Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo với hơn 90% dân số có đời sống sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo. Trong đó, cộng đồng tín đồ của các tôn giáo chính thức đạt gần 24 triệu người, tương đương khoảng 27% tổng dân số cả nước. Bước vào công cuộc Đổi mới từ năm 1986, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng đã thúc đẩy Đảng và Nhà nước ta phải thay đổi tư duy quản lý đối với lĩnh vực đặc thù này. Nhu cầu hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước không chỉ xuất phát từ yêu cầu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân mà còn là một trụ cột then chốt trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học của tác giả Trần Hoàng Phương Anh tập trung giải quyết bài toán: Đánh giá một cách khoa học, toàn diện hệ thống chủ trương, chính sách và pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam trong suốt giai đoạn 1990 - 2015. Nghiên cứu xác định mục tiêu trọng tâm là làm rõ những bước tiến thể chế hóa, đo lường các thành tựu thực tiễn trong quản lý xã hội, đồng thời nhận diện thẳng thắn các rào cản, bất cập còn tồn tại trong 25 năm thực thi chính sách. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ hệ thống văn bản pháp quy từ cấp Trung ương và thực tế triển khai trên địa bàn 63 tỉnh, thành phố. Ý nghĩa của công trình là cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để sửa đổi, bổ sung các chính sách pháp luật, đóng góp trực tiếp vào tiến trình xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân quyền của Việt Nam trên trường quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc kinh tế - xã hội, nhận thức và tâm lý của tôn giáo. Nghiên cứu tiếp thu sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền tự do tín ngưỡng, xem tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận nhân dân tồn tại lâu dài cùng dân tộc. Bên cạnh đó, tác giả tích hợp các lý thuyết xã hội học và nhân học tôn giáo hiện đại, tiêu biểu như quan điểm của Émile Durkheim về tính cố kết cộng đồng của thiết chế giáo hội và quan niệm của Clifford Geertz về tôn giáo như một hệ thống biểu tượng văn hóa. Trong kho tàng học thuật thế giới với khoảng 250 quan niệm khác nhau về hiện tượng tôn giáo, luận văn đã chọn lọc cách tiếp cận đa chiều để làm rõ các khái niệm cốt lõi: tín ngưỡng, tôn giáo, thiết chế tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Tại Việt Nam, hệ thống lý thuyết này được soi chiếu cụ thể qua bức tranh 13 tôn giáo với 37 tổ chức tôn giáo được công nhận, phản ánh đậm nét tính chất đan xen, hòa đồng và khoan dung của văn hóa bản địa.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống hơn 50 văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành liên quan trong suốt giai đoạn 1990 - 2015, kết hợp với các báo cáo tổng kết thực tiễn định kỳ của Ban Tôn giáo Chính phủ. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 100% các văn bản quy phạm mang tính bước ngoặt như Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 1990, Hiến pháp năm 1992, Nghị quyết số 25-NQ/TW năm 2003, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, Hiến pháp năm 2013 cùng các nghị định hướng dẫn thi hành trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng nhằm trích xuất dữ liệu từ các dòng tư liệu chính thống, có giá trị pháp lý cao nhất. Lý do tác giả lựa chọn phương pháp phân tích văn bản quy phạm, tổng hợp lịch sử và so sánh thể chế là để đảm bảo tính khách quan, hệ thống và bám sát tiến trình vận động lịch sử của xã hội Việt Nam. Toàn bộ timeline nghiên cứu được tổ chức chặt chẽ theo từng giai đoạn phát triển chính sách từ năm 1990 đến mốc tổng kết năm 2015.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu chỉ ra 4 phát hiện cốt lõi mang tính đột phá trong thực tiễn 25 năm thực thi chính sách tôn giáo tại Việt Nam:
Thứ nhất, hệ thống tổ chức tôn giáo được công nhận và mở rộng quy mô chưa từng có. Cơ quan quản lý nhà nước đã cấp đăng ký hoạt động cho 22 tổ chức, hệ phái tôn giáo mới, công nhận 39 dòng tu và 4 hội đoàn Công giáo. Hơn 2.000 xứ họ đạo, chi hội và ngôi chùa được thành lập hoặc phục hồi. Mạng lưới Phật giáo mở rộng với 63/63 tỉnh thành có Ban Trị sự, trong đó có 12 ban trị sự mới được thành lập từ năm 2004 đến 2015. Đạo Tin Lành ghi nhận bước phát triển mạnh với gần 200 chi hội được công nhận và hơn 1.500 điểm nhóm được cấp phép sinh hoạt.
Thứ hai, điều kiện cơ sở vật chất và số lượng chức sắc tôn giáo tăng trưởng vượt bậc. Khoảng 20.000 cơ sở thờ tự được cấp phép sửa chữa, xây mới. Nhà nước đã bàn giao hàng trăm héc-ta đất phục vụ tôn giáo, điển hình như 20 héc-ta cho Học viện Phật giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh, 10 héc-ta tại Hà Nội và 15 héc-ta cho Giáo xứ La Vang tại Quảng Trị. Đội ngũ tu hành phát triển mạnh với hơn 15.000 lượt phong chức, bổ nhiệm; số lượng tăng ni Phật giáo tăng 23,6% từ 37.775 người năm 2004 lên 46.699 người năm 2012, trong khi số lượng linh mục Công giáo đạt 4.816 vị.
Thứ ba, hoạt động xuất bản và giao lưu quốc tế được tạo hành lang thông thoáng. Từ năm 2006 đến 2015, Nhà xuất bản Tôn giáo đã cấp phép hơn 5.841 xuất bản phẩm với 4.725 đầu sách, in ấn 2.201 bản dịch bằng nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp và các ngôn ngữ dân tộc thiểu số như Khmer, Gia Rai, Ba Na. Nhà nước hỗ trợ tổ chức thành công các sự kiện tầm vóc quốc tế như Đại lễ Phật đản Vesak 2008 và 2014, tạo điều kiện cho 1.178 lượt chức sắc ra nước ngoài giao lưu học tập và đón tiếp 175 đoàn khách quốc tế vào Việt Nam.
Thứ tư, nguồn lực xã hội hóa y tế, giáo dục từ các tôn giáo đóng góp to lớn cho cộng đồng. Hiện cả nước có gần 300 cơ sở mầm non, hơn 300 phòng khám chữa bệnh đông tây y và hơn 100 trung tâm bảo trợ xã hội do các tôn giáo thành lập, huy động nguồn kinh phí từ thiện hàng chục tỷ đồng mỗi năm.
Thảo luận kết quả
Sự chuyển biến tích cực trong đời sống tôn giáo bắt nguồn từ sự đổi mới nhận thức sâu sắc của Đảng, chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang bảo đảm quyền con người. Việc ban hành Pháp lệnh năm 2004 với 7 điều khoản chuyên biệt về tín ngưỡng đã lập lại trật tự kỷ cương, giúp người dân yên tâm thực hành niềm tin tâm linh. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột so sánh sự gia tăng số lượng chức sắc, tín đồ giữa năm 2004 và 2015, kết hợp cùng bảng thống kê diện tích đất công cấp cho các cơ sở tôn giáo trọng điểm tại ba miền Bắc - Trung - Nam, giúp người đọc thấy rõ quy mô phát triển thực tế.
Tuy nhiên, luận văn cũng chỉ rõ những khoảng trống pháp lý cần hoàn thiện. Hạn chế lớn nhất là chính sách giai đoạn này chưa công nhận tư cách pháp nhân phi thương mại đầy đủ cho các tổ chức tôn giáo, khiến các chức sắc gặp nhiều trở ngại khi đại diện thực hiện các giao dịch dân sự theo pháp luật. Cơ chế quản lý vẫn nặng tính "xin - cho" với thủ tục hành chính phức tạp, ví dụ như quy định tại Điều 25 Pháp lệnh năm 2004 về sinh hoạt tôn giáo ngoài cơ sở phải xin phép cấp huyện, cấp tỉnh còn thiếu tính khả thi. Bên cạnh đó, quyền lập trường học, bệnh viện tư thục chuyên biệt của tôn giáo mới chỉ dừng lại ở mức độ "tham gia hỗ trợ" chứ chưa có cơ chế bình đẳng như các tổ chức kinh tế - xã hội khác.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả đánh giá thực tiễn 25 năm, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện chính sách tôn giáo trong tình hình mới:
Thứ nhất, thể chế hóa toàn diện tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo. Quốc hội và Bộ Tư pháp cần luật hóa việc công nhận tư cách pháp nhân đầy đủ cho 100% các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước cấp phép hoạt động trong giai đoạn 2018 - 2020. Quy định này sẽ đảm bảo quyền sở hữu tài sản, quyền đại diện pháp lý và tham gia bình đẳng vào các quan hệ dân sự của các tổ chức giáo hội.
Thứ hai, cải cách triệt để thủ tục hành chính và chuyển đổi cơ chế quản lý. Ban Tôn giáo Chính phủ phối hợp với Bộ Nội vụ tiến hành rà soát, cắt giảm và chuyển đổi ít nhất 70% các thủ tục cấp phép sang hình thức "thông báo" đăng ký công khai trước năm 2020. Cần trao quyền tự chủ quản lý nội bộ cho các tổ chức tôn giáo theo hiến chương, điều lệ đã đăng ký hợp pháp với cơ quan nhà nước.
Thứ ba, mở rộng cơ chế xã hội hóa y tế, giáo dục và bảo trợ xã hội. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng hành lang pháp lý cho phép các tổ chức tôn giáo thành lập tối thiểu 50 cơ sở trường mầm non, trường dạy nghề và bệnh viện tư thục hoạt động phi lợi nhuận trong giai đoạn 2020 - 2025.
Thứ tư, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Bộ Nội vụ tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên sâu về tôn giáo học và kỹ năng hành chính công cho 100% cán bộ quản lý cấp quận, huyện, xã, phường trước năm 2022 nhằm xóa bỏ định kiến xơ cứng, bảo đảm thực thi pháp luật văn minh, thấu tình đạt lý.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và thực tiễn phong phú cho 4 nhóm đối tượng chính:
Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nhà nước thuộc Bộ Nội vụ, Ban Tôn giáo Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp. Luận văn cung cấp bức tranh dữ liệu tổng kết 25 năm cùng các phân tích thực chứng về những rào cản hành chính, giúp các nhà quản lý hoàn thiện văn bản quy phạm và điều chỉnh phương thức chỉ đạo tại cơ sở.
Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên các chuyên ngành Việt Nam học, Tôn giáo học, Luật học và Xã hội học. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị với hệ thống hơn 50 văn bản quy phạm pháp luật và hơn 70 tài liệu trích dẫn chuyên sâu, giúp người học nắm vững tiến trình thể chế hóa quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam.
Thứ ba, các chức sắc, nhà tu hành và ban quản trị các tổ chức tôn giáo trên cả nước. Nghiên cứu giúp người phụ trách hoạt động đạo hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ pháp lý và quy trình phối hợp với cơ quan công quyền, từ đó xây dựng đường hướng hành đạo hài hòa giữa đạo và đời.
Thứ tư, các nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế và chuyên gia ngoại giao nhân quyền. Công trình cung cấp các luận cứ xác thực và số liệu chính thức về 20.000 cơ sở thờ tự, hàng nghìn chức sắc được thụ hưởng quyền tự do để phục vụ các phiên đối thoại ngoại giao về tự do tôn giáo quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
-
Đâu là bước ngoặt thể chế quan trọng nhất trong chính sách tôn giáo giai đoạn 1990 - 2015?
Bước ngoặt quan trọng nhất là việc ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 1990 và Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004. Pháp lệnh 2004 lần đầu tiên quy định 7 điều khoản pháp lý về tín ngưỡng, tạo nền tảng công nhận 22 tổ chức tôn giáo mới và cấp phép hoạt động cho hơn 1.500 điểm nhóm Tin Lành trên phạm vi cả nước.
-
Nhà nước đã hỗ trợ cơ sở vật chất cho các tôn giáo như thế nào trong 25 năm Đổi mới?
Cơ quan công quyền đã tạo điều kiện sửa chữa, xây mới khoảng 20.000 cơ sở thờ tự và giao hàng trăm héc-ta đất xây dựng. Minh chứng tiêu biểu là việc giao 20 héc-ta đất xây dựng Học viện Phật giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh và 15 héc-ta đất mở rộng Trung tâm Hành hương La Vang tại Quảng Trị.
-
Hoạt động an sinh xã hội của các tổ chức tôn giáo đạt được những kết quả gì?
Các tôn giáo đã huy động hàng chục tỷ đồng từ thiện mỗi năm để duy trì gần 300 cơ sở mầm non với hơn 100 điểm trường, hơn 300 cơ sở y tế đông tây y và hơn 100 trung tâm bảo trợ chăm sóc người già neo đơn, trẻ mồ côi và bệnh nhân khó khăn trên toàn quốc.
-
Bất cập lớn nhất của chính sách tín ngưỡng, tôn giáo thời kỳ 1990 - 2015 là gì?
Hạn chế nổi bật là việc chưa quy định rõ tư cách pháp nhân phi thương mại của tổ chức tôn giáo và sự tồn tại của thủ tục hành chính "xin - cho". Chẳng hạn, Điều 25 Pháp lệnh năm 2004 buộc phải xin phép khi có tín đồ ngoài địa bàn tham gia lễ hội, gây khó khăn cho các sinh hoạt tôn giáo thuần túy.
-
Đại diện các tôn giáo đánh giá như thế nào về chính sách tôn giáo của Nhà nước?
Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Công giáo và đạo Cao Đài đều ghi nhận chính sách ngày càng cởi mở, bảo đảm ổn định đời sống đức tin. Tuy nhiên, các vị chức sắc cũng thẳng thắn kiến nghị Nhà nước cần sớm đơn giản hóa thủ tục hành chính và nâng cao năng lực ứng xử của cán bộ cơ sở.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện 25 năm đổi mới chính sách tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam giai đoạn 1990 - 2015, khẳng định bước chuyển quan trọng từ quản lý thuần túy sang tôn trọng và bảo đảm quyền con người.
- Phân tích sâu sắc quá trình thể chế hóa qua các mốc văn bản mang tính lịch sử từ Nghị định số 69/HĐBT năm 1991, Pháp lệnh năm 2004 đến Điều 24 Hiến pháp năm 2013.
- Cung cấp dữ liệu thực chứng về việc công nhận 22 tổ chức tôn giáo, tạo điều kiện cho gần 24 triệu tín đồ và xây dựng mới, sửa chữa 20.000 cơ sở thờ tự.
- Chỉ rõ các nút thắt về tư cách pháp nhân và thủ tục xin - cho, tạo tiền đề khoa học trực tiếp cho sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
- Đề xuất 4 giải pháp đồng bộ định hướng xây dựng thể chế quản lý nhà nước hiện đại, văn minh hướng tới mốc phát triển sau năm 2020.
Công trình là nguồn tài liệu học thuật giá trị, đóng góp tích cực vào công tác nghiên cứu chính sách và đối thoại nhân quyền. Để khai thác sâu hơn hệ thống số liệu và các bảng phân tích chi tiết, bạn đọc hãy liên hệ trực tiếp với tác giả hoặc thư viện chuyên ngành để tiếp cận toàn văn luận văn thạc sĩ này.