CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI ĐỊA PHƯƠNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Người lao động 1. Lao động Khái niệm về lao động có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng suy đến cùng, lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người với con vật, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho đời sống con người.Mác “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [2, tr.
Ăng ghen viết: “Lao động là nguồn gốc của mọi của cải. Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải. Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân loài người” [3, tr.641] Như vậy, có thể nói lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình. Nói cách khác, trong bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để tồn tại và phát triển của xã hội.
Người lao động Theo Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) thì người lao động được hiểu là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm. Tại Điều 3 Bộ Luật Lao động Việt Nam sửa đổi bổ sung năm 2012 thì: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”[10, tr.3] => Như vậy người lao động có những đặc điểm sau: - Là người trong độ tuổi quy định. - Có khả năng lao động. - Đang làm việc hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm.2 Nghề Nghề là một hình thức lao động sản xuất nào đó trong xã hội.
Khái niệm nghề cho đến nay vẫn còn có nhiều khái niệm khác nhau. Ở mỗi quốc gia, mỗi người lại có một khái niệm riêng. Ở Anh nghề được hiểu là một công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học, trong nghệ thuật. Ở Nga nghề được định nghĩa là một loại hoạt động đòi hỏi sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn.
Ở Pháp khái niệm nghề lại được định nghĩa là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của con người để từ đó tìm được phương tiện sống. Theo từ điển Tiếng việt (2010), nghề được định nghĩa như sau: “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội.451] Từ những định nghĩa trên ta có thể thấy rằng nghề vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội. Cho dù nghề được hiểu theo khái niệm nào đi nữa thì nghề vẫn mang các nét đặc trưng nhất định là: 11 - Nghề là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi lặp lại. - Nghề là sự phân công lao động xã hội phù hợp với yêu cầu của xã hội.
- Nghề là phương tiện để sinh sống. - Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội, đòi hỏi phải có quá trình đào tạo nhất định. Đào tạo nghề 1.Đào tạo Theo từ điển Tiếng Việt (2010), đào tạo được hiểu là: “Làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định.279] Theo giáo trình Quản trị nhân lực, tập 2 của trường Đại học Lao động Xã hội thì: “Đào tạo là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động tiếp thu và rèn luyện các kỹ năng cần thiết để thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình.61] => Như vậy đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lý thuyết và thực hiện, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết. Đào tạo nghề Hiện nay, đang tồn tại nhiều định nghĩa về đào tạo nghề: - Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì dạy nghề là cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến công việc nghề nghiệp được giao”.
- Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 thì: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”.1] 12 Đào tạo nghề cho người lao động được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp: - Theo nghĩa rộng: Đào tạo nghề gồm đào tạo tay nghề và những kiến thức tổng hợp. Vì vậy, đào tạo nghề bao hàm cả đào tạo văn hóa (làm nền tảng cho đào tạo nghề); đào tạo nghề nghiệp (nội dung chính là đào tạo chuyên môn theo từng nghề nghiệp của người lao động, hoạt động chính của người lao động ở chuyên môn này); đào tạo kiến thức về kinh tế thị trường, pháp luật, tổ chức cuộc sống… - Theo nghĩa hẹp: Đào tạo nghề theo chuyên môn của người lao động, trong đó đào tạo nghề tập trung đào tạo chuyên môn theo từng nghề nghiệp của người lao động. Các nội dung về nâng cao trình độ văn hóa, đào tạo những kiến thức chung ngoài các kiến thức chuyên sâu về nghề nghiệp không được đề cập theo phạm vi nghĩa hẹp. => Có thể thấy, đào tạo nghề là khâu quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, tuy nó không trực tiếp tạo ra việc làm ngay nhưng nó lại là yếu tố cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc.
Đào tạo nghề giúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để từ đó họ có thể xin việc tại các cơ quan, doanh nghiệp hoặc có thể tự tạo việc làm. Nội dung công tác đào tạo nghề cho người lao động Công tác đào tạo nghề cho người lao động bao gồm những nội dung chủ yếu sau: 1. Xác định nhu cầu đào tạo nghề Nhu cầu đào tạo nghề là mong muốn được tham, được hiểu biết và thực hành về một và một số nghề phù hợp với điều kiện của mỗi người lao động. Nó là cơ sở quan trọng để hệ thống đào tạo nghề, chuẩn bị các điều kiện đào tạo nghề như: Xây dựng hệ thống đào tạo chuẩn bị các điều kiện vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đào tạo nghề.
Nhu cầu đào tạo cũng có thể 13 được tính toán từ việc xem xét các điều kiện vật chất và con người có thể huy động cho đào tạo nghề với nhu cầu từ sự phát triển KT - XH. Việc xem xét các mối tương quan giữa nhu cầu xã hội và khả năng về các điều kiện có thể huy động là quy trình hợp lý nhất để xác định nhu cầu đào tạo nghề của một quốc gia, một vùng, một địa phương trong thời gian nhất định. Mặt khác cũng cần xem xét tới đối tượng của hoạt động đào tạo nghề, những người học nghề với nhu cầu thực sự của chính họ để có thể tham gia vào quá trình đào tạo nghề, xác định khoảng cách giữa kiến thức và kỹ năng cần có khi tham gia lao động và những kiến thức, kỹ năng mà người học hiện có. Xác định mục tiêu đào tạo nghề Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.
Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13, ở Việt Nam có 3 cấp trình độ đào tạo, đó là: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề. Trong đó, mỗi một trình độ có một mục tiêu chung. - Trình độ sơ cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc đơn giản của một nghề; - Trình độ trung cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ sơ cấp và thực hiện được một số công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm; - Trình độ cao đẳng để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ trung cấp và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công 14 nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc. Trên cơ sở xác định nhu cầu và để đảm bảo công tác đào tạo nghề cho người lao động đạt hiệu quả, thì cần phải xác định rõ một số mục tiêu sau: - Nâng cao quy mô và chất lượng đào tạo nghề cho người lao động đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và hội nhập kinh tế Quốc tế.
- Đào tạo nghề cho người lao động nhằm tạo ra bước đột phá tăng năng xuất lao động.