đặt vấn đề đất đai vào hiến pháp của Nhà nước mình nhằm quản lý và sử dụng đất đai sao cho hiệu quả nhất. Đây cũng là mối quan tâm bức thiết hàng đầu của nước ta. Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện quản lý. Một trong những công cụ quản lý hết sức quan trọng của công tác quản lý đất đai của nhà nước là đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Cấp GCNQSDĐ (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) là một trong mười ba nội dung quản lý Nhà nước về đất đai theo luật đất đai đã quy định. Nhà nước giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình để sử dụng ổn định, lâu dài: Cấp GCNQSDĐ là nhằm xác lập, đảm bảo quyền sử dụng, đầu tư, bồi bổ, sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả, đồng thời còn là cơ sở để cho các chủ sử dụng đất thực hiện các quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, c 2 bảo lãnh vv… Thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Nhà nước còn nắm chắc được tài nguyên đất làm cơ sở pháp lý để giải quyết các quan hệ về đất đai. Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo pháp luật đất đai đã quy định. Đặc biệt là ngày nay khi mà nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng tăng, đất đai trở nên có giá trị thì công việc này càng đóng vai trò hết sức quan trọng.
Nhận thức được thực tiễn và tầm quan trọng của công tác điều tra đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất, với vai trò là một sinh viên đang thực tập tốt nghiệp, được sự nhất trí của Ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Quản Lý Tài Nguyên. Với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo GS.TS Đặng Văn Minh, cùng với sự chấp nhận của UBND xã Lục Hồn, em tiến hành xây dựng và triển khai nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Lục Hồn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013 - 2016” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Mục tiêu chung. Tìm hiểu tình hình và đánh giá thực trạng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Lục Hồn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013 - 2016. Nhằm xác định những thuận lợi khó khăn, từ đó đề xuất những giải pháp cho việc CGCNQSD đất, góp phần quản lí chặt chẽ đất đai trên địa bàn xã.
Mục tiêu cụ thể. - Đánh giá thực trạng của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Lục Hồn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh. - Đánh giá những thuận lợi, khó khăn của công tác đăng kí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Lục Hồn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh. c 3 - Đề xuất những giải pháp thích hợp để góp phần giải quyết khó khăn, tồn tại và làm tăng tiến độ của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Lục Hồn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.3 Ý nghĩa của đề tài 1.1 Đối với việc học tập Việc hoàn thành đề tài sẽ là cơ hội cho sinh viên củng cố kiến thức đã học, đồng thời là cơ hội cho sinh viên tiếp cận với thực tế nghề nghiệp trong tương lai.2 Đối với thực tiễn xã hội Đề xuất những giải pháp thích hợp với thực tế địa phương góp phần hoàn thành công tác cấp GCNQSD đất và quản lý đất được tốt hơn trong thời gian tới.
c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lí luận • Khái niệm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất, (Khoản 16, Điều 3, Luật Đất đai, 2013) [6]. • Sự cần thiết phải cấp giấy CNQSDĐ Cấp giấy CNQSDĐ là một đòi hỏi tất yếu khách quan của nhà nước và người sử dụng vì: - Giấy CNQSDĐ là cơ sở để nhà nước quản lý chặt chẽ cho toàn bộ đất đai theo đúng pháp luật. Là cơ sở để bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai.
- Giấy CNQSDĐ là chứng thư pháp lý xác định quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất. - Giấy CNQSDĐ là cơ sở để người sử dụng đất thực hiện các quyền: chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, cho thuê… - Giấy CNQSDĐ là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai. • Đặc điểm của công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận - Đăng ký cấp GCN mang tính đặc thù của Nhà Nước. - Đối tượng của đăng ký cấp GCN là đất đai.
- Đăng ký cấp GCN phải thực hiện từ đơn vị cấp xã, phường, thị trấn. c 5 • Ý nghĩa của công tác đăng ký cấp GCNQSD đất. - GCNQSD đất xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa người sử dụng đất với Nhà nước. - Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ góp phần ổn định xã hội, giúp cho người dân yên tâm đầu tư sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Đồng thời tạo điều kiện cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai được tốt hơn. • Tổ chức thực hiện Việc tổ chức thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do tổng cục địa chính (hay Bộ Tài Nguyên và Môi Trường) chỉ đạo tổ chức thực hiện. • Hồ sơ địa chính: Khái niệm hồ sơ địa chính được quy định như sau: Hồ sơ địa chính là tập hợp tài liệu thể hiện thông tin chi tiết về hiện trạng và tình trạng pháp lý của việc quản lý, sử dụng các thửa đất, tài sản gắn liền với đất để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai và nhu cầu thông tin của các tổ chức, cá nhân có liên quan (Điều 3, Thông tư 24, 2014) [5]. Hồ sơ địa chính được quy định như sau: 1.
Hồ sơ địa chính bao gồm các tài liệu dạng giấy hoặc dạng số thể hiện thông tin chi tiết về từng thửa đất, người được giao quản lý đất, người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, các quyền và thay đổi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính và việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính; lộ trình chuyển đổi hồ sơ địa chính dạng giấy sang hồ sơ địa chính dạng số, (Điều 96, Luật Đất đai, 2013) [6]. Nguyên tắc lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính quy định 1. Hồ sơ địa chính được lập theo từng đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn.
Việc lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính phải theo đúng trình tự, thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật đất đai. Nội dung thông tin trong hồ sơ địa chính phải bảo đảm thống nhất với Giấy chứng nhận được cấp (nếu có) và phù hợp với hiện trạng quản lý, sử dụng đất, (Điều 5,Thông tư 24, 2014) [5]. Trách nhiệm lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính 1. Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thực hiện các công việc sau: a) Tổ chức thực hiện việc đo đạc lập bản đồ địa chính, sổ mục kê đất đai; b) Chỉ đạo thực hiện chỉnh lý, cập nhật biến động bản đồ địa chính, sổ mục kê đất đai; lập, cập nhật và chỉnh lý biến động thường xuyên sổ địa chính và các tài liệu khác của hồ sơ địa chính ở địa phương.
Văn phòng đăng ký đất đai chịu trách nhiệm thực hiện các công việc sau: a) Thực hiện chỉnh lý biến động thường xuyên đối với bản đồ địa chính, sổ mục kê đất đai: b) Tổ chức lập, cập nhật, chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính ngoài các tài liệu quy định tại Điểm a Khoản này; c) Cung cấp bản sao bản đồ địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai (dạng số hoặc dạng giấy) cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) sử dụng. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện các công việc quy định tại Khoản 2 Điều này đối với các đối tượng sử dụng đất, được Nhà nước giao quản lý đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất thuộc thẩm quyền giải quyết thủ tục đăng ký. Địa phương chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất các cấp thực hiện các công việc theo quy định như sau: c 7 a) Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường (sau đây gọi là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh) chủ trì tổ chức việc lập sổ địa chính; cung cấp tài liệu đo đạc địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường (sau đây gọi là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện); thực hiện cập nhật, chỉnh lý các tài liệu hồ sơ địa chính quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 2 Điều này đối với các thửa đất của các tổ chức, cơ sở tôn giáo, cá nhân nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; b) Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện thực hiện cập nhật, chỉnh lý các tài liệu hồ sơ địa chính quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 2 Điều này đối với các thửa đất của các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam; cung cấp bản sao bản đồ địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai cho Ủy ban nhân dân cấp xã sử dụng. Ủy ban nhân dân cấp xã cập nhật, chỉnh lý bản sao tài liệu đo đạc địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai đang quản lý theo quy định tại Thông tư này để sử dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý đất đai ở địa phương, (Điều 6, Thông tư 24, 2014) [5].