Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp với khoảng 75% dân số và lực lượng lao động xã hội sinh sống, làm việc tại khu vực nông thôn, phân bổ trong hơn 3 triệu hộ nông dân. Theo các số liệu thống kê giai đoạn 1998 - 2000 được tác giả viện dẫn, khu vực nông thôn tạo ra 1/3 tổng sản phẩm quốc dân, trong đó nông nghiệp chiếm 71,45%, công nghiệp chiếm 13,8% và dịch vụ chiếm 14,7% tổng giá trị sản xuất. Tuy nhiên, hơn 90% số hộ nghèo của cả nước lại tập trung tại khu vực nông thôn, và mức chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn là khoảng 2 lần. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, môi trường nông thôn đang phải chịu nhiều sức ép lớn từ sự gia tăng dân số, sự thay đổi tập quán sinh hoạt, quá trình thâm canh nông nghiệp, mở rộng diện tích canh tác, gia tăng sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và chất thải từ các cơ sở chăn nuôi, sản xuất thủ công quy mô nhỏ lẻ.

Xã Lăng Can là trung tâm hành chính của huyện Lâm Bình – một huyện miền núi mới được thành lập của tỉnh Tuyên Quang. Quá trình đô thị hóa và xây dựng cơ sở hạ tầng trung tâm huyện đang diễn ra nhanh chóng, song tập quán sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương vẫn còn mang nhiều yếu tố lạc hậu. Ý thức bảo vệ môi trường và điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, đất đai và không khí cục bộ, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và mục tiêu phát triển bền vững của địa phương.

Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận xác định các mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu cụ thể:

Mục tiêu đề tài:

  1. Đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Lăng Can, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang (bao gồm môi trường nước, đất, không khí, chất thải rắn, vệ sinh môi trường và nhận thức của người dân).
  2. Đề xuất các nhóm giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội tại địa phương.

Yêu cầu của đề tài:

  1. Phản ánh đúng hiện trạng môi trường thực tế tại địa phương nghiên cứu.
  2. Đảm bảo việc thu thập số liệu phải trung thực, khách quan và chính xác.
  3. Các giải pháp đề xuất phải có tính khả thi, ý nghĩa thực tiễn và phù hợp với điều kiện cụ thể của xã Lăng Can.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các thành phần và vấn đề môi trường nông thôn tại địa bàn nghiên cứu, bao gồm: hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt, chất lượng nước mặt và nước ngầm, hệ thống thoát nước thải, công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt và chăn nuôi, hiện trạng môi trường không khí, đất canh tác, điều kiện vệ sinh môi trường, tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và nhận thức bảo vệ môi trường của cộng đồng.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Lăng Can, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, triển khai điều tra tại 10 thôn bản: Nà Khà, Bản Khiển, Nà Mèn, Bản Kè, Phai Tre, Nặm Đíp, Nặm Chá, Đon Bả, Làng Chùa, Khau Quang.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình nghiên cứu và thu thập số liệu thực địa được tiến hành từ ngày 20 tháng 01 năm 2018 đến ngày 28 tháng 04 năm 2018; công tác lấy mẫu và phân tích phòng thí nghiệm được thực hiện bổ sung vào ngày 13 tháng 05 năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nội dung dựa trên khung lý luận khoa học môi trường, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia chuyên ngành:

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:

  • Khái niệm môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và tiêu chuẩn môi trường theo quy định của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 (khoản 1, khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 3).
  • Khái niệm ô nhiễm nguồn nước theo khoản 14 Điều 2 Luật Tài nguyên nước năm 2012.
  • Khái niệm ô nhiễm không khí theo tiêu chuẩn TCVN 5966-1995.
  • Khái niệm ô nhiễm môi trường đất, đất suy thoái và ô nhiễm tiếng ồn theo các tài liệu chuyên ngành khoa học đất và môi trường.
  • Khái niệm chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt và các công đoạn quản lý chất thải (thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý, chôn lấp hợp vệ sinh).

Cơ sở pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật đối chiếu:

  • Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005; Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13.
  • Nghị định số 80/2006/NĐ-CP; Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn.
  • Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT; Quyết định số 17/2001/QĐ-BXD; Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT.
  • Quy định số 367-BVTV/QĐ; Chỉ thị số 36/2008/CT-BNN về bảo vệ môi trường nông nghiệp.
  • Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn: QCVN 08:2015/BTNMT (chất lượng nước mặt), QCVN 09:2015/BTNMT (chất lượng nước ngầm), QCVN 14:2008/BTNMT (nước thải sinh hoạt), QCVN 05:2013/BTNMT (chất lượng không khí xung quanh), QCVN 15:2008/BTNMT (dư lượng hóa chất BVTV trong đất), QCVN 01:2011/BYT (nhà tiêu hợp vệ sinh), TCVN 5502-2003, TCVN 5996-1995, TCVN 6000-1995.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Kế thừa các báo cáo tổng kết tình hình phát triển kinh tế - xã hội, báo cáo quản lý đất đai của UBND xã Lăng Can, tài liệu lưu trữ từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lâm Bình, các kết quả điều tra môi trường đã công bố trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn bán cấu trúc gồm 2 phần (thông tin người được phỏng vấn và hiện trạng môi trường - vệ sinh địa phương). Quy mô mẫu điều tra gồm 100 hộ gia đình được lựa chọn ngẫu nhiên phân bổ tại 10 thôn của xã Lăng Can.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát trực tiếp đặc điểm địa hình, dòng chảy, các điểm xả thải, hiện trạng chuồng trại chăn nuôi, các bãi rác tự phát, hệ thống cống rãnh thoát nước trên địa bàn xã.
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích phòng thí nghiệm:
    • Mẫu nước mặt (01 mẫu): Ký hiệu Mẫu 1, lấy tại điểm suối bắt đầu chảy vào địa phận xã Lăng Can ngày 13/05/2018 theo TCVN 5966-1995 (ISO 5667-6:1990).
    • Mẫu nước ngầm (01 mẫu): Ký hiệu Mẫu 2, lấy tại giếng đào nhà ông Nguyễn Thế Tiến, thôn Bản Kè B ngày 13/05/2018 theo TCVN 6000-1995 (ISO 5667-11:1992).
    • Phương pháp phân tích chỉ tiêu: pH (máy đo pH), TSS (máy đo độ đục), COD (chuẩn độ Kalipemanganat), BOD5 (phương pháp chai đo BOD OxiTop), Độ cứng (chuẩn độ Complexon III), Fe (quang phổ hấp thụ Phenanthroline), Zn (trắc quang với thuốc thử Dithizon).
  • Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Dữ liệu điều tra và kết quả đo đạc được xử lý, lập bảng thống kê và vẽ biểu đồ phân bố bằng Microsoft Excel và Microsoft Word.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh nông thôn hóa và đô thị hóa tại vùng cao; xác định mục tiêu đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Lăng Can, làm rõ các yêu cầu về tính trung thực, tính thực tiễn và ý nghĩa khoa học phục vụ quản lý môi trường tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về môi trường nông thôn, chức năng môi trường và các dạng ô nhiễm thành phần (nước, đất, không khí, chất thải rắn). Tổng thuật các vấn đề môi trường nông thôn trên phạm vi toàn cầu (sa mạc hóa, gia tăng phân bón hóa học, mất rừng, mất cân đối đô thị - nông thôn) và tại Việt Nam (ô nhiễm làng nghề, tồn dư thuốc BVTV với 300 tấn thuốc tồn đọng chứa POPs, tỷ lệ cấp nước sạch nông thôn miền núi phía Bắc chỉ đạt 15%). Tổng quan bối cảnh môi trường tỉnh Tuyên Quang với các điểm nóng công nghiệp như nhà máy xi măng Tràng Đà, Tân Long, ô nhiễm sông Lô do nước thải nhà máy giấy, nhà máy đường, và hiện tượng ô nhiễm kim loại nặng sắt, asen tại khu mỏ Antimon thôn Thâm Luông, xã Phú Bình, huyện Chiêm Hóa.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là các yếu tố môi trường nông thôn xã Lăng Can; thời gian thực hiện từ 20/01/2018 đến 28/04/2018; quy định phương pháp lấy mẫu 02 vị trí nước mặt và nước giếng ngầm, áp dụng quy trình phân tích tiêu chuẩn phòng thí nghiệm đối chiếu với QCVN 08:2015/BTNMT và QCVN 09:2015/BTNMT; quy trình khảo sát bảng hỏi 100 hộ dân ngẫu nhiên tại 10 thôn bản.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung trình bày dữ liệu khảo sát và phân tích toàn diện hiện trạng môi trường xã Lăng Can qua các khía cạnh:

  1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội:

    • Tự nhiên: Tổng diện tích tự nhiên 7.333,41 ha. Trong đó nhóm đất nông nghiệp chiếm 7.004,19 ha (đất sản xuất nông nghiệp 487,19 ha; đất lâm nghiệp 6.503,28 ha gồm 2.553,46 ha rừng sản xuất và 3.949,82 ha rừng phòng hộ; đất nuôi trồng thủy sản 13,73 ha); nhóm đất phi nông nghiệp chiếm 315,04 ha (đất ở 50,43 ha; đất chuyên dùng 173,65 ha). Khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa tập trung 75-80% vào mùa mưa (tháng 4 - tháng 9), nhiệt độ trung bình 23,4°C, lượng mưa trung bình 1.200 mm/năm.
    • Kinh tế: Sản xuất trồng trọt năm 2017 gồm cây lúa (533,4 ha, năng suất bình quân 60,1 tạ/ha, sản lượng 3.205,7 tấn), cây ngô (177 ha, năng suất 40,4 tạ/ha), cây lạc (20 ha, năng suất 21,4 tạ/ha). Chăn nuôi gồm 1.267 con trâu, 183 con bò, 2.763 con lợn, 513 con dê và 19.586 con gia cầm.
    • Xã hội: Tỷ lệ hộ nghèo năm 2017 giảm 7,16% (từ 39,31% xuống còn 32,15%), số hộ cận nghèo còn 265 hộ. Hoàn thành cấp phát 1.955 thẻ BHYT cho hộ nghèo, 690 thẻ cho người dân tộc thiểu số và 696 thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi.
  2. Hiện trạng sử dụng và chất lượng nguồn nước:

    • Nguồn nước sinh hoạt: Trong 100 hộ khảo sát, có 61 hộ sử dụng nguồn nước tự chảy từ khe núi (nước mỏ), 22 hộ sử dụng nước giếng khoan, 17 hộ dùng nước giếng đào và 0 hộ có nước máy. Nước khe núi được người dân đánh giá trong, không màu, không mùi. Một số giếng đào gần khu vực chuồng trại, nhà tiêu có nguy cơ bị ngấm nước bẩn trong mùa mưa.
    • Chất lượng nước thực tế: Kết quả phân tích mẫu nước suối mặt và nước giếng đào đều đạt giới hạn cho phép theo quy chuẩn quốc gia.
  3. Hiện trạng thoát nước và môi trường không khí:

    • Thoát nước thải: 46% số hộ không có cống thoát nước, 30% hộ sử dụng cống lộ thiên và 24% hộ có cống ngầm. Nước thải sinh hoạt và chăn nuôi phần lớn xả trực tiếp ra ao, mương, suối và lề đường gây hiện tượng nước tù đọng có màu đen hoặc xanh rêu.
    • Môi trường không khí: Chưa chịu tác động bởi khí thải công nghiệp lớn, tuy nhiên chịu ô nhiễm mùi hôi cục bộ từ chuồng trại chăn nuôi chưa hợp vệ sinh, rác thải hữu cơ tự phân hủy và nồng độ bụi gia tăng dọc các tuyến đường trục chính do hoạt động vận chuyển đất đá xây dựng trung tâm huyện mới.
  4. Hiện trạng đất canh tác và hóa chất bảo vệ thực vật:

    • 73% hộ áp dụng hình thức thâm canh, 27% hộ quảng canh, không có hiện tượng du canh du cư.
    • 81% số hộ nhận thấy độ phì nhiêu và độ xốp của đất bị suy giảm qua các năm canh tác nhưng ít chú trọng các biện pháp bồi hoàn, cải tạo đất.
    • Tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật diễn ra phổ biến; vỏ bao bì, chai lọ thuốc bằng nilon, nhựa, thủy tinh thường bị vứt bỏ trực tiếp ngay tại bờ ruộng, kênh mương sau khi pha chế.
  5. Hiện trạng quản lý chất thải rắn và công tác vệ sinh môi trường:

    • Khối lượng phát sinh rác sinh hoạt ước tính dưới 1 kg/hộ/ngày. Về thu gom: 49% hộ đổ rác tùy tiện (ven đường, bờ bụi, bờ suối), 21% hộ có dịch vụ thu gom tập trung (chủ yếu khu vực trung tâm xã), 15% hộ tự đào hố rác riêng và 15% hộ đổ ra bãi rác tự phát.
    • Về xử lý rác sinh hoạt: 35% không thu gom và không xử lý, 27% đốt thủ công, 22% thu gom theo dịch vụ, 13% thu gom nhưng không xử lý, 3% ủ làm phân bón.
    • Chất thải chăn nuôi: 53% hộ ủ làm phân bón, 30% thu gom không xử lý. Phế phẩm trồng trọt: 36% ủ phân bón, 29% đốt lấy tro, 24% gom không xử lý, 11% không thu gom không xử lý.
    • Nhà tiêu hộ gia đình: 70% hộ sử dụng nhà tiêu tự hoại, 26% sử dụng hố xí hai ngăn, 4% sử dụng hố xí đất, không có hộ sử dụng cầu tõm.
  6. Giải pháp bảo vệ môi trường đề xuất:

    • Đưa ra 6 nhóm giải pháp: tuyên truyền giáo dục cộng đồng, kiện toàn công tác quản lý nhà nước cấp xã, huy động nguồn lực xã hội hóa, cơ chế tài chính môi trường, các giải pháp kỹ thuật kiểm soát chất thải/nước thải và bảo vệ tài nguyên rừng, đất nông nghiệp.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp các kết luận chính về chất lượng các thành phần môi trường và đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với UBND tỉnh Tuyên Quang, UBND huyện Lâm Bình, Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng chính quyền xã Lăng Can nhằm tăng cường đầu tư hạ tầng thu gom rác thải, cống rãnh thoát nước và bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật tại đồng ruộng.


Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng từ dữ liệu thực nghiệm và điều tra

Dữ liệu phân tích hóa lý mẫu nước suối mặt (bắt đầu chảy vào xã) và mẫu nước giếng đào (thôn Bản Kè B) tại thời điểm khảo sát tháng 5/2018 cho thấy các chỉ tiêu đều nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép:

Thành phần nước Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Kết quả phân tích Giới hạn quy chuẩn kỹ thuật
Nước mặt (Nước suối) pH - 6,82 5,5 - 9 (QCVN 08:2015/BTNMT cột B1)
COD mg/l 3,2 30 (QCVN 08:2015/BTNMT cột B1)
TSS mg/l 3,9 50 (QCVN 08:2015/BTNMT cột B1)
BOD5 mg/l 2,56 15 (QCVN 08:2015/BTNMT cột B1)
Nước ngầm (Nước giếng đào) pH - 6,77 5,5 - 8,5 (QCVN 09:2015/BTNMT)
Sắt (Fe) mg/l 0,423 5 (QCVN 09:2015/BTNMT)
Kẽm (Zn) mg/l 0,143 3 (QCVN 09:2015/BTNMT)
Độ cứng mg/l 1,750 500 (QCVN 09:2015/BTNMT)

Số liệu điều tra xã hội học trên 100 hộ dân ghi nhận cơ cấu hiện trạng môi trường và hạ tầng vệ sinh nông thôn như sau:

Hạng mục khảo sát Phân loại chi tiết Số hộ (n = 100) Tỷ lệ (%)
Nguồn nước sinh hoạt Nước khe núi (nước mỏ) 61 61,0
Nước giếng khoan 22 22,0
Nước giếng đào 17 17,0
Nước máy 0 0,0
Hạ tầng cống thải Không có cống thải 46 46,0
Cống thải lộ thiên 30 30,0
Cống thải ngầm 24 24,0
Hình thức đổ rác sinh hoạt Đổ rác tùy nơi (ven đường, bờ bụi, suối) 49 49,0
Thu gom theo dịch vụ tập trung 21 21,0
Đào hố rác riêng tại vườn 15 15,0
Bãi rác chung tự phát 15 15,0
Loại hình nhà tiêu Nhà vệ sinh tự hoại 70 70,0
Hố xí hai ngăn 26 26,0
Hố xí đất 4 4,0
Cầu tõm bờ ao 0 0,0
Hình thức canh tác đất Thâm canh 73 73,0
Quảng canh 27 27,0
Du canh, du cư 0 0,0

So sánh cơ cấu xử lý các loại chất thải rắn phát sinh tại hộ gia đình:

Hình thức xử lý Rác sinh hoạt (%) Rác từ chăn nuôi (%) Phế phẩm trồng trọt (%)
Không xử lý và không thu gom 35,0 7,0 11,0
Đốt 27,0 5,0 29,0
Thu gom theo dịch vụ 22,0 5,0 0,0
Không xử lý chỉ thu gom 13,0 30,0 24,0
Ủ làm phân bón 3,0 53,0 36,0
Tổng cộng 100,0 100,0 100,0

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  1. Công tác tuyên truyền, giáo dục: Đẩy mạnh phổ biến kiến thức về an toàn hóa chất nông nghiệp, vận động nhân dân xóa bỏ thói quen vứt rác, bao bì thuốc BVTV bừa bãi ra kênh mương, đồng ruộng.
  2. Công tác quản lý và chế tài: UBND xã cần ban hành quy ước, hương ước thôn bản về bảo vệ môi trường; kiểm tra, xử lý nghiêm các cơ sở chăn nuôi, sản xuất xả thải trực tiếp không qua xử lý.
  3. Công tác kỹ thuật và công trình: Xây dựng các hố chứa bao gói thuốc BVTV chuyên dụng tại các cánh đồng mẫu; mở rộng mạng lưới thu gom rác thải sinh hoạt từ trung tâm xã ra các thôn bản xa; kiên cố hóa hệ thống cống rãnh thoát nước thải có nắp đậy tại các khu dân cư.
  4. Bảo vệ tài nguyên đất và rừng: Khuyến khích người dân đẩy mạnh việc ủ phân chuồng, phế phẩm nông nghiệp làm phân bón hữu cơ để bồi hoàn độ phì nhiêu cho đất; duy trì nghiêm ngặt diện tích 3.949,82 ha rừng phòng hộ và 2.553,46 ha rừng sản xuất nhằm bảo vệ nguồn nước đầu nguồn.

Đóng góp thực tiễn của đề tài

Khóa luận đã thiết lập được bộ cơ sở dữ liệu thực tế đầu tiên về các chỉ số chất lượng nước mặt, nước ngầm và bức tranh chi tiết về quản lý chất thải rắn, nước thải sinh hoạt tại xã Lăng Can sau khi địa phương chuyển mình thành trung tâm hành chính của huyện Lâm Bình. Kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch môi trường và thực hiện tiêu chí môi trường trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới tại địa phương.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Dung lượng mẫu quan trắc phân tích chất lượng môi trường trong phòng thí nghiệm còn hạn chế (chỉ lấy 01 mẫu nước mặt suối và 01 mẫu nước giếng đào đơn lẻ tại một thời điểm mùa khô tháng 5/2018); chưa thực hiện lấy mẫu phân tích định lượng trực tiếp các chỉ tiêu hóa lý của đất canh tác (như dư lượng kim loại nặng, hóa chất BVTV) và các thông số chất lượng không khí (bụi, khí độc) bằng máy đo chuyên dụng mà chủ yếu dựa vào đánh giá định tính qua khảo sát xã hội học và quan sát hiện trường.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô và tần suất lấy mẫu quan trắc môi trường nước theo cả hai mùa (mùa khô và mùa mưa); thiết lập mạng lưới lấy mẫu đất nông nghiệp để phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nhóm clo hữu cơ, phospho hữu cơ; nghiên cứu đánh giá chi tiết tải lượng chất thải phát sinh từ đàn gia súc (đặc biệt là 2.763 con lợn và 1.267 con trâu) để đề xuất mô hình hầm khí sinh học Biogas phù hợp quy mô hộ và liên hộ gia đình.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Phát triển Nông thôn; cán bộ địa chính - môi trường cấp xã và cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường công tác tại các huyện miền núi có điều kiện địa hình, kinh tế tương đồng.
  • Nội dung giá trị: Khóa luận cung cấp cấu trúc mẫu biểu điều tra xã hội học chi tiết về môi trường nông thôn miền núi; phương pháp tiếp cận đánh giá tổng hợp các nguồn thải phân tán (chăn nuôi, trồng trọt, sinh hoạt, xây dựng); quy trình phân tích và đối chiếu số liệu nước mặt, nước ngầm với hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN 08:2015/BTNMT và QCVN 09:2015/BTNMT).

Câu hỏi thường gặp

Người dân xã Lăng Can chủ yếu sử dụng nguồn nước nào cho ăn uống, sinh hoạt và chất lượng nguồn nước ra sao?

Theo số liệu điều tra trên 100 hộ dân, có 61% số hộ sử dụng nước tự chảy từ các khe núi (nước mỏ), 22% hộ dùng nước giếng khoan, 17% hộ dùng nước giếng đào và 0% hộ có hệ thống cấp nước máy. Kết quả phân tích mẫu nước suối và nước giếng đào ngày 13/05/2018 cho thấy các chỉ tiêu pH, COD, BOD5, TSS, Fe, Zn và độ cứng đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 08:2015/BTNMT (cột B1) và QCVN 09:2015/BTNMT.

Thực trạng thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại xã Lăng Can diễn ra như thế nào?

Mỗi hộ gia đình phát sinh trung bình dưới 1 kg rác sinh hoạt/ngày. Trong 100 hộ điều tra, có 49% hộ đổ rác tùy tiện ra ven đường, mương suối; 21% hộ sử dụng dịch vụ thu gom tập trung (chủ yếu ở trung tâm xã); 15% hộ tự đào hố rác tại gia đình và 15% hộ đổ tại các bãi rác tự phát. Về phương thức xử lý rác sinh hoạt, có tới 35% hộ hoàn toàn không thu gom và không xử lý, 27% hộ xử lý bằng biện pháp đốt thủ công, 22% hộ giao cho dịch vụ thu gom, 13% hộ gom lại nhưng không xử lý và chỉ 3% hộ thực hiện ủ phân hữu cơ.

Hệ thống thoát nước thải và công trình vệ sinh tại xã Lăng Can có đặc điểm gì nổi bật?

Về hạ tầng thoát nước, 46% hộ gia đình không có cống thoát nước thải, 30% có cống lộ thiên và 24% có cống ngầm; phần lớn nước thải sinh hoạt và chăn nuôi xả tràn tự nhiên ra suối, mương, ao hồ. Về công trình vệ sinh, 70% số hộ đã xây dựng nhà vệ sinh tự hoại, 26% sử dụng hố xí hai ngăn, 4% dùng hố xí đất và không còn tình trạng sử dụng cầu tõm trên ao hồ.

Tác động của hoạt động sản xuất nông nghiệp đến môi trường đất tại địa phương được ghi nhận như thế nào?

Xã Lăng Can có 73% số hộ canh tác theo phương thức thâm canh và 27% quảng canh. Khảo sát ghi nhận 81% số hộ đánh giá chất lượng đất trồng trọt bị suy giảm độ màu mỡ và độ xốp qua các năm do lạm dụng phân bón vô cơ và thiếu các biện pháp bồi hoàn đất. Bên cạnh đó, tình trạng vứt bỏ trực tiếp bao bì, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật tại đồng ruộng, mương nước sau khi sử dụng vẫn diễn ra phổ biến, gây nguy cơ ô nhiễm tồn lưu hóa chất trong đất và nguồn nước.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Ma Doãn Trường đã phản ánh toàn diện bức tranh hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Lăng Can, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn chuyển đổi thành trung tâm huyện lỵ. Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù chất lượng nguồn nước mặt và nước ngầm tại thời điểm khảo sát vẫn đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, song địa phương đang đối mặt với nhiều nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng do 46% hộ thiếu cống thoát nước, 49% hộ đổ rác tùy tiện và 35% hộ không xử lý rác thải sinh hoạt. Hệ thống 6 nhóm giải pháp do tác giả đề xuất mang tính đồng bộ và phù hợp với thực tiễn, đóng vai trò là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nông thôn tại địa bàn miền núi.