Đặt vấn đề Hiện nay ô nhiễm môi trƣờng đang là một vấn đề nóng bỏng đang đƣợc cả thế giới quan tâm. Ở Việt Nam, tình trạng này không chỉ xảy ra ở các đô thị, khu công nghiệp mà còn gặp phải ở các vùng nông thôn. Một lƣợng lớn chất thải rắn nông nghiệp chƣa đƣợc ngƣời dân quan tâm tận dụng và thu gom xử lý đã thải trực tiếp ra môi trƣờng. Phế phẩm nông nghiệp nhƣ rơm rạ sau thu hoạch một phần đƣợc sử dụng cho chăn nuôi, số còn lại chiếm tới 30% đƣợc đốt thành tro làm phát thải khí CO2 , CO và NOx gây ô nhiễm không khí hoặc xả bừa bãi trên đƣờng giao thông, công trình thủy lợi, ao hồ ở các địa phƣơng.
Theo tính toán của các nhà chuyên môn, hằng năm nƣớc ta có khoảng 80 triệu tấn rơm, rạ và vỏ trấu, nếu chỉ đốt 50% thì các chất khí thải có thể phát sinh: khoảng 8 triệu tấn CO2, trên 2,5 ngàn tấn khí CH4 và 100 ngàn tấn khí CO, tất cả đều bay vào khí quyển gây ô nhiễm môi trƣờng góp phần tạo ra hiệu ứng nhà kính trong không gian sống (Bộ Tài nguyên Môi trƣờng, 2011) [3]. Chất thải rắn chăn nuôi đang là một nguồn thải lớn gây ô nhiễm ở nông thôn. Theo ƣớc tính, có khoảng 40-70% (tùy theo từng vùng) chất thải rắn chăn nuôi đƣợc xử lý, số còn lại thải trực tiếp ra ao, hồ, kênh ( Bộ Tài nguyên Môi trƣờng, 2011) [3]. Đặc biệt một số trang trại chăn nuôi tập trung cũng chƣa có biện pháp xử lý chất thải phù hợp gây ô nhiễm môi trƣờng đất, nƣớc, không khí xung quanh.
Trong xu hƣớng phát triển nền nông nghiệp hiện đại việc sử dụng hóa chất thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trong canh tác nhằm tăng năng suất cây trồng, phòng trừ sâu bệnh hại cho cây trồng đƣợc ngƣời dân sử n 2 dụng với một số lƣợng rất lớn. Đồng thời gia tăng số lƣợng vỏ chai hóa chất bảo vệ thực vật và bao bì phân bón hóa học. Trƣớc tình hình đó, yêu cầu cần có một cuộc khảo sát điều tra về hiện trạng chất thải rắn nông nghiệp nông thôn. Vì vậy tôi tiến hành thực hiện đề tài : “Đánh giá hiện trạng chất thải rắn nông nghiệp tại xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu - Cung cấp nguồn số liệu cụ thể về chất thải rắn nông nghiệp, từ đó phục vụ cho công tác quản lý chất thải rắn nông nghiệp trên địa bàn xã Lƣơng Phú. Yêu cầu của đề tài - Các số liệu đƣa ra phải chính xác, có độ tin cậy, đầy đủ, chi tiết. - Những giải pháp thu gom, xử lý rơm rạ phải có tính khả thi với điều kiện địa phƣơng xã Lƣơng Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập: Qua đề tài giúp tôi có cơ hội tiếp cận với cách thức thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học và hoàn thiện một khóa luận tốt nghiệp. Vận dụng đƣợc các kiến thức đã học vào trong thực tiễn. - Ý nghĩa trong thực tiễn: Đề tài mang tính thực tiễn vì nó đáp ứng yêu cầu cần có một đánh giá về chất thải rắn nông nghiệp cũng nhƣ cách sử dụng, thu gom, xử lý rơm rạ trong thực tiễn. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Một số khái niệm 2. Khái niệm về chất thải Chất thải là sản phẩm đƣợc phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con ngƣời, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thƣơng mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trƣờng học, các khu dân cƣ, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải nhƣ khí thải của các phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ, đƣờng thủy.
chất thải kim loại, hóa chất và các loại vật liệu khác [19]. Khái niệm về chất thải rắn Theo nghị định 59/2007/NĐ- CP của Chính phủ về quản lý chất thải rắn ngày 09 tháng 04 năm 2007 đƣợc định nghĩa là: CTR là chất thải ở thể rắn, đƣợc thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thƣờng và chất thải rắn nguy hại. Khái niệm về chất thải rắn nông nghiệp CTR nông nghiệp thông thƣờng là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp nhƣ: trồng trọt (thực vật chết, tỉa cành, làm cỏ.), thu hoạch nông sản (rơm, rạ, trấu, cám, lõi ngô, thân ngô), bao bì đựng phân bón, thuốc BVTV, các chất thải từ chăn nuôi, giết mổ động vật, chế biến sữa, chế biến thủy sản,.
CTR nông nghiệp nguy hại chủ yếu phát sinh từ các hoạt động nông nghiệp (chai lọ đựng hóa chất BVTV và thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng), n 4 hoạt động chăm sóc thú y (chai lọ đựng thuốc thú y, dụng cụ tiêm, mổ), (Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2011) [3]. Trồng trọt (thực vật chết, lá cành, cỏ) Thuốc bảo vệ thực vật, động vật (chai lo đựng thuốc BVTV, thuốc trừ Thu hoạch nông sản CHẤT sâu.) (rơm, rạ, trấu, cám, lõi THẢI Quá trình bón phân kích ngô, thân ngô.) RẮN thích sinh trƣởng( bao bì NÔNG đựng phân bón, phân) NGHIỆP Chăn nuôi (phân gia súc, gia cầm, động vật.) Thú y: chai lọ đựng thuốc thú y, dụng cụ tiêm mổ… Chế biến sữa, giết mổ động vật Hình 1.1: Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn nông nghiệp[19] 2. Phân loại chất thải rắn nông nghiệp Thành phần CTR nông nghiệp gồm nhiều chủng loại khác nhau [19]: - Chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học: phân gia súc, các phế phụ phẩm trồng trọt nhƣ rơm rạ, chất thải từ chăn nuôi, giết mổ. - Chất thải khó phân hủy và độc hại: bao bì đóng gói, chai lọ đựng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu.
các bệnh phẩm của động vật nhiễm bệnh (gà rù, lợn lở mồm long móng, gà cúm.), hoạt động chăm sóc thú y (chai lọ đựng thuốc thú y, dụng cụ tiêm mổ). Ảnh hưởng của chất thải rắn nông nghiệp tới môi trường và sức khỏe con người 2. Ảnh hưởng của chất thải rắn nông nghiệp tới môi trường Với môi trường không khí n 5 Rơm rạ ngoài đồng ruộng ở nông thôn ngƣời dân chủ yếu là đốt, gây ra hậu quả ONMT nghiêm trọng. Đốt rơm rạ là một nguyên nhân gây ảnh hƣởng nghiêm trọng tới môi trƣờng không khí khi thải ra nhiều loại khí độc hại nhƣ: CO2, CH4, CO, SO2.
Hoạt động chăn nuôi không chỉ tạo ra nguồn CTR lớn mà các loại khí sinh ra cũng tƣơng đối lớn. Có nhiều loại khí sinh ra trong chuồng nuôi gia súc và bãi chứa chất thải do quá trình phân hủy kỵ khí chất thải chăn nuôi (chủ yếu là phân và nƣớc tiểu) và quá trình hô hấp của vật nuôi. Trong 3- 5 ngày đầu, mùi hôi sinh ra ít, do vi sinh vật chƣa kịp bị phân hủy phân và nƣớc tiểu gia súc. NH3 đƣợc tạo thành nhiều nhất vào ngày thứ 3 và 21.
Khi phân và nƣớc tiểu gia súc (có thành phần chủ yếu là NH3,.H2S, CH4) tạo thành một mùi hôi khó chịu, đặc biệt đối với ngƣời chƣa quen tiếp xúc. Quá trình hô hấp của gia súc thải ra một lƣợng lớn CO2. Tất cả các khí này tồn tại trong môi trƣờng không khí của khu vực chăn nuôi tạo nên mùi đặc trƣng hôi thối khó chịu. Ở nồng độ cao chúng có thể gây ngạt, kích thích niêm mạc mắt, mũi, gây choáng váng nhức đầu.
Mức độ nguy hại của các khí này tăng cao khi tồn tại đồng thời trong không khí hoặc tích tụ lại với nồng độ cao, gây khó chịu có thể cho ngƣời và gia súc (Nguyễn Đỗ Hoàng Thảo, 2013) [16]. Với môi trƣờng nƣớc Các hoạt động sản xuất nông nghiệp (chăn nuôi, sử dụng phân bón) đã xác định là nguồn lớn thải khí NH3 ra môi trƣờng. Nito đƣợc thải ở dạng ure hoặc axit uric và NH3 nitrogen hữu cơ trong phân và nƣớc tiểu của vật nuôi. Để biến ure hoặc axit uric thành NH3 cần có enzyme urease.
NH3 thải ra ảnh hƣởng lớn tới chất lƣợng không khí quốc gia, khu vực và toàn cầu. Sự tích lũy NH3 trong không khí có thể gây sự phì nhiêu nƣớc mặt, do vậy làm cho tảo độc hại tăng trƣởng nhanh và sẽ làm giảm nhiều loài thủy sinh, trong đó n 6 có các đối tƣợng kinh tế. Ngoài ra chất thải rắn chăn nuôi mà chƣa qua xử lý thải trực tiếp vào môi trƣờng nƣớc mặt nhƣ ao, hồ, sống. Hoạt động chăn nuôi này sẽ làm ô nhiễm nguồn nƣớc làm phì dƣỡng nƣớc, ô nhiễm nƣớc mặt, nƣớc ngầm (Vƣơng Văn Minh, 2013) [14].
Hoạt động sản xuất nông nghiệp tạo ra một lƣợng lớn bao bì hóa chất bảo vệ thực vật. Mà ngƣời dân sau khi phun thuốc thƣờng vứt bỏ tại ruộng, kênh, mƣơng, ao, hồ. chƣa có bệnh pháp cụ thể để xử lý lƣợng bao bì thải trực tiếp ra môi trƣờng. Lƣợng tồn dƣ trong bao bì thải trực tiếp vào môi trƣờng nƣớc theo nƣớc mƣa ngấm xuống đất ảnh hƣởng đến chất lƣợng nguồn ngầm, nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân cũng nhƣ hoạt động sử dụng trực tiếp nguồn nƣớc vào mục đích sản xuất (Mai Luận, 2013) [17].
Với môi trường đất Không chỉ gây ra ô nhiễm không khí, môi trƣờng nƣớc mà chất thải rắn còn ảnh hƣởng tới môi trƣờng đất. Do chất thải chăn nuôi có tồn tại một số kim loại năng có thành phần của bột tăng trọng. Sự thải NH3 ra môi trƣờng không chỉ ảnh hƣởng đến nguồn nƣớc mà còn ảnh hƣởng đến môi trƣờng đất. Sự lắng đọng NH3 trong đất với khả năng đệm thấp có thể gây nên axit hóa đất và rút hết các cation cơ bản (Nguyễn Kim Đƣờng, 2013) [8].
Khi chất thải đƣợc thải ra trên nền đất sau chuồng nuôi sẽ tạo ra các đám bùn. Phân sẽ thấm xuông đất và các yếu tố khoáng ô nhiễm sẽ bị chảy tràn ra gây ô nhiễm môi trƣờng, không những thế đám bùn còn gây mùi khó chịu và làm phát triển các nguy cơ về vệ sinh. Nếu hộ gia đình nằm trong trung tâm làng xã thì hiện tƣợng ô nhiễm càng trở nên nghiêm trọng. Trong chất thải chăn nuôi có chứa nhiều chất dinh dƣỡng cần thiết cho đất, cho cây trồng nên thƣờng đƣợc dùng để bón cho cây, tăng độ màu mỡ cho đất.