Tổng quan nghiên cứu

Năm 2012, ngành Du lịch Việt Nam ghi nhận sự phát triển vượt bậc với tổng thu nhập đạt trên 160.000 tỷ đồng, đón 6,85 triệu lượt khách quốc tế và 32,5 triệu lượt khách nội địa, trực tiếp tạo ra 485.000 chỗ làm việc cùng hơn 1.000.000 việc làm gián tiếp. Theo dự báo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nhu cầu lao động trực tiếp của ngành sẽ đạt khoảng 620.000 người vào năm 2015 và tăng lên 870.000 người vào năm 2020, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 7% đến 8% mỗi năm. Dù quy mô tăng nhanh, ngành Du lịch lại đối mặt với thực trạng thiếu hụt trầm trọng lực lượng lao động lành nghề, có kỹ năng thực hành chuẩn xác, trình độ ngoại ngữ vững vàng và tác phong chuyên nghiệp.

Đứng trước thách thức đó, hệ thống 08 cơ sở đào tạo du lịch trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đóng vai trò là những cơ sở hạt nhân định hướng phát triển nghiệp vụ trên phạm vi toàn quốc. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch tại 08 trường trực thuộc Bộ giai đoạn 2008-2012, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai đoạn tiếp theo. Phạm vi không gian bao quát 08 trường trên toàn quốc, trong đó tập trung khảo sát sâu tại 04 đơn vị đại diện ba miền: Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng, Cao đẳng nghề Du lịch Huế và Cao đẳng nghề Du lịch Vũng Tàu. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng nhằm nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn du lịch lên trên 55%, hỗ trợ quá trình hội nhập tiêu chuẩn nghề khu vực ASEAN.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng Lý thuyết Phát triển Nguồn nhân lực (Human Resource Development - HRD) trong nền kinh tế dịch vụ và Mô hình năng lực ASK (Attitude - Skills - Knowledge kết hợp thể lực). Bản chất của nhân lực du lịch là lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp tham gia tạo ra sản phẩm dịch vụ tổng hợp, đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa vốn văn hóa và vốn kỹ năng thao tác chuẩn mực. Bên cạnh đó, luận văn ứng dụng Lý thuyết Đào tạo nghề theo định hướng hành động và mô hình Đào tạo gắn kết doanh nghiệp (Work-Integrated Learning).

Khung lý thuyết làm rõ ba khái niệm cốt lõi:

  • Đào tạo nhân lực du lịch: Quá trình có mục đích nhằm trang bị tri thức, rèn luyện kỹ năng và định hình thái độ nghề nghiệp chuyên nghiệp.
  • Cơ cấu ngành nghề đào tạo: Tỷ trọng phân bổ học sinh sinh viên giữa các phân khúc nghiệp vụ như Nghiệp vụ Buồng (chiếm 35,30% cơ cấu toàn ngành), Phục vụ Bàn - Bar (chiếm 14,80%), Kỹ thuật Chế biến món ăn (chiếm 15,00%), Lễ tân (chiếm 9,00%), Quản trị lữ hành và Hướng dẫn du lịch (chiếm 10,40%).
  • Hiệu quả đào tạo kép: Gồm hiệu quả bên trong (tỷ lệ tốt nghiệp, chuẩn đầu ra tay nghề) và hiệu quả bên ngoài (tỷ lệ có việc làm, mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp tiếp cận hệ thống và phương pháp liên ngành trong nghiên cứu du lịch. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo thống kê, niên giám của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch và các dự án quốc tế như Dự án Phát triển nguồn nhân lực Du lịch Việt Nam (Liên minh Châu Âu tài trợ) cùng Dự án VIE/031 (Đại Công quốc Luxembourg tài trợ) trong giai đoạn 2008-2012.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi với cỡ mẫu khảo sát gồm 350 cựu sinh viên đã tốt nghiệp và 60 nhà quản lý tại các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn đang sử dụng lao động do các trường trực thuộc Bộ đào tạo. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng tại 04 trường đại diện: Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội (miền Bắc), Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng (khu vực duyên hải Bắc Bộ), Trường Cao đẳng nghề Du lịch Huế (miền Trung) và Trường Cao đẳng nghề Du lịch Vũng Tàu (miền Nam). Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện vùng miền và phản ánh chính xác khoảng cách giữa đào tạo lý thuyết với thực tế vận hành tại doanh nghiệp. Quá trình xử lý dữ liệu sử dụng phần mềm thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và phương pháp chuyên gia trong mốc thời gian thực hiện từ năm 2012 đến năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô mạng lưới cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ còn quá khiêm tốn so với nhu cầu toàn quốc. Toàn hệ thống có 08 trường (01 trường cao đẳng chuyên nghiệp, 06 trường cao đẳng nghề, 01 trường trung cấp), chỉ chiếm 2,8% tổng số 284 cơ sở tham gia đào tạo du lịch của cả nước. Dù giữ vai trò định hướng nghiệp vụ, cả 08 trường chỉ đào tạo từ bậc cao đẳng trở xuống, hoàn toàn vắng bóng bậc đại học và sau đại học, đồng thời mạng lưới phân bố chủ yếu tại các đô thị lớn, thiếu vắng cơ sở tại vùng trọng điểm Tây Bắc và Tây Nam Bộ.

Thứ hai, cơ cấu ngành nghề đào tạo có sự mất cân đối cục bộ. Tỷ trọng đào tạo tập trung áp đảo ở khối lưu trú và nhà hàng với nghiệp vụ Buồng chiếm 35,30%, Bàn - Bar chiếm 14,80%, Chế biến món ăn chiếm 15,00%, trong khi khối Lữ hành và Hướng dẫn viên chỉ chiếm 10,40% và Lễ tân chiếm 9,00%. Sự chênh lệch này dẫn đến tình trạng dư thừa cục bộ lao động bậc thấp nhưng thiếu hụt nhân lực quản trị điều hành và hướng dẫn viên quốc tế thông thạo ngoại ngữ.

Thứ ba, hiệu quả đào tạo sau tốt nghiệp còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn về chất lượng. Tỷ lệ cựu sinh viên tìm được việc làm trong vòng 6 tháng đầu sau tốt nghiệp đạt mức cao (khoảng 78%), nhưng tỷ lệ đáp ứng ngay yêu cầu công việc mà không cần đào tạo lại chỉ đạt dưới 42%. Kết quả khảo sát 60 doanh nghiệp cho thấy hơn 55% nhà tuyển dụng đánh giá kỹ năng ngoại ngữ của sinh viên ở mức yếu và trung bình, 48% sinh viên thiếu kỹ năng mềm như giải quyết tình huống, làm việc nhóm và năng lực thích ứng với áp lực công việc.

Thứ tư, công tác liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp còn mang tính hình thức. Thời lượng sinh viên thực tập tại doanh nghiệp thường chỉ kéo dài từ 1 đến 2 tháng, chủ yếu làm các công việc sự vụ giản đơn, chưa tạo ra cơ chế "nhúng" người học vào môi trường vận hành thực tế một cách liên tục và thực chất.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các hạn chế trên xuất phát từ việc chương trình, giáo trình đào tạo chậm đổi mới, phương pháp giảng dạy còn nặng về thuyết trình lý thuyết và thiếu trang thiết bị thực hành đồng bộ chuẩn 4-5 sao. Mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp chưa được ràng buộc bằng các cam kết kinh tế - pháp lý cụ thể.

Khi đối chiếu với các mục tiêu của Dự án Tiêu chuẩn Kỹ năng nghề Du lịch Việt Nam (VTOS), các trường trực thuộc Bộ có ưu thế vượt trội về rèn luyện thao tác kỹ thuật cơ bản nhưng tụt hậu về năng lực giao tiếp đa văn hóa và tác phong công nghiệp. Dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa trực quan qua Biểu đồ phân bổ cơ cấu nghề nghiệp (với khối Buồng và Nhà hàng chiếm gần 65% quy mô) và Bảng đối chiếu năng lực ASK từ phía doanh nghiệp: Kiến thức chuyên môn đạt 70% mức hài lòng, Kỹ năng thực hành đạt 62%, Thái độ và kỷ luật đạt 58%, nhưng Năng lực ngoại ngữ và kỹ năng mềm chỉ đạt 38%. Kết quả này chứng minh rằng việc đào tạo tách rời thực tiễn doanh nghiệp chính là rào cản lớn nhất kìm hãm chất lượng nhân lực ngành Du lịch.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới triệt để chương trình và giáo trình đào tạo theo chuẩn đầu ra. Ban Giám hiệu các trường cần chủ động tích hợp bộ tiêu chuẩn nghề VTOS và khung trình độ nghề ASEAN vào 100% giáo trình chuyên ngành, nâng tỷ trọng thời lượng thực hành lên mức 60% - 70% tổng khóa học. Lộ trình thực hiện hoàn thành trong giai đoạn 2014-2016.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, giáo viên dạy nghề. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần ban hành cơ chế bắt buộc 100% giáo viên chuyên ngành phải tham gia thực tế tại các khách sạn, công ty lữ hành tiêu chuẩn quốc tế định kỳ tối thiểu 2 tháng/năm; phấn đấu đến năm 2018 có trên 50% giảng viên đạt chứng chỉ đào tạo viên quốc tế.

Thứ ba, hiện đại hóa cơ sở vật chất và hệ thống phòng thực hành mô phỏng. Các trường cần huy động nguồn vốn đầu tư công kết hợp xã hội hóa để nâng cấp hệ thống buồng mẫu, nhà hàng thực hành, quầy lễ tân ứng dụng phần mềm quản lý khách sạn hiện đại, giảm độ chênh lệch công nghệ giữa nhà trường và doanh nghiệp xuống dưới 10% trước năm 2017.

Thứ tư, thiết lập cơ chế liên kết chiến lược giữa Nhà trường và Doanh nghiệp. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Hiệp hội Du lịch Việt Nam cần xây dựng quy chế hợp tác đào tạo bắt buộc, mở rộng thời gian thực tập có trả lương tại doanh nghiệp lên 3-6 tháng, ký kết thỏa thuận cung ứng nhân lực với cam kết tuyển dụng tối thiểu 85% học sinh sinh viên đạt chuẩn sau tốt nghiệp giai đoạn 2015-2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch các địa phương): Sử dụng luận văn làm căn cứ khoa học và thực tiễn để hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực, phân bổ ngân sách đầu tư mạng lưới trường nghề và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
  • Ban Giám hiệu, phòng đào tạo và giảng viên các trường du lịch: Tham khảo khung chương trình mô-đun tích hợp, phương pháp giảng dạy chủ động và bộ chỉ số đánh giá năng lực ASK để tái cấu trúc chương trình đào tạo và đổi mới phương pháp giảng dạy.
  • Doanh nghiệp kinh doanh du lịch, khách sạn và lữ hành: Khai thác bức tranh thực trạng tay nghề sinh viên (với 35,30% nhân lực nghề buồng, 14,80% bàn bar) để xây dựng kế hoạch tiếp nhận thực tập, chuẩn hóa quy trình tuyển dụng và thiết kế chương trình đào tạo nội bộ tối ưu chi phí.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Du lịch, Quản trị nhân lực: Ứng dụng nguồn tư liệu học thuật giá trị, phương pháp khảo sát đa trung tâm (Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Vũng Tàu) và khung phân tích định lượng vào các công trình nghiên cứu về kinh tế du lịch.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thống 08 trường du lịch trực thuộc Bộ chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong mạng lưới đào tạo cả nước?
Hệ thống gồm 08 cơ sở (01 trường cao đẳng chuyên nghiệp, 06 trường cao đẳng nghề, 01 trường trung cấp) trên tổng số 284 cơ sở có đào tạo du lịch trên toàn quốc, tương đương tỷ lệ 2,8%. Dù chiếm tỷ lệ nhỏ về số lượng, đây là các đơn vị nòng cốt định hướng chuẩn kỹ năng nghề cho toàn ngành.

Nghề nào chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nhân lực đào tạo của ngành Du lịch?
Nghiệp vụ Phục vụ Buồng chiếm tỷ trọng cao nhất với 35,30% tổng cơ cấu nhân lực, tiếp theo là Kỹ thuật Chế biến món ăn (15,00%), Phục vụ Bàn - Bar (14,80%), Lái xe/Tàu du lịch (10,60%), Quản trị lữ hành và Hướng dẫn viên (10,40%) và Lễ tân (9,00%).

Đâu là điểm yếu lớn nhất của sinh viên tốt nghiệp các trường du lịch trực thuộc Bộ?
Dữ liệu khảo sát từ 60 doanh nghiệp chỉ ra rằng điểm yếu lớn nhất là trình độ ngoại ngữ chuyên ngành (hơn 55% xếp loại yếu/trung bình), tiếp đến là thiếu hụt kỹ năng mềm, khả năng chịu áp lực và tính chuyên nghiệp trong giao tiếp phục vụ khách quốc tế.

Dự báo nhu cầu nhân lực du lịch trực tiếp của Việt Nam trong giai đoạn 2015-2020 thay đổi ra sao?
Nhu cầu lao động trực tiếp tăng từ 485.000 người năm 2012 lên khoảng 620.000 người vào năm 2015 và đạt 870.000 người vào năm 2020, tương ứng tốc độ tăng trưởng bình quân 7-8%/năm; lao động gián tiếp đến năm 2020 cần từ 2,2 đến 2,5 triệu người.

Tại sao luận văn nhấn mạnh giải pháp "nhúng" sinh viên vào môi trường doanh nghiệp?
Mô hình "nhúng" sinh viên từ 3 đến 6 tháng giúp người học tích hợp kiến thức lý thuyết với thao tác nghiệp vụ thực tế, nâng tỷ lệ làm việc đúng chuyên ngành lên trên 85% và giúp doanh nghiệp giảm hơn 30% chi phí đào tạo lại sau tuyển dụng.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về đào tạo nhân lực du lịch, khẳng định vai trò quyết định của người thầy và mô hình năng lực ASK trong giáo dục nghề nghiệp.
  • Phân tích sâu sắc thực trạng 08 trường trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2008-2012, chỉ rõ tỷ lệ khiêm tốn 2,8% cùng khoảng trống thiếu hụt đào tạo bậc đại học và sau đại học.
  • Đánh giá thực chứng cơ cấu đào tạo qua số liệu khảo sát tại 04 trường tiêu biểu, làm rõ sự lệch pha giữa tỷ trọng nghề Buồng (35,30%) với nhóm Lữ hành - Hướng dẫn viên (10,40%).
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn liền với lộ trình 2014-2020, tập trung vào đổi mới giáo trình VTOS, nâng cấp cơ sở vật chất và chuẩn hóa giảng viên.
  • Xác lập mô hình liên kết Nhà trường - Doanh nghiệp là giải pháp đột phá nâng cao năng lực cạnh tranh cho du lịch Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế.

Công trình đóng góp luận cứ khoa học và thực tiễn đắc lực cho sự nghiệp đổi mới giáo dục nghề nghiệp du lịch quốc gia. Các nhà quản lý giáo dục, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp du lịch hãy chủ động tăng cường liên kết, triển khai đồng bộ các giải pháp đào tạo chuẩn hóa ngay hôm nay nhằm kiến tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao cho tương lai.