CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cán bộ và công chức a. Khái niệm cán bộ “Cán bộ” là thuật ngữ được sử dụng từ nhiều thập kỷ lâu nay ở trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Việt Nam.
Có nhiều cách hiểu về cán bộ có thể kể đến như: “Cán bộ dùng để chỉ những người có chức vụ, cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có vai trò tác động đến hoạt động của tổ chức và những quan hệ trong lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, điều hành, góp phần định hướng đối với sự phát triển của tổ chức” [26,tr8] “Cán bộ là những người đưa chính sách của Đảng và Chính phủ để giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời báo cáo tình hình của dân chúng đến Đảng, Chính phủ để hiểu rõ nhằm đặt ra chính sách đúng. Vì vậy cán bộ là cái gốc của mọi việc”[ 26,tr8] Theo điều 4, Luật cán bộ, công chức 2008, “Cán bộ được hiểu là công dân nước ta, được bầu cử, bổ nhiệm, phê chuẩn giữ chức danh, chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước ta, trong các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp Trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp huyện, trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [25, Điều 4] Như vậy, có thể hiểu thuật ngữ “cán bộ” dùng để chỉ những người giữ chức danh bầu cử, bổ nhiệm, điều động để làm việc trong các tổ chức chính trị - xã hội, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, chịu sự điều chỉnh của Luật cán bộ, công chức. Khái niệm công chức 8 n Công chức là khái niệm gắn liền với sự ra đời/ xuất hiện công chức từ các quốc gia tư bản phương Tây.
Giai đoạn của nửa cuối thế kỷ XIX, “công chức là thuật ngữ dung để chỉ các công dân được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của chính quyền ở Trung ương hoặc địa phương, ở trong nước hoặc nước ngoài, họ đã được xếp vào một ngạch nhất định và hưởng lương ngân sách nhà nước”[89,tr9]. Định nghĩa về công chức Theo cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, đó là: “Người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong một cơ quan nhà nước ở Trung ương hoặc ở địa phương, dành tất cả thời gian để làm việc thường xuyên, được xếp vào hệ thống ngạch bậc và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, có tư cách pháp lý của nhà nước khi thi hành công vụ” [89,tr9]. Theo quy định của Luật cán bộ, công chức 2008: “Công chức là công dân nước ta, được bầu cử, bổ nhiệm, phê chuẩn giữ chức danh, chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước ta, trong các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp Trung ương; ở cấp tỉnh; ở cấp huyện; ở trong đơn vị thuộc Quân đội nhân dân (trừ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng); ở trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân (trừ sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); và ở trong bộ máy quản lý, lãnh đạo của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng và Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy quản lý, lãnh đạo của đơn vị sự nghiệp công lập thì hưởng lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định pháp luật”[25,Điều 4]. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã Tại khoản 3, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định: “Cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử theo nhiệm kỳ, giữ chức vụ trong UBND, Thường trực HĐND, Bí thư và Phó bí thư Đảng uỷ, người 9 n đứng đầu các tổ chức chính trị - xã hội”[28,Điều 4].
“Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh nghiệp vụ chuyên môn thuộc UBND xã, có trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[28,Điều 4]. Các chức danh cán bộ, công chức cấp xã Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, ngày 22/10/2009 của Chính Phủ đã quy định về chức danh, số lượng, chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động bán chuyên trách ở cấp xã. - Cán bộ cấp xã gồm các chức vụ sau: + Bí thư và Phó bí thư Đảng uỷ: Là chức danh chuyên trách công tác Đảng ở Đảng bộ, chi bộ (nơi chưa thành lập Đảng bộ) xã, phường, thị trấn, có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ, cùng tập thể đảng uỷ, chi uỷ lãnh đạo toàn diện đối với hệ thống chính trị ở cơ sở trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước trên địa bàn xã, phường, thị trấn + Chủ tịch và Phó chủ tịch HĐND: Là chức danh chuyên trách của HĐND cấp xã, chịu trách nhiệm chỉ đạo, lãnh đạo trong tổ chức thực thi chức năng, nhiệm vụ của HĐND cấp xã, đảm bảo phát triển KT-XH, trật tự an toàn XH, an ninh chính trị tại địa bàn cấp xã. + Chủ tịch và Phó chủ tịch UBND: Là chức danh chuyên trách lãnh đạo UBND cấp xã, chịu trách nhiệm chỉ đạo, lãnh đạo, điều hành quá trình hoạt động quản lý Nhà nước và hoạt động của UBND về những lĩnh vực KT-XH, quốc phòng, an ninh đã được phân công tại địa bàn cấp xã.
+ Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam: Là cán bộ chuyên trách đứng đầu Uỷ ban Mặt 10 n trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn; chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của điều lệ của tổ chức đoàn thể, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. - Công chức cấp xã gồm các chức danh sau: + Trưởng công an; + Chỉ huy trưởng quân sự; + Văn phòng – thống kê; + Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (khu vực các xã) hoặc địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (khu vực các phường, thị trấn); + Tài chính - kế toán; + Tư pháp – hộ tịch; + Văn hoá – xã hội. Công chức có nhiệm vụ chung: Là đảm đương công tác chuyên môn thuộc UBND cấp xã; có trách nhiệm tham mưu giúp UBND cấp xã quản lý Nhà nước về các lĩnh vực (Văn phòng, Tài chính, Địa chính, Tư pháp, Văn hoá -Xã hội, Quân sự, Công an) và thực hiện một số nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp xã giao. Tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức cấp xã Căn cứ Quyết định 04/2004/QĐ-BNV, ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ Nội vụ đã quy định về tiêu chuẩn cán bộ, công chức cấp xã như sau: * Tiêu chuẩn chung - Có lòng yêu nước sâu sắc, kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc kết hợp với CNXH; có năng lực và kỹ năng tổ chức vận động người dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương có kết quả; - Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, chuyên tâm thạo việc vì nhân 11 n dân.
Kiên quyết tranh đấu chống tham nhũng và không tham nhũng. Có ý thức kỷ cương kỷ luật trong công tác; - Trung thực thẳng thắn, không cơ hội chủ nghĩa, có phong cách gần gũi nhân dân, được nhân dân tín nhiệm; - Có trình độ am hiểu lý luận chính trị, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; có học vấn, trình độ chuyên môn, đủ khả năng và sức khoẻ làm việc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao có hiệu quả. * Tiêu chuẩn cụ thể - Trình độ chuyên môn + Đối với chức danh Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ xã: Ở khu vực đồng bằng và đô thị có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên. Ở khu vực miền núi phải bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (chí ít từ trình độ sơ cấp trở lên), nếu lần đầu tham gia giữ chức vụ phải có trình độ trung cấp chuyên môn tối thiểu.
Đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ xây dựng Đảng, nghiệp vụ về quản lý hành chính công, nghiệp vụ về quản lý kinh tế. + Đối với chức danh Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND xã: Có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên đối với khu vực đồng bằng. Với khu vực miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn tương đương trình độ sơ cấp trở lên. Trình độ nghiêp vụ chuyên môn phải phù hợp với đặc điểm của kinh tế - xã hội ở từng đơn vị cấp xã.
Đã qua lớp bồi dưỡng quản lý hành chính công, nghiệp vụ về quản lý kinh tế, kiến thức và kỹ năng hoạt động đại biểu dân cử cấp xã. + Đối với chức danh Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND xã: Ở khu vực đồng bằng, có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên. Khu vực miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn (trình độ sơ cấp trở lên), nếu lần đầu giữ chức vụ phải có từ trình độ trung cấp chuyên môn trở lên. Ngành chuyên môn phải phù hợp với đặc điểm về tình hình kinh tế - xã hội ở từng đơn vị hành chính cấp xã.
Đã được bồi dưỡng nghiệp vụ về quản lý hành chính công, về 12 n quản lý kinh tế. + Đối với chức danh Chủ tịch MTTQ và trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội cấp xã: Đã được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ lĩnh vực công tác mà cán bộ đang đảm nhiệm tương đương trình độ sơ cấp trở lên. + Đối với chức danh công chức xã: Phải có trình độ Trung cấp chuyên môn phù hợp với chức danh công chức. - Trình độ lý luận: + Đối với những chức danh về Bí thư và Phó bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch và Phó chủ tịch UBND, HĐNĐ: Phải có trình độ từ Trung cấp lý luận trở lên; + Đối với Chủ tịch MTTQ và trưởng các đoàn thể chính trị -xã hội: Phải có trình độ Sơ cấp lý luận.
+ Đối với các chức danh công chức: Phải có trình độ Sơ cấp lý luận.