MỞ ĐẦU 1. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong 13 nội dung Quản Lý Nhà Nước về đất đai quan trọng được qui định trong Luật đất đai năm 2003 nhằm xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và Người sử dụng đất, là một trong những chiến lược hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Không chỉ riêng Thanh Hoá mà hiện nay tất cả các địa phương trong cả nước đang ra sức tập trung rà soát lại thực trạng công tác cấp giấy chứng nhận QSDĐ, để kiện toàn công tác QLNN về đất đai và kịp thời tháo gỡ những vấn đề tồn tại trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật của Nhà Nước về đất đai. Tại Thanh Hóa công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có đất ở đã được tiến hành từ những năm 1993, được nhân dân ủng hộ và đã thu được kết quả tương đối tốt.
Tuy nhiên việc đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thời kỳ đó còn có nhiều bất cập như: toàn bộ diện tích đất vườn và đất ao liền kề đều được ghi là đất thổ cư, thời hạn cấp lâu dài và trước đây Xã Văn Nho thực hiện đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ 299, bản đồ địa chính cũ và mẫu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ. Do đó trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội như hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đã tỏ ra không còn phù hợp thực tiễn, đặc biệt trong những trường hợp thu hồi, giải phóng mặt bằng, tiền đền bù tăng gấp nhiều lần gây thiệt hại lớn cho ngân sách Nhà nước, đến năm 2007 thực hiện dự án tổng thể của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc đo đạc lập bản đồ số, lập lại hồ sơ địa chính thống nhất trên toàn tỉnh nên bản đồ địa chính Xã Văn Nho có nhiều thay đổi về: diện tích, hình thể, loại đất, đối tượng sử dụng đất. Trong thời gian này Chính Phủ ban hành mẫu giấy chứng e 2 nhận quyền sử dụng đất mới theo Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Trên cơ sở đó công tác đăng ký đất đai, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân để giấy chứng nhận của người sử dụng đất phù hợp với mẫu giấy chứng nhận và bản đồ địa chính mới nhằm lập lại và hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính thống nhất chung trên toàn tỉnh được thực hiện trong thời điểm hiện nay là vấn đề thiết yếu, giúp các cơ quan chức năng của tỉnh cũng như từng địa phương có thể quản lý tình hình sử dụng đất được chặt chẽ, hiệu quả và thống nhất ở ba cấp: Tỉnh, Huyện và Xã.
Đồng thời giúp người sử dụng đất yên tâm đầu tư khai thác hợp lý quỹ đất được giao, phát huy các quyền lợi cũng như thực hiện các nghĩa vụ theo pháp luật, nhằm đảm bảo lợi ích nhà nước và lợi ích chung của toàn xã hội trong sử dụng đất. Mặt khác làm cho việc sử dụng đất có hiệu quả hơn và hạn chế được các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai. Xuất phát từ thực tiễn và các vấn đề nêu trên được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Quản Lý Tài Nguyên, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th.S Hoàng Hữu Chiến em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Văn Nho, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 – 2014. Mục đích của đề tài.
- Tìm hiểu và đánh giá công tác cấp đổi GCNQSDĐ trên địa bàn xã Văn Nho, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 – 2014; - Giải quyết quá trình còn tồn tại trong quá trình cấp GCNQSDĐ; - Thực hiện công bằng nhằm ổn định tình hình chính trị trong địa phương cấp GCNQSDĐ nói riêng. Mục tiêu của đề tài. - Nắm được về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương; - Đánh giá kết quả đạt được của công tác đăng ký đất đai, cấp đổi GCNQSDĐ cho 15 xóm thuộc xã Văn Nho trong thời gian qua, chỉ ra thuận lợi, khó khăn và rút ra bài học kinh nghiệm để góp phần làm cho công tác đăng kí đất đai cấp GCNQSDĐ được hoàn thiện hơn; - Đề xuất một số phương án khắc phục những hạn chế tồn tại trong công tác đăng kí đất đai, cấp đổi GCNQSDĐ làm cơ sở để công tác QLNN về đất đai được chặt chẽ, thống nhất chung trên toàn quốc. Ý nghĩa của đề tài.
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: giúp sinh viên vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tế. - Ý nghĩa trong thực tiễn: Việc đánh giá công tác cấp đổi GCNQSDĐ sẽ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về công tác quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương, từ đó có thể đưa ra những giải pháp khả thi để giải quyết những khó khăn và hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất đai trong thời gian tới. e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của công tác đăng ký đất đai, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Những qui định chung về công tác đăng ký đất đai và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên toàn quốc. Ngày 2/9/1945, Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập đánh dấu mốc son lịch sử kể từ đây Nhà Nước Việt Nam được ra đời, Nhân Dân Việt Nam đã có tự do và dân tộc Việt Nam đã có lãnh thổ, các luật lệ, qui định về ruộng đất trước đây như: chế độ điền thổ ở Nam Kì, chế độ quản thủ địa chánh ở Trung Kì, chế độ điền thổ và quản thủ địa chánh ở Bắc Kì đều bị bãi bỏ. Ngày 4/12/1953 Quốc Hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ban hành luật cải cách ruộng đất với khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, Nhà Nước chủ trương tịch thu ruộng đất địa chủ giao cho nông dân, xác lập quyền sở hữu của họ trên đất đó. Trải qua quá trình thi hành những quy định của luật đất đai năm 1988, rồi luật đất đai năm 1993 cùng với những nghị định, thông tư của Tổng cục địa chính, công tác Quản Lý Nhà Nước về đất đai từng bước được hoàn thiện.
Tuy nhiên, đất nước đang trên đà đổi mới với sự hội nhập, mở cửa sâu sắc về mọi mặt đòi hỏi pháp luật Nhà Nước cần có sự thay đổi với những quy định cụ thể, phù hợp hơn, đặc biệt đối với công tác QLNN về đất đai (liên quan vấn đề lãnh thổ quốc gia). Luật đất đai năm 2003 ra đời với những sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản luật trước đó là bước ngoặt trong công tác QLNN đất đai, thể hiện quan điểm đổi mới về công tác quản lý, đặc biệt là sự cải cách thủ tục hành chính về đất đai của Nhà Nước ta. e 5 - Những quy định của Luật đất đai năm 2003 về vấn đề cấp đổi GCNQSDĐ. + UBND cấp Tỉnh tổ chức thực hiện việc khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính ở địa phương.
Bản đồ địa chính phải được lập theo một tiêu chuẩn thống nhất trên hệ thống tọa độ Nhà Nước và được lưu trữ tại cơ quan quản lý đất đai cấp Tỉnh, Huyện và UBND cấp Xã. + Đối với thẩm quyền cấp đổi GCNQSDĐ: UBND cấp Tỉnh có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, UBND cấp Tỉnh được quyền ủy quyền cho Sở Tài Nguyên và Môi Trường cấp đổi GCNQSDĐ, UBND cấp Huyện có thẩm quyền cấp đổi GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở. + Bộ TN&MT hướng dẫn lập và quản lý hồ sơ địa chính, bao gồm: Bản đồ địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê, sổ theo dõi biến động đất đai. Nội dung hồ sơ địa chính bao gồm các thông tin về thửa đất như: số hiệu, kích thước, hình thể, diện tích, vị trí, người sử dụng đất, nguồn gốc, mục đích, thời hạn sử dụng đất, giá đất, tài sản gắn liền với đất nghĩa vụ tài chính về đất đai đã thực hiện và chưa thực hiện, giấy CNQSDĐ, quyền và những hạn chế về quyền của Người sử dụng đất, biến động trong quá trình sử dụng đất và các thông tin khác có liên quan.
- Những quy định của Nghị Định 181/2004/NĐ-CP liên quan đến việc cấp đổi GCNQSD. + Trình tự, thủ tục đăng ký cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Người sử dụng đất có nhu cầu cấp đổi GCNQSDĐ nộp một bộ hồ sơ gồm: Đơn đề nghị cấp đổi GCNQSDĐ và GCNQSDĐ cũ. Việc cấp đổi GCNQSDĐ được quy định cụ thể như sau: Văn phòng ĐKQSDĐ có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, e 6 làm trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đối với nơi chưa có bản đồ địa chính, xác nhận vào đơn xin đăng ký cấp đổi GCNQSDĐ; gửi trích lục bản đồ địa chính kèm theo đơn xin cấp đổi GCNQSDĐ đến cơ quan Tài Nguyên Và Môi Trường cùng cấp; Phòng TN&MT có trách nhiệm trình UBND cùng cấp ký GCNQSDĐ, thời gian quy định cho các bước công việc là không quá 28 ngày làm việc kể từ ngày Văn phòng ĐKQSDĐ nhận đủ hồ sơ hợp lệ cho đến ngày người sử dụng đất nhận được GCNQSDĐ. + Quy định đối với việc lập hồ sơ địa chính: Hồ Sơ địa chính phải được lập chi tiết đến từng thửa đất theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn; nội dung hồ sơ địa chính phải thể hiện đầy đủ, chính xác, kịp thời.
Hồ sơ địa chính được lập thành một bản gốc và hai bản sao, bản gốc lưu tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở TN&MT, bản sao lưu tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng TN&MT và UBND xã. Hồ sơ địa chính được lưu trữ trên giấy và từng bước chuyển sang dạng số để lưu trữ trên máy tính + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được sử dụng theo mẫu thống nhất trong cả nước đối với mọi loại đất do Bộ TN&MT ban hành + Thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ đối với trường hợp cấp đổi.