Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, yếu tố cấu thành lên lãnh thổ mỗi quốc gia. Là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, giới hạn về diện tích. Là địa bàn phân bố dân cư, nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội , an ninh quốc phòng. Những năm gần đây, do chính sách mở cửa của nền kinh tế, thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài.
Việc đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước dẫn đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng diễn ra ồ ạt, cùng với nó là nhu cầu sử dụng đất cho các hoạt động: Nhà ở, kinh doanh, dịch vụ ngày càng phát triển, dẫn đến việc quỹ đất nông nghiệp ngày càng giảm mạnh, bùng nổ dân số cũng là một trong những nguyên nhân làm cho nhu cầu sử dụng đất tăng cao dẫn đến thị trường đất đai trở lên sôi nổi, phức tạp.Trong khi đó nhu cầu về lương thực ngày càng tăng nhanh gây áp lực đối với nhà quản lý đất đai, đồng thời nó đã làm cho giá trị quyền sử dụng đất tăng lên nhanh chóng. Vấn đề cấp bách đặt ra cho công tác quản lý nhà nước về đất đai là phải có những biện pháp quản lý chặt chẽ và có hiệu quả. Nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cũng như tránh xảy ra tranh chấp đất đai gây mất trật tự xã hội. Xuất phát từ nhu cầu thực tế phát triển và hội nhập, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến việc hoàn thiện hệ thống pháp Luật Đất đai.
Hiến pháp năm 1992 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý” và “Nhà nước thông nhất quản lý toàn bộ đất đai theo theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”. Tiếp đó là Luật đất đai các năm 1988, 1993, 2003, 2013, các luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật các năm 1998, 2001 cùng các văn bản pháp luật có liên quan. Trong đó sự ra đời của Luật đât đai 2003, 2013 được xem như môt bước đột phá trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà nước quản lý chặt quỹ đất của mình c 2 người sử dụng đất có điều kiện phát huy tối đa tiềm năng của đất để phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo. Luật Đất đai 1988 ra đời nhưng trước sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường, chỉ trong 5 năm đưa vào sử dụng đã bộc lộ nhiều hạn chế trong công tác quản lý và sử dụng.
Luật Đất đai 1993 ra đời nhằm khắc phục những hạn chế của Luật Đất đai 1988, nhưng chỉ áp dụng trong vòng 10 năm đã phải sửa đổi 2 lần vào năm 1998 và năm 2001 để đáp ứng những yêu cầu của sự phát triển. Sự ra đời của Luật Đất đai 2003 và 2013 được xem như là bước đột phá trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà nước quản lý chặt quỹ đất của mình và người sử dụng đất có điều kiện phát huy tối đa tiềm năng của đất để phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo. Một nội dung quan trọng trong 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai được đưa ra trong Luật Đất đai 2013 là: “Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Nội dung này thể hiện được mối quan hệ giữa nhà nước và người sử dụng đất, là chứng thực pháp lý, cơ sở và căn cứ quan trọng cho người sử dụng đất được đảm bảo khi khai thác sử dụng và bảo vệ đất.
Vì vậy công tác đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã và đang là vấn đề cấp thiết hiện nay. Xuất phát từ yêu cầu thực tế, được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và dưới sự hướng dẫn của cô giáo Vũ Thị Thanh Thủy , em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Thành phố giai đoạn 2014-2016” 1. Mục tiêu của đề tài -Tìm hiểu thực trạng CGCNQSDĐ tại thành phố Bắc Kạn - Đánh giá kết quả công tác cấp GCNQSD đất trên địa bàn thành phố giai đoạn 2014-2016. - Xác định những thuận lợi và khó khăn trong công tác và đề xuất giải pháp làm tăng tiến độ công tác cấp GCNQSD đất trên địa bàn thành phố - Đề xuất một số giải pháp đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thành phố c 3 1.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học. - Có cơ hội học hỏi và rút ra được nhiều kiến thức thực tế, nhất là trong công tác cấp GCNQSD đất, từ đó đưa ra được những đánh giá và nhận định riêng về công tác này trong giai đoạn hiện nay. - Nắm vững những quy định của Luật đất đai năm 2013 và những văn bản dưới luật về đất đai của trung ương và ở địa phương trong công tác CGCNQSD đất.
Ý nghĩa trong thực tiễn - Đưa ra các kiến nghị và đề xuất với các cấp có thẩm quyền để đề ra những giải pháp phù hợp để công tác cấp GCNQSD đất nói riêng và công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung được tốt hơn. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và pháp lí của công tác cấp GCNQSD đất 2. Vai trò của công tác cấp GCNQSD đất đối với công tác quản lý Nhà nước về đất đai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất.
Đảm bảo của Nhà nước đối với người sử dụng đất: - Bảo hộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người sử dụng đất. - Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. - Khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật. - Có chính sách tạo điều kiện cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối không có đất sản xuất do quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế được đào tạo nghề, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm.
- Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vai trò của công tác cấp GCNQSD đất đối với người sử dụng đất - GCNQSD đất là giấy tờ thể hiện mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với người sử dụng đất. c 5 - GCNQSD đất là điều kiện để người sử dụng đất được bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình sử dụng đất. - GCNQSD đất là điều kiện để đất đai được tham gia vào thị trường bất động sản.
Cơ sở thực tiễn Theo quyết định số 201/QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1989 của tổng cục quản lý ruộng đất về việc ban hành Quy định cấp GCNQSDĐ thì GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý xác lập mỗi quan hệ hợp pháp giữa nhà nước và người sử dụng đất. Vì vậy, GCNQSDĐ là cơ sở pháp lý để nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sử dụng đất của họ. Trong pháp luật về đất đai, GCNQSDĐ có vai trò quan trọng, là căn cứ để xây dựng các quy định cụ thể, như các quy định về đăng ký, theo dõi biến động, kiểm soát các giao dịch dân sự về đất đai. Trước đây do các thửa đất chưa có đầy đủ giấy chứng nhận nên nhà nước không thể kiểm soát được sự mua bán trao đổi đất đai.
Nếu các hộ gia đình cá nhân sử dụng đất mà có đầy đủ giấy GCNQSDĐ thì khi trao đổi mua bán trên thị trường phải trình GCNQSDĐ với cơ quan quản lý đất đai của nhà nước. GCNQSDĐ không những buộc người sử dụng đất phải nộp nghĩa vụ tài chính mà còn giúp cho họ được tiền đền bù thiệt hại về đất khi đất đai bị thu hồi. GCNQSDĐ còn giúp xử lý vi phạm về đất đai. Cấp giấy chứng nhận là vấn đề rất cần thiết hiện nay và theo quy định của Chính phủ đến năm 2007 tất cả các cuộc mua bán chuyển đổi quyền sử dụng đất trên thực tế phải có giấy chứng nhận.
Nếu không những mảnh đất đó coi như “ vô giá trị” , khồn được tham gia giao dịch chính thức trên thị trường. Đối với nhà nước: thông qua việc cấp GCNQSDĐ, nhà nước có thể quản lý đất đai trên toàn lĩnh thổ, kiểm soát được các cuộc mua bán giao dịch trên thị trường và thu được nguồn tài chính lớn. Hơn nữa, nó là căn cứ để lập QH, KH đất đai là tiền đề trong việc phát triển KT_XH. Đối với người sử dụng đất: Giúp cho các cá nhân hộ gia đình sử dụng đất yên tâm đầu tư trên mảnh đất của mình.
Vì trước đây, đất đai không có giá, chỉ sau khi có luật đất đai năm 1993 đất đai mới có giá. Do đó nhiều thửa đất còn ở dạng “ xin- cho”, không có giấy tờ chứng thực hoặc mua bán trao tay ( chỉ có giấy tờ viết c 6 tay), hoặc đất đai lấn chiếm. Nên theo luật đât đai năm 1993 và luật sửa đổi bổ sung năm 2001, rất nhiều thửa đất không đủ điều kiện đê cấp GCNQSDĐ nên người sử dụng đất rất mong muốn mảnh đất của mình được cấp GCNQSDĐ. Gần đây luật đất đai 2013 đã ra đời và giải quyết những vướng mắc đó, đã khắc phục những khó khăn trong công tác cấp GCNQSDĐ, để cố gắng hoàn thành việc này trong những năm tiếp theo.