Sa thị trang đánh giá độc tính trên thận liên quan tới tenofovir tdf trên bệnh nhân điều trị hivaids tại trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh phú thọ luận văn dƣợc sĩ chuyên khoa cấp i

Đánh giá độc tính trên thận liên quan đến tenofovir TDF ở bệnh nhân HIV/AIDS tại Phú Thọ, nghiên cứu chuyên sâu và kết quả điều trị.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I

2022

74
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sơ lƣợc về thuốc antiretroviral (ARV)

1.2. Tổng quan về tenofovir

1.2.1. Sơ lƣợc về đặc tính dƣợc lý của tenofovir

1.2.2. Đặc tính dƣợc động học

1.2.3. Tác dụng không mong muốn (ADR)

1.2.4. Độc tính trên thận của tenofovir

1.3. Theo dõi, đánh giá độc tính trên thận

1.3.1. Theo dõi, xác định độc tính trên thận

1.3.2. Phân độ tổn thƣơng thận cấp theo RIFLE

1.3.3. Ý nghĩa lâm sàng

1.4. Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về độc tính trên thận của TDF

1.4.1. Một số nghiên cứu trên thế giới về độc tính trên thận của TDF

1.4.2. Một số nghiên cứu tại Việt Nam về độc tính trên thận của TDF

1.5. Một số đặc điểm về tình hình nhiễm HIV/AIDS và điều trị ARV tại tỉnh Phú Thọ và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Phú Thọ

1.5.1. Đặc điểm về tình hình nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Phú Thọ

1.5.2. Tình hình điều trị ARV tại tỉnh Phú Thọ và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Phú Thọ

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu

2.5. Chỉ tiêu nghiên cứu

2.6. Xử lý và phân tích số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

3.1.1. Số lƣợng bệnh nhân tham gia nghiên cứu

3.1.2. Đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

3.1.3. Tình trạng duy trì điều trị

3.2. Đặc điểm biến cố trên thận ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS sử dụng phác đồ có chứa TDF

3.2.1. Tỷ lệ gặp biến cố độc tính trên thận

3.2.2. Mức độ nghiêm trọng của biến cố trên thận dựa theo thang RIFLE

3.2.3. Xử trí khi gặp độc tính trên thận

3.3. Xác định các yếu tố ảnh hƣởng tới tần suất xuất hiện độc tính trên thận ở bệnh nhân HIV sử dụng phác đồ có chứa TDF

3.3.1. Phân tích đơn biến

3.3.2. Phân tích đa biến tìm các yếu tố độc lập ảnh hƣởng tới tần suất xuất hiện độc tính trên thận

3.4. Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

3.5. Đặc điểm biến cố độc tính trên thận ở bệnh nhân HIV sử dụng phác đồ có chứa TDF

3.6. Một số yếu tố ảnh hƣởng tới tần xuất độc tính trên thận ở bệnh nhân HIV/AIDS có sử dụng TDF

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Độc Tính Thận Liên Quan Đến Tenofovir TDF

Đánh giá độc tính thận liên quan đến Tenofovir TDF là một vấn đề quan trọng trong điều trị bệnh nhân HIV/AIDS. Tenofovir disoproxil fumarate (TDF) là một trong những thuốc kháng virus được sử dụng phổ biến. Tuy nhiên, việc sử dụng lâu dài thuốc này có thể dẫn đến các tác dụng phụ nghiêm trọng, đặc biệt là độc tính trên thận. Nghiên cứu này nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình sử dụng TDF và các vấn đề liên quan đến độc tính thận ở bệnh nhân tại tỉnh Phú Thọ.

1.1. Tình Hình Nhiễm HIV AIDS Tại Phú Thọ

Tỉnh Phú Thọ hiện đang đối mặt với tình trạng gia tăng số lượng bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Theo báo cáo, số lượng bệnh nhân đang điều trị tại các cơ sở y tế ngày càng tăng, trong đó phần lớn sử dụng phác đồ có chứa Tenofovir TDF. Việc theo dõi và đánh giá độc tính thận là cần thiết để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

1.2. Tác Dụng Phụ Của Tenofovir TDF

Mặc dù Tenofovir TDF có hiệu quả cao trong việc điều trị HIV/AIDS, nhưng nó cũng gây ra nhiều tác dụng phụ. Đặc biệt, độc tính trên thận là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng TDF có thể gây ra hội chứng Fanconi, làm giảm chức năng thận và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

II. Vấn Đề Độc Tính Thận Ở Bệnh Nhân HIV AIDS Sử Dụng Tenofovir TDF

Độc tính thận liên quan đến Tenofovir TDF đã trở thành một vấn đề đáng lo ngại trong điều trị HIV/AIDS. Nhiều bệnh nhân đã gặp phải các biến chứng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể. Việc đánh giá độc tính thận không chỉ giúp phát hiện sớm các vấn đề mà còn hỗ trợ trong việc điều chỉnh phác đồ điều trị.

2.1. Các Biến Chứng Thường Gặp

Các biến chứng thường gặp ở bệnh nhân sử dụng Tenofovir TDF bao gồm suy thận cấp, protein niệu và hạ phosphat huyết. Những biến chứng này có thể dẫn đến tình trạng sức khỏe nghiêm trọng nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.

2.2. Tình Trạng Sức Khỏe Của Bệnh Nhân

Nhiều bệnh nhân điều trị bằng Tenofovir TDF đã báo cáo về tình trạng sức khỏe giảm sút. Việc theo dõi định kỳ chức năng thận là cần thiết để đảm bảo bệnh nhân không gặp phải các tác dụng phụ nghiêm trọng.

III. Phương Pháp Đánh Giá Độc Tính Thận Liên Quan Đến Tenofovir TDF

Để đánh giá độc tính thận liên quan đến Tenofovir TDF, các phương pháp nghiên cứu lâm sàng và theo dõi chức năng thận được áp dụng. Việc sử dụng các chỉ số sinh hóa như creatinin huyết thanh và protein niệu giúp xác định mức độ tổn thương thận ở bệnh nhân.

3.1. Theo Dõi Chức Năng Thận

Theo dõi chức năng thận là một phần quan trọng trong việc đánh giá độc tính thận. Các chỉ số như creatinin huyết thanh và tỷ lệ lọc cầu thận (GFR) được sử dụng để đánh giá tình trạng thận của bệnh nhân.

3.2. Phân Độ Tổn Thương Thận

Phân độ tổn thương thận theo thang RIFLE giúp xác định mức độ nghiêm trọng của độc tính thận. Việc phân loại này hỗ trợ trong việc đưa ra các quyết định điều trị phù hợp cho bệnh nhân.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Độc Tính Thận Liên Quan Đến Tenofovir TDF

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân gặp phải độc tính thận khi sử dụng Tenofovir TDF là đáng kể. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tần suất xuất hiện độc tính thận, bao gồm tuổi tác, tình trạng sức khỏe và thời gian điều trị.

4.1. Tỷ Lệ Gặp Biến Cố Độc Tính

Tỷ lệ bệnh nhân gặp biến cố độc tính thận trong nghiên cứu là khoảng 30%. Điều này cho thấy cần có sự chú ý đặc biệt đối với bệnh nhân sử dụng Tenofovir TDF.

4.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng

Các yếu tố như tuổi tác, tình trạng dinh dưỡng và các bệnh lý nền có thể ảnh hưởng đến tần suất xuất hiện độc tính thận. Việc nhận diện sớm các yếu tố này giúp cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

V. Kết Luận Về Độc Tính Thận Liên Quan Đến Tenofovir TDF

Đánh giá độc tính thận liên quan đến Tenofovir TDF là một vấn đề quan trọng trong điều trị HIV/AIDS. Cần có các biện pháp theo dõi và can thiệp kịp thời để giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân. Nghiên cứu này cung cấp thông tin quý giá cho các bác sĩ trong việc quản lý điều trị cho bệnh nhân.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các phác đồ điều trị an toàn hơn cho bệnh nhân HIV/AIDS. Việc tìm kiếm các thuốc thay thế có ít tác dụng phụ hơn là cần thiết.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Bệnh Nhân

Bệnh nhân cần được tư vấn về các tác dụng phụ của Tenofovir TDF và cách theo dõi sức khỏe thận. Việc tuân thủ điều trị và kiểm tra định kỳ là rất quan trọng để đảm bảo an toàn.

14/08/2025
Sa thị trang đánh giá độc tính trên thận liên quan tới tenofovir tdf trên bệnh nhân điều trị hivaids tại trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh phú thọ luận văn dƣợc sĩ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Năm 1981, trƣờng hợp nhiễm HIV đầu tiên trên thế giới đƣợc phát hiện. Tính đến tháng 12 năm 2020, theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trên thế giới đã có khoảng 38 triệu ngƣời nhiễm HIV, trong năm 2020 có 1,7 triệu ngƣời nhiễm HIV mới trong đó tập trung chủ yếu là nam giới, độ tuổi 25-49 tuổi (38%) và nam giới độ tuổi 15-24 tuổi (12%), có 770,000 ngƣời chết do AIDS [52]. Tại Việt Nam, tính đến 31/12/20, theo báo cáo của các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ƣơng cả nƣớc có 215.220 ngƣời nhiễm HIV đang còn sống và 108,719 trƣờng hợp nhiễm HIV/AIDS đã tử vong do nhiễm HIV/AIDS) [10]. Năm 1985, thuốc điều trị HIV đầu tiên đƣợc phát triển và đƣa vào thử nghiệm lâm sàng là azidothymidin (AZT, sau này gọi là zidovudin), mặc dù còn nhiều hạn chế và gây ra nhiều tác dụng không mong muốn (nhƣ giảm bạch cầu, thiếu máu, viêm cơ, buồn nôn và nôn) nhƣng AZT đã đƣợc phê duyệt vào năm 1987 để điều trị cho những bệnh nhân nhiêm HIV mức độ nặng.

Sau đó các thuốc nhƣ zalcitabin (ddC), didanosin (ddI) và stavudin (d4T) tiếp tục đƣợc phê duyệt để đƣa vào điều trị HIV. Các thuốc nói trên đều có tác dụng không mong muốn riêng biệt và hiện nay không còn đƣợc sử dụng rộng rãi [21]. Năm 2010, tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo không sử dụng d4T trong phác đồ điều trị HIV/AIDS do những phản ứng có hại nghiêm trọng, bao gồm nhiễm toan chuyển hóa lactic, rối loạn phân bố mỡ và bệnh lý thần kinh ngoại vi. Căn cứ trên khuyến cáo này, Bộ Y tế sửa đổi phác đồ ƣu tiên có chứa d4T (quy định tại quyết định 3003/QĐ-BYT ngày 19/8/2009) thành phác đồ có chứa TDF (quy định tại quyết định 4139/QĐ-BYT ngày 02/11/2011) cho cả bệnh nhân đang điều trị và bệnh nhân đƣợc điều trị lần đầu.

Trong năm 2015, phác đồ này tiếp tục đƣợc khuyến cáo là phác đồ ƣu tiên điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS trong quyết định 3047/QĐ- BYT ngày 22/7/2015 của Bộ Y tế. Trong thời gian gần đây phác đồ có 1 chứa TDF (TDF/3TC/DTG) tiếp tục đƣợc khuyến cáo là phác đồ ƣu tiên cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS trong Hƣớng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS ban hành kèm theo quyết định số 5456/QĐ-BYT ngày 20/11/2019 [8]và quyết định số 5968/QĐ-BYT ngày 31/12/2021 của Bộ Y tế [9]. Mặt khác, tiêu chuẩn bắt đầu điều trị cho các bệnh nhân nhiễm HIV ngày càng đƣợc mở rộng làm gia tăng số lƣợng bệnh nhân đƣợc sử dụng các phác đồ có chứa TDF. Tại trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Phú thọ tính đến tháng 12 năm 2021 có 330 bệnh nhân HIV/AIDS đang điều trị trong đó có 326 bệnh nhân sử dụng phác đồ có chứa TDF.

Việc theo dõi, phát hiện, đánh giá và phòng tránh các phản ứng có hại liên quan tới thuốc ARV có vai trò quan trọng trong việc tăng cƣờng hiệu quả điều trị, tiết kiệm chi phí, ngăn ngừa tình trạng kháng thuốc và góp phần cải thiện chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. TDF là thuốc đƣợc báo cáo có độc tính với thận, tuy nhiên dữ liệu về độc tính trên thận của TDF còn rất ít đƣợc ghi nhận và đánh giá ở bệnh nhân tại Việt Nam. Trong khi đó quần thể bệnh nhân HIV/AIDS đƣợc điều trị bằng các phác đồ có chứa TDF tại Việt Nam ngày càng mở rộng. Nhằm tăng cƣờng dữ liệu nghiên cứu về tính an toàn của thuốc ARV, đồng thời ghi nhận tần suất, mức độ nghiêm trọng, các yếu tố ảnh hƣởng tới độc tính trên thận liên quan tới TDF trên quần thể ngƣời Việt Nam, góp phần sử dụng thuốc ARV đƣợc hợp lý và an toàn, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá độc tính trên thận liên quan tới tenofovir (TDF) trên bệnh nhân điều trị HIV/AIDS tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật Phú Thọ” với hai mục tiêu: 1.

Khảo sát đặc điểm biến cố trên thận ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS sử dụng phác đồ có chứa TDF tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Phú Thọ. Xác định các yếu tố ảnh hƣởng tới tần suất xuất hiện độc tính trên thận ở bệnh nhân HIV có sử dụng phác đồ chứa TDF. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lƣợc về thuốc antiretroviral (ARV) Ngày 19/3/1987 đƣợc coi là một cột mốc quan trọng khi lần đầu tiên Cơ quan quản lý Dƣợc phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (US FDA) chính thức chấp thuận, phê duyệt Zidovudine (Azidothymidine, AZT, ZDV), một thuốc đƣợc nghiên cứu phát triển vào năm 1960 để ngăn ngừa ung thƣ, làm thuốc điều trị HIV/AIDS đầu tiên.

Đây đƣợc xem là một bƣớc đột phá trong quản lý điều trị HIV. Kể từ đó tới nay, các nỗ lực trong nghiên cứu, phát triển thuốc đã cho phép sự ra đời của nhiều loại thuốc ARV đƣợc ứng dụng vào điều trị. Các thống kê của US FDA cho thấy tính tới thời điểm hiện tại có hơn 40 loại thuốc ARV đã đƣợc cấp phép lƣu hành và cũng đang có hàng chục các nghiên cứu phát triển các ARV mới khác đang đƣợc tiến hành trên thế giới [13]. Về cơ bản, các thuốc ARV đƣợc chia làm 5 nhóm chính theo cơ chế tác dụng gồm: Bảng 1.

Các thuốc ARV điều trị HIV/AIDS theo từng nhóm [21] Nhóm thuốc Một số thuốc đại diện abacavir (ABC) didanosin (ddI) Nhóm ức chế men sao chép ngược emtricitabin (FTC) có cấu trúc nucleosid và tenofovir (TDF) nucleotide (NRTI) lamivudin (3TC) stavudin (d4T) zidovudin (AZT) Nhóm ức chế men sao chép ngược efavirenz (EFV) cấu trúc không phải là nucleosid etravirin (ETV) (NNRTI) nevirapin (NVP) atazanavir + ritonavir (ATV/r) Nhóm ức chế men protease (PI) darunavir + ritonavir (DRV/r) 3 Nhóm thuốc Một số thuốc đại diện fos-amprenavir + ritonavir (FPV/r) indinavir + ritonavir (IDV/r) lopinavir/ritonavir (LPV/r) Raltegravir (RAL) Nhóm ức chế enzym tích hợp (INSTI) Dolutegravir (DTG) Elvitegravir (EVG) Enfuvirtid (ENF) Nhóm ức chế hòa màng (EI&FI) Maraviroc (MVC) Các thuốc ức chế men sao chép ngƣợc (NRTI), thuốc ức chế men sao chép ngƣợc non-nucleosid (NNRTI) và thuốc ức chế men Protease (PI) là các thuốc đƣợc sử dụng phổ biến tại Việt Nam và nhiều nƣớc trên thế giới. Thuốc ức chế hòa màng/xâm nhập và thuốc ức chế men tích hợp là các nhóm thuốc mới hiện ít đƣợc sử dụng trong nƣớc [32, 42]. Phác đồ kháng retrovirus hiệu lực cao là phác đồ kết hợp ít nhất 3 loại thuốc ARV, giúp cải thiện đáng kể tiến triển của bệnh và giảm tỷ lệ tử vong do AIDS. Các hƣớng dẫn điều trị hiện nay đều sử dụng các phác đồ kết hợp ít nhất 3 thuốc ARV trong điều trị HIV.

Ngoài việc sử dụng các thuốc ARV, bệnh nhân HIV/AIDS còn đƣợc điều trị dự phòng với các thuốc khác nữa trong trƣờng hợp cần thiết nhƣ điều trị dự phòng với Co-trimoxazol, điều trị dự phòng lao (Isoniazid), điều trị bệnh do nấm (Amphotericin B, Fluconazol, Itraconazol…), việc điều trị này làm tăng thêm tính chất phức tạp cũng nhƣ gây khó khăn hơn vấn đề tuân thủ điều trị [12], [18], [34]. Tại Việt Nam, Bộ Y Tế đã ban hành Quyết định số 3003/QĐ-BYT ngày 19/8/2009 - Hƣớng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS, theo đó bệnh nhân bắt đầu điều trị bằng các phác đồ bậc 1 và đƣợc chuyển sang phác đồ 4 bậc 2 khi việc điều trị với phác đồ bậc 1 thất bại [2]. Ngày 02/11/2011, Bộ Y Tế ban hành Quyết định số 4139/QĐ-BYT sửa đổi khuyến cáo dần dần không sử dụng d4T và thay thế bằng các phác đồ TDF+3TC+NVP/EFV, vì stavudin và didanosin liên quan đến các phản ứng có hại nghiêm trọng [3]. Đến năm 2015, điều trị kháng vi-rút (ARV) đối với bệnh nhân HIV/AIDS đã đƣợc chuẩn hóa trong Hƣớng dẫn Quản lý, Điều trị và Chăm sóc HIV/AIDS theo Quyết định số 3047/QĐ-BYT ngày 22 tháng 7 năm 2015 của Bộ trƣởng Bộ Y tế [5], và sau đó đƣợc sửa đổi bổ sung nhiều lần trong Quyết định 3413/QĐ- BYT ngày 27 tháng 7 năm 2017 [6]; Quyết định số 5418/QĐ-BYT ngày 1 tháng 12 năm 2017 [7].

Gần đây nhất, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 5456/QĐ-BYT ngày 20/11/2019 ban hành hƣớng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS thay thế các văn bản quy định trƣớc đó [8]. Theo đó, mục đích của điều trị thuốc ARV là ức chế tối đa và lâu dài quá trình nhân lên của HIV trong cơ thể; đồng thời phục hồi chức năng miễn dịch cho ngƣời bệnh. Với nguyên tắc là điều trị ARV ngay khi ngƣời bệnh đƣợc chẩn đoán nhiễm HIV; Phối hợp đúng cách ít nhất 3 loại thuốc ARV; Đảm bảo tuân thủ điều trị hàng ngày, liên tục, suốt đời. Phác đồ điều trị HIV/AIDS cho ngƣời lớn và trẻ từ 10 tuổi trở lên của Bộ Y Tế Phác đồ Năm 2009 Năm 2011 Năm 2015 Năm 2017 Năm 2019 Năm 2021 điều trị Quyết định Quyết định Quyết định số Quyết định số Quyết định số 5968/QĐ- Quyết định Căn số số 5418/QĐ-BYT 5456/QĐ-BYT BYT[9] số 4139/QĐ- cứ 3003/QĐ- 3047/QĐ- [7] [8] BYT [3] BYT [2] BYT [5] d4T/AZT + TDF + 3TC TDF + TDF + 3TC TDF + 3TC TDF + 3TC (hoặc FTC) Ƣu 3TC + + 3TC/FTC + (hoặc FTC) + (hoặc FTC) + +DTG tiên NVP/ EFV NVP/ EFV NVP/ EFV EFV DTG TDF + TDF + 3TC TDF + 3TC + TDF + 3TC + EFV 400 mg Phác 3TC + (hoặc FTC) + EFV 400 mg đồ NVP/EFV DTG AZT + 3TC AZT + bậc 1 Thay TDF + 3TC + 3TC/FTC + (hoặc FTC) + thế AZT/ d4T NVP NVP/ EFV NVP/ EFV + 3TC + AZT + 3TC + EFV TDF/ ABC AZT + 3TC + NVP 6 TDF + AZT + 3TC + AZT + 3TC + AZT + 3TC + LPV/r 3TC + LPV/r hoặc LPV/r AZT + AZT + AZT + 3TC ATV/r (hoặc ATV/r) Ƣu 3TC/FTC + LVP/r + LPV/r tiên LPV/r hoặc hoặc ATV/r AZT + 3TC + AZT + 3TC + DTG1 ddI + ABC ATV/r DTG1 TDF3 + 3TC (hoặc FTC) + LVP/r + DTG1 ddI + ABC TDF + 3TC AZT + 3TC + AZT + 3TC + DRV/r Phác + LVP/r hoặc FTC + DRV/r đồ LPV/r hoặc AZT + 3TC + AZT + 3TC + LPV/r (hoặc bậc 2 AZT + ATV/r LPV/r (hoặc DRV/r) 3TC + TDF + TDF + 3TC+ ATV/r hoặc Thay LVP/r 3TC/FTC + LPV/r hoặc DRV/r) thế LPV/r hoặc ATV/r TDF3 + 3TC TDF3 + 3TC (hoặc FTC) ATV/r EFV/NVP (hoặc FTC) + + LPV/r ( hoặc DRV/r) + ddI + LPV/r LVP/r (hoặc ATV/r hoặc DRV/r) Ghi chú: LPV/r: thuốc kết hợp lopinavir và ritonavir; ATV/r: thuốc kết hợp atazanavir và ritonavir).

1 Sử dụng DTG cho phụ nữ và nữ vị thành niên trong độ tuổi sinh đẻ 7 1. Tổng quan về tenofovir 1. Sơ lược về đặc tính dược lý của tenofovir Tenofovir disoproxil fumarat có cấu trúc một nucleotid diester vòng xoắn tƣơng tự adenosin monophosphat và có cấu trúc phân tử gần với adefovir dipivoxil.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ