Chương 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU Chương này sẽ đưa ra các khái niệm, các khía cạnh cũng như các nội dung liên quan đến điều dưỡng, chương trình đào tạo điều dưỡng, một số yếu tố về đánh giá chương trình đào tạo, các nghiên cứu về đánh giá chương trình đào tạo. Một số khái niệm CO’ bản - Điều dưỡng-. Có rất nhiều định nghĩa, khái niệm về điều dưỡng, cho đến nay chưa có sự thống nhất về một định nghĩa chung, dưới đây là một số định nghĩa được đa số các nước công nhận. Theo quan điểm của Florent Nightingale (1860) thì điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ [23].
Theo quan điểm của Hội điều dưỡng Mỹ năm 1965 thì điều dưỡng là một nghề hỗ trợ cung cấp các dịch vụ chăm sóc đóng góp vào việc hồi phục và nâng cao sức khỏe [23]. Theo quyết định số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Bộ Nội Vụ thì: Điều dưỡng là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện, tổ chức thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa tại các cơ sở y tế [4]. - Năng lực điều dưỡng-. Bản mô tả các kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi yêu cầu cho hành nghề điều dưỡng [13].
- Chương trình đào tạo-. Chương trình đào tạo cấp đại học đầy đủ thường là 4 hoặc 5 năm hay cá biệt 6 năm, học liền một mạch. Các ngành đào tạo hẹp, chuyên sâu vào những năm cuối [3]. Đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học: “Chương trình khung” do Bộ giáo dục và Đào tạo phối họp với các Bộ chuyên ngành quy định, giáo trình do các trường biên soạn.
Chương trình khung là văn bản quy định mục tiêu đào tạo, khối lượng kiến thức tối thiểu, cơ cấu nội dung các khối kiến thức, tỷ lệ thời gian đào tạo giữa các môn học cơ bản, các môn học chuyên ngành, tỷ lệ thời gian lý thuyết và thực hành, 5 thực tập. Bộ thành lập các Hội đồng chuyên môn giúp thẩm định các chương trình khung và sách giáo khoa sử dụng chung [3]. - Đảnh giá chương trình'. Là sự thu thập cẩn thận các thông tin về một chương trình hoặc một vài khía cạnh của một chương trình để ra các quyết định cần thiết đối với chương trình [25].
Như vậy, đánh giá chương trình là những hoạt động có tính hệ thống, nằm trong một tiến trình; các hoạt động này nhằm kiểm tra toàn bộ các khía cạnh hay một khía cạnh của chương trình: đầu vào của chương trình, các hoạt động thực hiện chương trình, các nhóm khách hàng sử dụng chương trình, các kết quả (các đầu ra) và làm thế nào để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (Guiding Principles for Program Evaluation in Ontario Health Units, 1997). - Giáo dục đại học (GDĐH): Là một phần của hệ thống liên tục bắt đầu từ giáo dục mẫu giáo, tiểu học và giáo dục thường xuyên suốt đời. Sự đóng góp của GDĐH vào sự phát triển toàn bộ hệ thống giáo dục và tổ chức lại mối liên kết của nó với mọi cấp bậc của hệ thống giáo dục, đặc biệt là với giáo dục trung học, cần phải được ưu tiên. Giáo dục trung học cần phải chuẩn bị và tạo điều kiện để nhập học vào giáo dục đại học, đồng thời cung cấp một nền đào tạo rộng để chuẩn bị cho học sinh một cuộc sống tự lập [3] - Sự phù họp: Sự phù hợp của giáo dục đại học được đánh giá qua sự ăn khóp giữa những gì mà xã hội kỳ vọng và những gì mà nó đang làm.
Để có sự phù họp đó, nhà trường trong quan hệ chặt chẽ với the giới việc làm, cần dựa trên sự định hướng lâu dài về mục tiêu và nhu cầu của xã hội, kể cả những mối quan tâm về văn hóa và bảo vệ môi trường. Giáo dục đại học phải quan tâm phát triển các kỹ năng và tính sáng tạo [3]. Khái niệm sự phù họp là một khái niệm động, thay đổi tùy theo hoàn cảnh và khác nhau theo các nhóm đối tượng, vấn đề ai là người quyết định, điều gì là phù hợp được nêu lên. Một kểt luận được chấp nhận là: Sự phù họp chỉ có thể là kết quả của sự đối thoại và tham khảo ý kiến giữa các phía liên đới của Giáo dục đại học.
6 - Chất lượng: Chất lượng trong Giáo dục đại học là một khái niệm đa chiều, bao trùm mọi chức năng và hoạt động của nó: giảng dạy và các chưong trình đào tạo, nghiên cứu và học thuật, đội ngũ, sinh viên, cấu trúc hạ tầng và môi trường học thuật. Cần đặc biệt chú ý việc nâng cao kiến thức thông qua nghiên cứu. Các trường Đại học trong mọi khu vực phải cam kết công khai việc đánh giá bên trong và bên ngoài, được tiến hành bởi các chuyên gia độc lập. Tuy nhiên cần chú ý đúng mức đến các bối cảnh của khu vực và quốc gia, của các trường cụ thể để có thể kể đến tính đa dạng và tránh sự đồng đều nhất loạt, cần thiết phải có một cái nhìn mới và mô hình mới của Giáo dục đại học, đó là giáo dục lấy sinh viên làm trung tâm [3].
Lịch sử phát triển ngành điều dưỡng 1. Lịch sử phát triển ngành điều dưững trên thế giới [23], [24] Hiện nay trên thế giới ngành Điều dưỡng đã được xểp thành một ngành nghề riêng biệt ngang hàng với các ngành nghề khác, với nhiều trình độ khác nhau từ Trung học, Đại học đến trên Đại học. Để có được vai trò và vị trí như ngày hôm nay, ngành Điều dưỡng đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm. Thủa sơ khai, Điều dưỡng gắn liền với việc chăm sóc nuôi dưỡng bắt đầu từ những bà mẹ.
Việc đó được duy trì từ đời này qua đời khác cho tới ngày nay. Năm 60, bà Phoebe (Hy lạp) đã đến từng gia đình có người đau ốm để chăm sóc. Bà được ngưỡng mộ và suy tôn là người nữ điều dưỡng tại gia đầu tiên trên thể giới. Thời kỳ viễn chinh ở Châu Âu, bệnh viện đã được xây dựng để chăm sóc số lượng lớn những người hành hương bị đau ốm.
Từ đó nghề Điều Dưỡng bắt đầu được coi trọng. Giữa thể kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX việc cải cách xã hội đã thay đổi, vai trò của người Điều dưỡng nói riêng và vai hò của người phụ nữ nói chung cũng được thay đổi. Trong thời kỳ này một phụ nữ người Anh được thế giới tôn kính và suy tôn là người sáng lập ra ngành Điều dưỡng đó là bà Florence Nightingale (1820 - 1910. Bà là người đã đưa ra lý thuyết về khoa học vệ sinh trong các cơ sở y tế và sau 2 năm bà đã làm 7 giảm tỷ lệ chết do nhiễm trùng từ 42% xuống còn 2%.
Năm 1860, vì điều kiện sức khoẻ không cho phép tiếp tục làm việc ở bệnh viện, bà đã lập ra Hội đồng quản lý ngân sách 50.000 bảng Anh để chăm sóc sức khoẻ và thành lập trường đào tạo Điều dưỡng ở Anh. Trường Điều dưỡng Nightingale cùng với chương trình đào tạo một năm đã đặt nền tảng cho hệ thống đào tạo Điều dưỡng không chỉ ở nước Anh mà còn nhiều nước trên Thế giới. Để tưởng nhớ công lao của bà và khẳng định quyết tâm tiếp tục sự nghiệp mà Florence đã dày công xây dựng. Hội đồng Điều dưỡng Thế giới đã quyết định lấy ngày 12/5 hàng năm (ngày sinh của Florence Nightingale) làm ngày Điều dưỡng Quốc tế.
Lịch sử phát triển ngành điều dưỡng Việt Nam Điều dưỡng Việt Nam hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước. Từ thời xưa các bà mẹ Việt Nam đã chăm sóc nuôi dưỡng con cái trong gia đình mình. Bên cạnh những kinh nghiệm chăm sóc của gia đình, các bà mẹ được truyền lại những kinh nghiệm dân gian của các lương y trong việc chăm sóc người bệnh. Hai danh y nổi tiếng thời xưa của dân tộc ta là Hải thượng lãn ông Lê Hữu Trác và Tuệ Tĩnh đã sử dụng phép dưỡng sinh để trị bệnh rất có hiệu quả.
Thời kỳ Pháp thuộc, Năm 1901 Người Pháp đã mở lớp Nam y tá đầu tiên tại Bệnh viện Chợ Quán nơi điều trị bệnh tâm thần và bệnh phong [23]. Ngày 20/12/1906 toàn quyền Đông dương ban hành Nghị định thành lập ngạch nhân viên Điều dưỡng bản xứ [24]. Ngày 18/6/1923 Công xứ Nam Kỳ có Nghị định mở trường Điều dưỡng bản xử [24], Sau cách mạng tháng 8 - 1945, ngành Y tế non trẻ vừa mới ra đời với vài chục bác sĩ và vài trăm y tá được đào tạo dưới thời Pháp thuộc. Lóp y tá đầu tiên được đào tạo 6 tháng do Giáo sư Đỗ Xuân Hợp làm Hiệu trưởng được tổ chức tại Quân khu Việt Bắc.
Trong cuộc kháng chiến, ta có ít máy móc y tế, thuốc men nên việc điều trị cho bệnh nhân chủ yếu dựa vào chăm sóc và chính nhờ điều dưỡng mà nhiều thương bệnh binh bị chấn thương, cắt cụt chi, sốt rét ác tính đã qua khỏi [24], 8 Tại Miền Bắc, năm 1954 Bộ Y Te đã xây dựng chương trình đào tạo y tá sơ cấp hoàn chỉnh để bổ túc cho số y tá đào tạo cấp tốc trong chiến tranh [24]. Ở miền Nam, năm 1970 Hội Điều dưỡng Việt Nam được thành lập, cô Lâm Thị Hạ, là chánh sự vụ sở Điều dưỡng đầu tiên kiêm chủ tịch hội [24]. Năm 1985 một số bệnh viện đã xây dựng Phòng Điều dưỡng, tổ Điều dưỡng tách ra khỏi Phòng Y vụ. về đào tạo, năm 1985: Bộ Y Te được Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đồng ý cho mở khoá đào tạo Đại học Điều dưỡng đầu tiên tại trường Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh.
Đây là mốc lịch sử quan trọng trong lĩnh vực đào tạo điều dưỡng ở nước ta. Tổ chức y tế thế giới rất hoan nghênh chủ trương này vì từ đây Bộ Y Te đã xác định được hướng đi của ngành Điều dưỡng, coi đây là một ngành nghề riêng biệt [24]. Ngày 26/10/1990 Hội Y tá Điều dưỡng ở Việt Nam được thành lập, bà Vi Thị Nguyệt Hồ làm Chủ tịch hội. Từ khi thành lập đến nay, hội đã góp phần động viên đội ngũ Y tá - Điều dưỡng thêm yêu nghề nghiệp và thúc đẩy công tác chăm sóc tại các cơ sở khám bệnh, làm chuyển đổi một phần bộ mặt chăm sóc điều dưỡng.
Trong quá trình phát triển đi lên của nghành Điều dưỡng, chúng ta đã trải qua các tên gọi khác nhau: Y tá, Ytá - Điều dưỡng và hiện nay là "Điều dưỡng".