chương 1, điều 3, khoản 1 xác định: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất 4 nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên * Chức năng của môi trường[5]: - Môi trường là không gian sinh sống của con người và các loài sinh vật. - Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người. - Môi trường là nơi chưa đựng phế thải do con người tạo ra trong hoạt động sống và hoạt động sản xuất. - Chức năng giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất.
- Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. * Môi trường nông thôn - Nông thôn là vùng đất đai rộng lớn với cộng đồng dân cư chủ yếu làm nông nghiệp (Nông, lâm, ngư nghiệp), có mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, có trình độ văn hóa, khoa học kĩ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa thấp và thu nhập mức sống của người dân nông thôn thấp hơn đô thị[1]. - Môi trường nông thôn thực chất là liên quan đến các khía cạnh sinh thái nông nghiệp và phát triển nông thôn. Liên quan đến khía cạnh sinh thái nông nghiệp hoặc hoạt động sản xuất nông nghiệp là các vấn đề: Các điều kiện sinh thái đồng ruộng, khả năng cấp nước, nguồn gen trong nông nghiệp, điều kiện canh tác, sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu.
Còn liên quan đến khía cạnh phát triển nông thôn là các vấn đề: Chất lượng cuộc sống nông dân, dân trí và giáo dục, vệ sinh nông thôn, bệnh dịch, cơ sở hạ tầng và các vấn đề xã hội khác. Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường 2005 thì: Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. + Ô nhiễm môi trường nước Theo khoản 14 điều 2 Luật Tài nguyên nước năm 2012: Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học của nước không phù 5 hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. + Ô nhiễm môi trường đất Ô nhiễm đất là sự biến đổi thành phần, tính chất của đất gây ra bởi những tập quán phản vệ sinh của các hoạt động sản xuất nông nghiệp và những phương thức canh tác khác nhau và do thải bỏ không hợp lý các chất cặn bã đặc vào lòng đất.
Ngoài ra ô nhiễm đất còn do sự lắng đọng của các chất gây ô nhiễm không khí lắng xuống đất [13]. Đất bị suy thoái là những loại đất do những nguyên nhân tác động nhất định theo thời gian đã và đang mất đi những đặc tính và tính chất vốn có ban đầu trở thành các loại đất mang đặc tính và tính chất không có lợi cho sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng nông lâm nghiệp[13]. + Ô nhiễm môi trường không khí Theo TCVN 5966 - 1995, sự ô nhiễm không khí được định nghĩa là:"Sự có mặt của các chất trong khí quyển, sinh ra từ hoạt động của con người hoặc từ các quá trình tự nhiên và nếu nồng độ đủ lớn, thời gian đủ lâu chúng sẽ ảnh hưởng đến sự thoải mái, dễ chịu, sức khỏe và lợi ích của con người và môi trường". + Ô nhiễm tiếng ồn Tiếng ồn là âm thanh không mong muốn hay âm thanh được phát ra không đúng lúc, đúng chỗ.
Tiếng ồn là tổng hợp của nhiều thành phần khác nhau được tổng hợp trong sự cân bằng biến động. Mỗi thành phần có vai trò riêng trong việc gây tiếng ồn, nó khác nhau với những người khác nhau, ở những chỗ khác nhau và trong thời điểm không giống nhau [13]. Ô nhiễm tiếng ồn như một âm thanh không mong muốn bao hàm sự bất lợi làm ảnh hưởng đến con người và môi trường sống của con người bao gồm đất đai, công trình xây dựng và động vật nuôi trong nhà [13]. 6 Theo khoản 7 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường thì: Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng thành phần môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
Tiêu chuẩn môi trường: Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo vệ Môi Trường Việt Nam 2005: Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường. Các khái niệm chất thải rắn [8]: Chất thải rắn là toàn bộ các loại tạp chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình ( bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và sự duy trì tồn tại của cộng đồng). - Chất thải rắn sinh hoạt: Chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng. - Thu gom chất thải rắn: Là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói, lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận.
- Lưu giữ chất thải rắn: Là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi cơ quan có thẩm quyền chấp nhận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý. - Vận chuyển chất thải rắn: Là quá trình chuyên trở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu trữ trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng. - Xử lý chất thải rắn: Là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích. - Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: Là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh.
Cơ sở pháp lý 7 - Căn cứ luật bảo vệ môi trường 2005 được quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 11 kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006. - Căn cứ Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XIII kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012. - Căn cứ vào Nghị định số 80/2006 NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hưỡng dẫn thi hành một số điều Luật Bảo Vệ Môi Trường. - Nghị định số 59/2007 NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn.
Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT ngày 11/3/2005 của Bộ trưởng Bộ Y Tế về việc ban hành tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu. - Căn cứ Quyết định số 17/2001/QĐ-BXD ngày 07/08/2001 của Bộ Xây Dựng định mức dự toán chuyên ngành vệ sinh môi trường - công tác thu gom vận chuyển, xử lý rác. - Quyết định số 22/2006 QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường về việc áp dụng TCVN về môi trường. - Quy định số 367-BVTV/QĐ về sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật sử dụng ở Việt Nam do cục bảo vệ thực vật ban hành.
- Chỉ thị số 36/2008/CT - BNN ngày 20/02/2008 của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn về tăng cường các hoạt động bảo vệ môi trường trong Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn. - Căn cứ vào QCVN 01:2009/BYT quy chuẩn ký thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống. - QCVN 02:2009/BYT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt - QCVN 05:2009/BYT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh. - QCVN 26:2010/BYT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn 8 - QCVN 01:2011/BYT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu - Điều kiện đảm bảo hợp vệ sinh.
- Căn cứ vào TCVN 5966 - 1995 Chất lượng không khí - Những vấn đề chung - Thuật ngữ. - Căn cứ vào QCVN 06:2009/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh. - Căn cứ vào TCVN 5502 - 2003 cấp nước sinh hoạt - yêu cầu chất lượng. - Căn cứ vào QCVN 09:2015/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm.
- Căn cứ TCVN 5996 - 1995, Chất lượng nước - Lấy mẫu - Hưỡng dẫn lấy mẫu ở sông suối. - Căn cứ TCVN 6000 - 1995, Chất lượng nước - Lấy mẫu - Hưỡng dẫn lấy mẫu nước ngầm. + QCVN 08:2015/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng nước mặt. - Căn cứ vào QCVN 14:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt.
- Căn cứ vào QCVN 15:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dư lượng hóa chất bảo vệ hóa chất thực vật trong đất. + QCVN 05:2013/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia chất lượng không khí xung quanh. Một số đặc điểm nghiên cứu về diễn biến môi trường trên Thế Giới và Việt Nam 2. Một số đặc điểm nghiên cứu về diễn biến môi trường trên thế giới.
Ô nhiễm môi trường không chỉ là vấn đề nan giải của Việt Nam mà còn là vấn đề chung của thế giới. Hằng năm trên thế giới phải chịu nhiều thiệt hại về người và tài chính do ô nhiễm môi trường gây nên. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của người dân về môi trường chưa cao cùng với sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế xã hội. Ô nhiễm môi trường không chỉ xảy ra ở thành thị mà còn ở những vùng nông thôn.
Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở thành thị chủ yếu là do lượng chất thải phát sinh 9 lớn nên không xử lý kịp hoặc chưa có biện pháp xử lý. Còn ở nông thôn thì chất thải không được thu gom mà còn vứt bừa bãi gây mất vệ sinh chung và vấn đề sử dụng phân bón, thuốc BVTV cũng gây ảnh hưởng rất lớn. Theo Lê Thạc Cán (1995) [3], Trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, tình hình môi trường trên thế giới hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm các nhân tố về chất lượng môi trường và tài nguyên thiên nhiên có những đặc điểm sau: - Tăng trưởng dân số nhanh Dân số trên thế giới đã lên tới 6,7 tỉ người, trên thế giới bình quân mỗi giây có 3 trẻ em ra đời, mỗi ngày nhân loại sản sinh ra 30 vạn trẻ em.