MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nƣớc đang trên đà phát triển, quá trình hội nhập đã đạt đƣợc những thành tựu to lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Song song với thành tựu này, chúng ta phải đối mặt với những thách thức liên quan tới vấn đề môi trƣờng. “Nước ta là một nước nông nghiệp với 75% dân số và nguồn lực lao động xã hội đang sinh sống và làm việc ở khu vực nông thôn, với hơn 3 triệu hộ nông dân, lực lượng sản xuất này chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội.
Theo số liệu thống kê (2003-2005), nông thôn tạo ra khoảng 1/3 tổng sản phẩm quốc dân. Tỷ trọng công nghiệp mới chiếm 13,8%, dịch vụ 14,7%, nông nghiệp 71,45% trong tổng giá trị sản xuất. Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu thu nhập của nông dân giữa thành thị và nông thôn là 2 lần và có khả năng tăng lên. Hơn 90% số hộ nghèo tập trung ở vùng nông thôn” (Nguyễn Ngọc Nông, 2006) [11].
Nông thôn ngày xƣa rất trong lành, ngày nay nôn thôn đang chịu tác động sâu sắc của sợ bùng nổ dân số, quá trình đô thị hóa và quá trình phát triển hƣớng tói một xã hội công nghiệp đang diễn ra ở nƣớc ta. Nhiều tác động đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ làm thay đổi phong tục tập quán, cách nghĩ của ngƣời dân nông thôn, cũng nhƣ môi trƣờng sống của họ theo cả chiều tốt và chiều xấu. Do đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội vì vậy các vùng nông thôn Việt Nam có nét đặc thù riêng và chất lƣợng môi trƣờng có sự biến đổi khác nhau. Nông thôn xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tƣờng, tỉnh Vĩnh Phúc không nằm ngoài quy luật đó.
Môi trƣờng nông thôn xã Vĩnh Thịnh đang dần thay đổi do tập quán sinh hoạt và sản xuất còn nghèo nàn, lạc hậu, việc thay đổi trong thâm canh nông nghiệp, mở rộng diện tích canh tác, tăng sự dụng thuốc bảo vệ thực vật, các hoạt động trong các cơ sở chăn nuôi, các cơ sở sản xuất thủ công nhỏ, lẻ đã tác n 2 động đến môi trƣờng làm cho môi trƣờng vùng nông thôn mất đi sự trong lành vốn có và ngày càng bị ô nhiễm nặng hơn. Ý thức của ngƣời dân và tình trạng vệ sinh môi trƣờng kém là nguyên nhân chủ yếu gây ra những hậu quả nặng nề với môi trƣờng, sức khỏe và ảnh hƣởng rất lớn tới đời sống của con ngƣời. Nhằm góp phần cải thiện đời sống, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trƣờng cho ngƣời dân nông thôn thì việc đề xuất các giải pháp cải thiện điều kiện vệ sinh môi trƣờng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của ngƣời dân là điều cần thiết phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và môi trƣờng bền vững. Xuất phát từ vấn đề đó, đƣợc sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trƣờng, Ban chủ nhiệm khoa Môi trƣờng - trƣờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dƣới sự hƣớng dẫn trực tiếp của Th.S Hoàng Thị Lan Anh, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc”.
Mục đích của đề tài + Đánh giá hiện trạng môi trƣờng nông thôn tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tƣờng, tỉnh Vĩnh Phúc. + Nâng cao sự hiểu biết của ngƣời dân về vấn đề môi trƣờng. + Đề xuất các giải pháp bảo vệ và quản lý môi trƣờng tại địa phƣơng. Yêu cầu của đề tài + Phỏng vấn đại diện các tầng lớp, các lứa tuổi làm việc ở các ngành nghề khác nhau.
+ Thu thập các thông tin, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại xã Vĩnh Thịnh. + Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực. + Tiến hành điều tra theo bộ câu hỏi, bộ câu hỏi phải dễ hiểu đầy đủ các thông tin cần thiết cho việc đánh giá. + Các kiến nghị đƣợc đƣa ra phải phù hợp với tình hình địa phƣơng và có tính khả thi cao.
Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học + Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. + Vận dụng và phát huy đƣợc các kiến thức đã học tập và nghiên cứu. - Ý nghĩa trong thực tiễn + Kết quả của chuyên đề sẽ góp phần nâng cao đƣợc sự quan tâm của ngƣời dân về việc bảo vệ môi trƣờng. + Làm căn cứ để cơ quan chức năng tăng cƣờng công tác tuyên truyền giáo dục nhận thức của ngƣời dân về môi trƣờng.
+ Xác định hiện trạng môi trƣờng nông thôn tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tƣờng, tỉnh Vĩnh Phúc. + Đƣa ra các giải pháp bảo vệ môi trƣờng cho khu vực nông thôn thuộc tỉnh Vĩnh Phúc nói chung. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Cơ sở lý luận *Khái niệm về môi trường Môi trƣờng là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh, có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật. Theo UNESCO, môi trƣờng đƣợc hiểu là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của con người”. Theo Luật bảo vệ môi trƣờng của Việt Nam năm 2005 chƣơng 1, điều 3 khoản 1 xác định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”. * Thành phần môi trƣờng “là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác ” (theo khoản 2, điều 3, Luật BVMT năm 2005) [10].
* Hoạt động bảo vệ môi trƣờng “là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khai thác sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học ” (theo khoản 3, điều 3, Luật BVMT 2005) [10]. * Chức năng của môi trường 1. Môi trƣờng là không gian sống của con ngƣời và các loài sinh vật. Môi trƣờng là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con ngƣời.
Môi trƣờng là nơi chứa đựng phế thải do con ngƣời tạo ra trong hoạt động sống và hoạt động sản xuất. Chức năng giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con ngƣời và sinh vật trên Trái Đất. Chức năng lƣu trữ và cung cấp thông tin cho con ngƣời. * Sức chịu tải của môi trƣờng là giới hạn cho phép mà môi trƣờng có thể tiếp nhận và hấp thụ các chất gây ô nhiễm (khoản 14, điều 3, Luật BVMT 2005) [10].
* Ô nhiễm môi trường là gì? “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phẩn môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu tới con người, sinh vật ” (Khoản 6, điều 3, luật BVMT 2005) [10]. Ô nhiễm môi trƣờng đƣợc hiểu là sự có mặt của các chất hoặc năng lƣợng với khối lƣợng lớn trong môi trƣờng mà môi trƣờng khó chấp nhận (Từ điển OXFORD). Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì “Ô nhiễm môi trường là sự đưa vào môi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đến mức ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy thoái chất lượng môi trường ”. - Ô nhiễm môi trƣờng không khí “là hiện tượng làm cho không khí sạch thay đổi thành phần và tính chất dưới bất kỳ hình thức nào, có nguy cơ gây tác hại tới thực vật và động vật, gây hại đến sức khỏe con người và môi trường xung quanh.
Khí quyển có khả năng tự làm sạch để duy trì sự cân bằng giữa các quá trình. Những hoạt động của con người vượt quá khả năng tự làm sạch, có sự thay đổi bất lợi trong môi trường không khí thì được xem là ô nhiễm môi trường không khí ”(Nguyễn Thanh Hải, 2014)[4]. - Ô nhiễm môi trƣờng nƣớc là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của nƣớc, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nƣớc trở nên độc hại với con ngƣời và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nƣớc.
- Ô nhiễm môi trường đất Là sự biến đổi thành phần, tính chất của đất gây ra bởi những tập quán phản vệ sinh của các hoạt động sản xuất nông nghiệp và những phƣơng thức canh tác khác n 6 nhau và do thải bỏ không hợp lý các chất cặn bã đặc và lỏng vào đất. Ngoài ra ô nhiễm đất còn do sự lắng đọng của các chất gây ô nhiễm không khí lắng xuống đất. - Ô nhiễm tiếng ồn Tiếng ồn là âm thanh không mong muốn hay âm thanh đƣợc phát ra không đúng lúc, đúng chỗ. Tiếng ồn là tổng hợp của nhiều thành phần khác nhau đƣợc tổng hợp trong sự cân bằng biến động.
Mỗi thành phần có vai trò riêng trong việc gây ồn. Nó khác nhau với những ngƣời khác nhau, ở những chỗ khác nhau và trong thời điểm không giống nhau. - Ô nhiễm tiếng ồn Nhƣ một âm thanh không mong muốn bao hàm sự bất lợi làm ảnh hƣởng đến con ngƣời và môi trƣờng sống của con ngƣời bao gồm đất đai, công trình xây dựng và động vật nuôi ở trong nhà Nguyễn Thanh Hải, 2014)[4]. * Suy thoái môi trường - Theo khoản 7, điều 3, luật BVMT 2005: “Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường gây ảnh hưởng xấu tới con người và sinh vật ” [10].
- Ngoài ra suy thoái môi trƣờng là sự suy giảm khả năng đáp ứng các chức năng của môi trƣờng: Mất nơi cƣ trú an toàn, cạn kệt tài nguyên, xả thải quá mức, ô nhiễm.