CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC 1. Những vấn đề chung về công chức và đánh giá công chức 1. Khái niệm công chức Theo khoản 1, Điều 1, Luật số 52/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật CBCC và Luật viên chức năm 2019), quy định về công chức: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Từ định nghĩa trên, tác giả rút ra được khái niệm: Công chức Sở Nông nghiệp và PTNT là công dân Việt Nam, được tuyển dụng thông qua hình thức thi tuyển và xét tuyển, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm của Sở Nông nghiệp và PTNT; thực hiện chức năng, nhiệm vụ tham mưu giúp Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT QLNN về các lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn ở địa phương theo quy định của pháp luật.
Đặc điểm công chức Theo khoản 2, Điều 1, Nghị định 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ (Nghị định 24/2014/NĐ-CP) quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm có sở và cơ quan ngang sở. 11 Điều 3, Nghị định 24/2014/NĐ-CP có quy định vị trí và chức năng của sở: “Sở là cơ quan thuộc UBND cấp tỉnh; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh QLNN về ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh”. Từ khái niệm trên, cho thấy công chức Sở Nông nghiệp và PTNT giống như công chức trong hệ thống cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, có đặc điểm chung: - Công chức là công dân Việt Nam; công chức được tuyển dụng, làm việc trong cơ quan của Nhà nước cấp tỉnh. - Được xác định trong biên chế cơ quan nhà nước.
- Thu nhập được chi trả từ ngân sách nhà nước. Ngoài đặc điểm chung, công chức Sở Nông nghiệp và PTNT có đặc điểm riêng như sau: Một là, hoạt động thực hiện thực thi công vụ cho công tác QLNN tại địa phương về lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn. Hai là, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với công việc đang đảm nhận; nắm vững và triển khai thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Nông nghiệp và PTNT. Ba là, công chức là người trực tiếp hướng dẫn, tuyên truyền cho cấp cơ sở thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến nhiệm vụ, lĩnh vực nông nghiệp và PTNT được phân công.
Bốn là, công chức là người trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo phòng, đơn vị thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, đề án, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch liên quan lĩnh vực nông nghiệp và PTNT. 12 Năm là, có mối quan hệ với các cơ quan nhà nước cấp trên và cấp cơ sở; tuân thủ và thực hiện các chỉ đạo, quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, báo cáo và cung cấp kịp thời các thông tin liên quan đến hoạt động của ngành. Phân loại công chức Phân loại công chức được hiểu là phân chia công chức thành từng nhóm theo những tiêu chí bắt buộc được pháp luật quy định, nhằm mục đích quản lý công chức. Đây cũng là cơ sở để nhà nước quy định việc tuyển chọn nhân sự, xác định tiền lương, các chế độ, chính sách một cách hợp lý và giúp cho việc cụ thể hóa việc ĐGCC.
Có nhiều cách phân loại công chức: - Phân theo tổ chức làm việc, công chức được chia làm 5 loại: (1) Công chức làm việc ở cơ quan Đảng; (2) Công chức làm việc ở cơ quan nhà nước; (3) Công chức làm việc ở tổ chức chính trị - xã hội; (4) Công chức trong Quân đội nhân dân; (5) Công chức trong Công an nhân dân. - Phân loại theo ngành, ngạch, bậc: Công chức ngành hành chính được chia thành 5 ngạch và mỗi ngạch đều có bậc khác nhau. Ngạch chuyên viên cao cấp có 06 bậc; ngạch chuyên viên chính có 08 bậc, ngạch chuyên viên có 09 bậc, ngạch cán sự có 10 bậc, ngạch nhân viên có 12 bậc. - Phân loại theo vị trí công tác: Theo khoản 2, Điều 34, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức được phân loại thành: Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
- Phân loại theo lĩnh vực ngành, nghề, chuyên môn, nghiệp vụ: Theo khoản 4, Điều 1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật Viên chức 2019, công chức được phân loại theo ngạch công chức tương ứng sau đây: - “Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; 13 - Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương; - Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương; - Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên; - Loại đối với ngạch công chức khác theo quy định của Chính phủ”. Theo quy định trên, công chức Sở Nông nghiệp và PTNT được phân loại theo ngành hành chính, gồm 05 ngạch: Chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự, nhân viên hoặc tương đương. Đánh giá công chức 1. Khái niệm về đánh giá công chức Theo từ điển Tiếng Việt: “Đánh giá là nhận định giá trị, gần nghĩa với phê bình, nhận xét, nhận định, bình luận, xem xét” [53].
Đánh giá là một quá trình nhận định, nhận xét về kết quả công việc, so sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu đề ra trước đó, nhằm đề xuất những giải pháp thích hợp để hạn chế tồn tại, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc. Đánh giá giúp lãnh đạo biết được công chức của mình thực thi công vụ như thế nào, mức độ hoàn thành công việc được giao có đảm bảo chất lượng, thời gian quy định không, từ đó xác định được các giải pháp đảm bảo cho công chức thực thi công vụ được tốt hơn. Để hoạt động đánh giá thực hiện một cách chính xác, khách quan, khoa học, đúng thực chất thì công tác thực hiện đánh giá phải đảm bảo đúng mục đích, yêu cầu, phải có quy trình đánh giá rõ ràng. ĐGCC làm việc trong tổ chức, cơ quan, đơn vị đây là công việc khó khăn và phức tạp, do nó tiếp cận nhiều khía cạnh của công chức, liên quan đến quy định của pháp luật và tình hình thực tiễn tại cơ quan, đơn vị; ĐGCC 14 là một biện pháp quản lý công chức hoặc là biện pháp nhằm xác định năng lực, kỹ năng, hiệu quả làm việc của từng công chức.
Theo Thạc sĩ Trịnh Xuân Thắng cho rằng: “ĐGCC là một trong các biện pháp quản lý thông qua việc sử dụng những tiêu chí và phương thức nhất định nhằm làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao hay ĐGCC là công việc mà các cơ quan HCNN tiến hành kiểm tra, khảo sát, thẩm định theo định kỳ hoặc không theo định kỳ về hiệu quả, thành tích công tác và tổ chức chính trị, kiến thức chuyên môn, năng lực làm việc của công chức làm cơ sở cho việc khen thưởng và kỷ luật, cất nhắc và điều chỉnh một cách hợp lý, công bằng đối với công chức” [46]. Theo Điều 55, Luật cán bộ, công chức 2008 quy định: “ĐGCC để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức”. Như vậy, từ quan niệm và quy định trên, tác giả đưa ra khái niệm ĐGCC Sở Nông nghiệp và PTNT: “ĐGCC Sở Nông nghiệp và PTNT là nội dung quản lý công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của công chức Sở Nông nghiệp và PTNT theo các tiêu chí đề ra, là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức”.
Muốn cho hoạt động ĐGCC được đảm bảo hiệu quả thì cần phải đảm bảo ba yếu tố: 15 - Tiêu chí đánh giá là các nội dung, yêu cầu mà cơ quan, đơn vị đặt ra dựa trên các quy định của pháp luật bắt buộc công chức đạt được để hoàn thành mục tiêu đề ra. Tiêu chí có các chỉ số đánh giá. - Chủ thể ĐGCC là cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện. - Phương pháp đánh giá là cách thức mà thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng để ĐGCC, hiện nay có rất nhiều phương pháp ĐGCC, việc áp dụng phương pháp đánh giá nào tùy thuộc vào mỗi cơ quan, đơn vị và tùy thuộc vào việc xác định mục tiêu đánh giá đã đề ra trước đó.
Như vậy, từ phân tích trên, khái niệm về ĐGCC được hiểu như sau: “ĐGCC là hoạt động do cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền đánh giá thông qua các tiêu chí, phương pháp, nội dung, quy trình để xác định phẩm chất, năng lực, hiệu quả thực thi công vụ của công chức để quản lý và sử dụng công chức một cách hiệu quả nhất”.