của 4 tổ dân phố.
- Nghiên cứu chưa tiến hành lấy mẫu phân tích thành phần lý học (tỷ lệ phần trăm chất hữu cơ, giấy, nhựa, kim loại, thủy tinh) và tính chất hóa học, sinh học của chất thải rắn tại phòng thí nghiệm.
- Chưa có số liệu quan trắc môi trường chuyên sâu (mẫu nước rỉ rác, mẫu đất, khí thải) tại bãi chôn lấp rác thải tập trung của địa phương để đánh giá mức độ phát tán ô nhiễm thực tế.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ đề tài:
- Mở rộng quy mô điều tra xã hội học với dung lượng mẫu lớn hơn, đại diện cho từng nhóm sinh kế và thành phần dân tộc trên địa bàn.
- Thực hiện lấy mẫu, phân tích thành phần lý hóa học của rác thải theo các mùa trong năm nhằm phục vụ việc lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp (sản xuất phân hữu cơ vi sinh, tái chế hoặc đốt tiêu hủy).
- Nghiên cứu thiết kế quy hoạch chi tiết bãi chôn lấp hợp vệ sinh hoặc mô hình lò đốt rác sinh hoạt quy mô vừa và nhỏ phù hợp với điều kiện ngân sách và địa hình đồi núi của huyện Bạch Thông.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Địa chính môi trường, Quản lý tài nguyên môi trường, Khoa học môi trường: Tham khảo phương pháp tiếp cận điều tra thực địa, thiết kế bảng câu hỏi đánh giá nhanh nhận thức cộng đồng và cách thức tính toán cân bằng tải lượng rác phát sinh từ nhiều nguồn thải tại đô thị miền núi.
- Cán bộ quản lý môi trường cấp xã, phường, thị trấn và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện: Sử dụng làm tài liệu tham khảo thực tế về mô hình phân bổ điểm tập kết rác trung chuyển, định mức phát sinh rác theo đầu người (0,55 kg/người/ngày) và phương án tổ chức nhân lực thu gom bằng xe đẩy kết hợp xe cơ giới chuyên dụng.
Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất là hệ thống bảng tính chi tiết lượng rác phát sinh theo nguồn thải tại Bảng 4.3, Bảng 4.4, Bảng 4.5 và các số liệu dự báo lượng rác giai đoạn 2015 - 2020 tại Bảng 4.6, Bảng 4.7 của khóa luận.
Câu hỏi thường gặp
1. Định mức phát sinh rác thải sinh hoạt bình quân đầu người tại thị trấn Phủ Thông được xác định là bao nhiêu và tổng lượng rác phát sinh mỗi ngày là bao nhiêu?
Theo số liệu điều tra và Báo cáo công tác quản lý môi trường năm 2015 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bạch Thông, lượng rác thải sinh hoạt bình quân của người dân thị trấn là 0,55 kg/người/ngày. Tổng lượng rác thải phát sinh trên toàn thị trấn từ tất cả các nguồn là 2.702 kg/ngày (trong đó rác sinh hoạt từ 1.800 người dân thuộc 4 tổ dân phố là 990 kg/ngày, rác từ các cơ quan, trường học, bệnh viện, chợ, bến xe, đường phố là 1.712 kg/ngày).
2. Khu phố nào có lượng rác thải phát sinh lớn nhất và nguyên nhân do đâu?
Phố Ngã Ba có lượng rác thải phát sinh lớn nhất toàn thị trấn với 1.097,05 kg/ngày (chiếm 40,6% tổng lượng rác). Nguyên nhân do phố Ngã Ba tập trung dân số đông nhất (631 người, phát sinh 347,05 kg rác sinh hoạt/ngày), là nơi đặt trụ sở các cơ quan hành chính huyện và thị trấn (200 kg rác/ngày), có chợ huyện Phủ Thông phát sinh lượng rác lớn nhất địa bàn (500 kg rác/ngày) và có tuyến Quốc lộ 3 chạy qua phát sinh 50 kg rác đường phố/ngày.
3. Quy trình và lịch trình thu gom, vận chuyển rác thải tại thị trấn Phủ Thông được tổ chức như thế nào?
Địa phương bố trí 4 điểm tập kết rác tại 4 khu phố: đầu Quốc lộ 3 vào thị trấn (phố Đầu Cầu), cuối đường vào bệnh viện (phố Nà Hái), cuối Quốc lộ 3 ra khỏi thị trấn (phố Ngã Ba) và cuối Tỉnh lộ 258 (phố Chính). Nhân viên thu gom dùng chổi, cào, xe đẩy chuyên dụng quét dọn rác đường phố và cơ quan gom về các điểm tập kết theo 2 ca: sáng từ 5h00 - 7h00, chiều từ 16h00 - 18h00. Sau đó, xe ép rác chuyên dụng đến các điểm tập kết chở rác đi xử lý với tần suất 2 ngày/lần trong khoảng thời gian từ 18h00 - 20h00.
4. Khảo sát 60 hộ gia đình cho thấy nhận thức và phương thức xử lý rác tại hộ như thế nào?
Khảo sát ghi nhận 56,7% số người được hỏi (34/60 người) rất quan tâm đến bảo vệ môi trường, 40% (24/60 người) quan tâm bình thường và 3,3% (2/60 người) không quan tâm. Về hành vi xử lý, 61,7% số hộ (37/60 hộ) thu gom vào túi rác đặt tại một chỗ chờ vận chuyển; 33,3% số hộ (20/60 hộ) tự đem đi đốt; 1,7% số hộ (1/60 hộ) đem tái sử dụng và 3,3% số hộ (2/60 hộ) không có câu trả lời.
5. Khối lượng rác thải sinh hoạt từ hộ dân tại thị trấn Phủ Thông được dự báo tăng trưởng ra sao trong giai đoạn 2015 - 2020?
Theo Bảng 4.6 của khóa luận, khối lượng thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt tại các hộ dân thị trấn Phủ Thông năm 2015 cần thực hiện khoảng 20,79 tấn/tháng. Đến năm 2020, khối lượng này được dự báo tăng lên mức khoảng 40,824 tấn/tháng theo tốc độ gia tăng dân số và chỉ số phát thải.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Hà Minh Hoàng đã phản ánh toàn diện bức tranh thực trạng phát sinh, thu gom và xử lý chất thải rắn tại thị trấn Phủ Thông, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn vào năm 2016. Bằng phương pháp điều tra thực địa, thống kê thứ cấp và phỏng vấn 60 hộ dân, công trình đã xác lập được định mức phát sinh rác 0,55 kg/người/ngày cùng tổng tải lượng rác 2.702 kg/ngày phân bổ theo từng khu phố và nguồn thải. Đề tài chỉ rõ những bất cập về hạ tầng tập kết rác trung chuyển, tần suất vận chuyển cơ giới và tỷ lệ tự đốt rác còn cao trong nhân dân (33,3%), qua đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật và xã hội hóa quản lý môi trường phù hợp với điều kiện một thị trấn miền núi. Đây là công trình nghiên cứu ứng dụng có giá trị dữ liệu thực chứng cho công tác quản lý tài nguyên và môi trường ở cấp cơ sở.