Đánh Giá Hệ Thống Chính Sách Tôn Giáo và Tín Ngưỡng Của Việt Nam Giai Đoạn 1990 - 2015

Luận văn thạc sĩ USSH đánh giá hệ thống chính sách tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam giai đoạn 1990-2015, phân tích những biến đổi và tác động.

Chuyên ngành

Việt Nam Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2017

85
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu

0.3. Mục tiêu nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phƣơng pháp nghiên cứu

0.6. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VỀ TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

1.1. Một số quan niệm về tín ngƣỡng, tôn giáo trên thế giới và Việt Nam

1.1.1. Quan niệm về tín ngƣỡng, tôn giáo của các nhà khoa học trên thế giới

1.1.2. Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tín ngƣỡng, tôn giáo

1.1.3. Bản chất, nguồn gốc, tính chất, chức năng của tín ngƣỡng, tôn giáo

1.1.3.1. Bản chất của tín ngƣỡng, tôn giáo
1.1.3.2. Nguồn gốc của tín ngƣỡng, tôn giáo
1.1.3.3. Tính chất của tín ngƣỡng, tôn giáo
1.1.3.4. Chức năng của tín ngƣỡng, tôn giáo

1.1.4. Đặc điểm tín ngƣỡng, tôn giáo ở Việt Nam

1.1.4.1. Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo
1.1.4.2. Tín ngƣỡng, tôn giáo ở Việt Nam có tính chất đan xen, hòa đồng, khoan dung
1.1.4.3. Ở Việt Nam, không có tôn giáo nào giữ vị trí độc tôn, chi phối ý thức hệ mang tính lâu dài
1.1.4.4. Trong tín ngƣỡng, tôn giáo ở Việt Nam khó phân biệt đƣợc cái thiêng và cái tục. Tín ngƣỡng, tôn giáo Việt Nam góp phần thần thánh hóa những ngƣời có công với gia đình, làng nƣớc
1.1.4.5. Trong tín ngƣỡng, tôn giáo Việt Nam, vai trò của ngƣời phụ nữ đƣợc thể hiện rõ rệt

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƢƠNG, CHÍNH SÁCH TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1990 - 2015

2.1. Những chủ trƣơng, chính sách tín ngƣỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam

2.2. Phƣơng hƣớng, quan điểm, chủ trƣơng đối với tín ngƣỡng, tôn giáo và công tác tín ngƣỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam

2.3. Những chủ trƣơng, chính sách cụ thể đối với tín ngƣỡng, tôn giáo

2.4. Tình hình thực hiện chủ trƣơng, chính sách tín ngƣỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam trong giai đoạn 1990 – 2015

2.5. Hoạt động quản lý của nhà nƣớc đối với hoạt động tín ngƣỡng. Hoạt động quản lý của Nhà nƣớc đối với hoạt động tôn giáo

2.6. Phản hồi của các tôn giáo đối với chủ trƣơng, chính sách tín ngƣỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam trong giai đoạn 1990 – 2015

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CHỦ TRƢƠNG, CHÍNH SÁCH TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1990 – 2015

3.1. Các thành tựu của chủ trƣơng, chính sách tín ngƣỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam trong giai đoạn 1990 – 2015

3.2. Thể chế hóa ngày càng cao quan điểm, chủ trƣơng, chính sách về quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo

3.3. Góp phần làm cho đời sống tín ngƣỡng, tôn giáo phát triển ổn định

3.4. Đóng góp tích cực trong công tác đấu tranh ngoại giao của Nhà nƣớc Việt Nam trên lĩnh vực tôn giáo, nhân quyền

3.5. Hạn chế trong chính sách tín ngƣỡng, tôn giáo của Nhà nƣớc Việt Nam trong giai đoạn 1990 – 2015. Một số quy định trong chính sách tín ngƣỡng, tôn giáo chƣa đảm bảo tính cụ thể, khả thi

3.6. Một số nội dung chƣa hoặc mới quy định một phần trong chính sách tín ngƣỡng, tôn giáo. Hoàn thiện chính sách đối với hoạt động tín ngƣỡng, tôn giáo để thích nghi với tình hình mới

3.6.1. Đối với hoạt động tín ngƣỡng

3.6.2. Đối với hoạt động tôn giáo

3.7. Một số dự báo về tình hình quản lý tín ngƣỡng, tôn giáo đến năm 2020

3.8. Tiểu kết

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chính Sách Tôn Giáo Tín Ngưỡng Việt Nam 1990 2015

Chính sách tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam từ năm 1990 đến 2015 đã trải qua nhiều thay đổi quan trọng. Giai đoạn này đánh dấu sự chuyển mình trong cách tiếp cận của Nhà nước đối với các tôn giáo và tín ngưỡng dân gian. Chính sách không chỉ nhằm quản lý mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển của các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng. Sự đa dạng về tôn giáo và tín ngưỡng tại Việt Nam đòi hỏi một hệ thống chính sách linh hoạt và phù hợp với thực tiễn xã hội.

1.1. Định Nghĩa Chính Sách Tôn Giáo Tín Ngưỡng Tại Việt Nam

Chính sách tôn giáo tín ngưỡng tại Việt Nam được hiểu là hệ thống các quy định, hướng dẫn của Nhà nước nhằm quản lý và phát triển các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng. Điều này bao gồm việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng của công dân, đồng thời đảm bảo an ninh trật tự xã hội.

1.2. Lịch Sử Hình Thành Chính Sách Tôn Giáo Tín Ngưỡng

Chính sách tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam đã có lịch sử lâu dài, bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ 20. Tuy nhiên, từ năm 1990, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, các quy định về tôn giáo đã được điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh mới, tạo điều kiện cho sự phát triển của các tôn giáo.

II. Những Thách Thức Trong Chính Sách Tôn Giáo Tín Ngưỡng Việt Nam

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong chính sách tôn giáo tín ngưỡng, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết. Các vấn đề như sự phân biệt giữa các tôn giáo, sự thiếu hiểu biết về tín ngưỡng dân gian, và sự phản ứng của các tổ chức tôn giáo đối với chính sách của Nhà nước vẫn tồn tại.

2.1. Phân Biệt Giữa Các Tôn Giáo Trong Chính Sách

Một trong những thách thức lớn nhất là việc phân biệt giữa các tôn giáo trong chính sách. Điều này có thể dẫn đến sự bất bình đẳng trong việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng của các nhóm tôn giáo khác nhau.

2.2. Thiếu Hiểu Biết Về Tín Ngưỡng Dân Gian

Nhiều người vẫn chưa hiểu rõ về tín ngưỡng dân gian, dẫn đến sự thiếu tôn trọng và công nhận cho các giá trị văn hóa này. Điều này cần được cải thiện thông qua giáo dục và tuyên truyền.

III. Phương Pháp Đánh Giá Chính Sách Tôn Giáo Tín Ngưỡng

Để đánh giá hiệu quả của chính sách tôn giáo tín ngưỡng, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học. Việc phân tích dữ liệu từ các cuộc khảo sát, phỏng vấn và tài liệu chính thức sẽ giúp đưa ra những nhận định chính xác về tình hình thực tế.

3.1. Phân Tích Dữ Liệu Từ Cuộc Khảo Sát

Khảo sát ý kiến của người dân về chính sách tôn giáo tín ngưỡng sẽ cung cấp thông tin quý giá về mức độ hài lòng và những vấn đề còn tồn tại. Dữ liệu này cần được phân tích một cách khoa học để đưa ra các khuyến nghị hợp lý.

3.2. Phỏng Vấn Các Chuyên Gia Về Tôn Giáo

Phỏng vấn các chuyên gia trong lĩnh vực tôn giáo sẽ giúp làm rõ hơn về những thách thức và cơ hội trong chính sách tôn giáo tín ngưỡng. Những ý kiến này có thể đóng góp vào việc hoàn thiện chính sách trong tương lai.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Chính Sách Tôn Giáo Tín Ngưỡng

Chính sách tôn giáo tín ngưỡng đã có những ứng dụng thực tiễn quan trọng trong đời sống xã hội. Việc tạo điều kiện cho các hoạt động tôn giáo diễn ra đã góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của người dân.

4.1. Tăng Cường Đời Sống Tín Ngưỡng Của Người Dân

Chính sách đã giúp tăng cường đời sống tín ngưỡng của người dân, tạo điều kiện cho các hoạt động tôn giáo diễn ra một cách tự do và an toàn. Điều này không chỉ giúp bảo tồn văn hóa mà còn thúc đẩy sự đoàn kết trong cộng đồng.

4.2. Góp Phần Vào Sự Phát Triển Kinh Tế

Các hoạt động tôn giáo cũng đóng góp vào sự phát triển kinh tế thông qua du lịch tôn giáo. Nhiều địa điểm tôn giáo đã trở thành điểm đến thu hút khách du lịch, tạo ra nguồn thu nhập cho địa phương.

V. Kết Luận Về Chính Sách Tôn Giáo Tín Ngưỡng Việt Nam

Chính sách tôn giáo tín ngưỡng của Việt Nam từ năm 1990 đến 2015 đã có những bước tiến quan trọng, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Việc đánh giá và điều chỉnh chính sách là cần thiết để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của mọi công dân.

5.1. Đánh Giá Thành Tựu Đạt Được

Những thành tựu trong chính sách tôn giáo tín ngưỡng đã góp phần quan trọng vào sự ổn định xã hội và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, cần nhìn nhận một cách khách quan để có những điều chỉnh phù hợp.

5.2. Dự Báo Tương Lai Của Chính Sách

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chính sách tôn giáo tín ngưỡng cần được điều chỉnh để phù hợp với xu thế phát triển chung. Việc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của các tôn giáo mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đánh giá hệ thống chính sách tôn giáo tín ngưỡng của việt nam giai đoạn 1990 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng cơ bản nhƣ sau: - Chƣơng 1: Sơ lƣợc về tín ngƣỡng, tôn giáo ở Việt Nam - Chƣơng 2: Chủ trƣơng, chính sách tín ngƣỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam trong giai đoạn 1990 – 2015 - Chƣơng 3: Một số nhận xét vềchủ trƣơng, chính sách tín ngƣỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam trong giai đoạn 1990 - 2015 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: SƠ LƢỢC VỀ TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM 1. Một số quan niệm về tín ngƣỡng, tôn giáo trên thế giới và Việt Nam 1.1 Quan niệm về tín ngƣỡng, tôn giáo của các nhà khoa học trên thế giới Tín ngƣỡng ra đời từ rất sớm, ngay trong xã hội nguyên thủy và sau đó từng bƣớc hình thành tôn giáo. Tín ngƣỡng, tôn giáo là phạm trù rộng, khá phức tạp cả về mặt lý luận và thực tiễn, nên hiện nay vẫn còn có nhiều ý kiến tranh luận, chƣa thật sự thống nhất. Tùy mục đích, góc độ tiếp cận nghiên cứu mà các nhà khoa học đƣa ra các quan niệm khác nhau và mỗi quan niệm đều có sự hợp lý riêng.

Tín ngƣỡng đƣợc quan niệm là niềm tin, sự ngƣỡng mộ, sùng bái, tôn thờ của con ngƣời vào những lực lƣợng siêu nhiên với quan niệm rằng những lực lƣợng siêu nhiên ấy có khả năng chi phối, thậm chí quyết định số phận con ngƣời. Tín ngƣỡng cũng đƣợc quan niệm là những hình thức tôn giáo nguyên thủy, để phân biệt với tôn giáo hiện đại. Tôn giáo có nghĩa rộng và nghĩa hẹp khác nhau. Tôn giáo theo nghĩa rộng là một hiện tƣợng xã hội, một “hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng, tôn thờ”[38, tr.

“Tôn giáo là sự tin tưởng và sùng bái sức mạnh siêu phàm của thần linh, bắt đầu xuất hiện từ cuối công xã nguyên thủy, lúc đầu có hình thức sơ khai, gọi là tôn giáo nguyên thủy, sùng bái tự nhiên như bái vật giáo: thờ thần lửa, sinh thực khí, thờ Tô tem, sau đó phát triển thành đa thần giáo, nhất thần giáo và thành tôn giáo quốc tế”[54. Theo nghĩa hẹp, tôn giáo là hiện tƣợng xã hội mang tính lịch sử, bao gồm ý thức về lực lƣợng siêu nhiên, tổ chức, hoạt 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com độngtôn thờ lực lƣợng siêu nhiên mà sự tồn tại và phát triển của nó là do sự phản ánh hƣ ảo hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con ngƣời. Tôn giáo bao gồm toàn bộ quan niệm, ý thức, tình cảm, hành vi, hoạt động, tổ chức tôn giáo. Nó đồng nghĩa với đạo, để chỉ các tổ chức tôn giáo nhƣ đạo Phật, đạo Kitô, đạo Cao Đài… Theo đó, tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là một thiết chế xã hội – một lực lƣợng xã hội có tổ chức.

Nhƣ vậy, tín ngƣỡng và tôn giáo quan hệ với nhau, trong đó tín ngƣỡng là phạm trù rộng, còn tôn giáo là phạm trù cụ thể. Tôn giáo nằm trong tín ngƣỡng, tôn giáo là cái biểu hiện bên ngoài của tín ngƣỡng. Không thể có những hoạt động tôn giáo nếu nhƣ không có niềm tin tôn giáo – tín ngƣỡng. Bên cạnh đó, các nhà khoa học đã và đang sử dụng nhiều phƣơng pháp tiếp cận khác nhau để giải thích cụ thể hơn về tín ngƣỡng, tôn giáo nhƣ: tiến hóa luận, chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, miêu tả, di truyền, lịch sử, so sánh, cấu trúc chức năng, hiện tƣợng học chú giải, biểu tƣợng và huyền thoại….

Do đó, hiện có khoảng 250 quan điểm khác nhau về tín ngƣỡng, tôn giáo [30, tr. Đáng chú ý hơn cả là quan điểm về tín ngƣỡng, tôn giáo của các ngành Thần học, Tôn giáo học, Triết học, Xã hội học, Dân tộc học/ Nhân học, Tâm lý học, Đạo đức học, Văn hóa học, Ngôn ngữ học… Đa số các nhà Dân tộc học/ Nhân học và Văn hóa học luôn coi tôn giáo là một khái niệm tƣơng đối chung chung, là hiện tƣợng văn hóa mang tính phổ quát. Một quan điểm chung về tôn giáo chỉ cho phép so sánh giữa các hệ thống văn hóa khác về hình thức bề ngoài. Do đó, nhà Dân tộc học/ Nhân học ngƣời Anh là Edward Bernett Tylor đã đề xuất một quan điểm tối thiểu: “Tôn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo là niềm tin vào thực thể tâm linh, hay sự tồn tại của thần thánh”[30, tr.

Tƣơng tự, nhà lý thuyết xã hội học ngƣời Anh là Herbert Spencer cho rằng: “Tôn giáo chủ yếu nhằm vào niềm tin ở sự tồn tại khắp nơi của một vật gì đó vượt ra ngoài sự hiểu biết”[30, tr. Còn nhà Ngôn ngữ học ngƣời Anh, gốc Đức là Friedrich Max Muller đã nhìn thấy trong mọi tôn giáo “một cố gắng để hiểu cái không thể tưởng tượng được, để diễn đạt điều không thể giải thích được, một khát vọng hướng về vô tận”[30, tr. Nhà Nhân học ngƣời Mỹ là Clifford Geetz đã đề xuất một quan điểm về tín ngƣỡng, tôn giáo khá tổng quát rất đang chú ý: “là một hệ thống văn hóa qua đó những vấn đề cơ bản của sự tồn tại được thể hiện và vận hành”[30, tr. Sau đó ông đã cụ thể hóa và nhấn mạnh hơn yếu tố biểu tƣợng văn hóa và sự tác động của tín ngƣỡng, tôn giáo vào chủ thể văn hóa nói chung: “Tôn giáo là một hệ thống biểu tượng, hoạt động nhằm thiết lập những tâm trạng và động cơ mạnh mẽ, rộng khắp và bền lâu trong con người bằng cách đề ra những khái niệm về một trật tự chung của sự tồn tại và khoác cho những khái niệm này một hào quangcủa sự thật khiến cho những tâm trạng và động cơ đó dường như là hiện thực duy nhất”[30, tr.79] Nhìn từ góc độ xã hội học, quan điểm của nhà Xã hội học ngƣời Pháp là Émile Durkheim cũng rất đáng quan tâm khi bàn về tín ngƣỡng, tôn giáo, đó là: “Tôn giáo là một hệ thống có tính chất gắn bó của những niềm tin và thực hành liên quan đến các điều thiêng liêng, nghĩa là được tách biệt, cấm đoán, các niềm tin và thực hành gắn bó tất cả những ai gia nhập vào một cộng đồng tinh thần, được gọi là giáo hội”[30, tr.

9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tín ngƣỡng, tôn giáo Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhiều lần khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân”[30, tr. Quan điểm này đã thể hiện sự tôn trọng đối với tình cảm tôn giáo của nhân dân – điều mà các nhà sáng lập của chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định. Quan điểm này cũng đã bác bỏ những nhận thức sai lầm cho rằng tín ngƣỡng, tôn giáo chỉ là sự bịa đặt, dối trá hay sự lừa bịp quần chúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đƣa ra quan điểm rằng: “Tín ngưỡng, tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”[22, tr. Quan điểm này đã góp phần thể hiện sự nhận thức lại đúng đắn hơn quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo, đặc biệt là quan điểm của C.Ăngghen về sự tiêu vong của tôn giáo. Tại buổi trả lời cử tri Hà Nội vào ngày 10/5/1958, trƣớc câu hỏi “Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì tôn giáo có bị hạn chế không?”; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời: “Không. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do.

Ở Việt Nam cũng vậy…”[35, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định sự tồn tại tất yếu khách quan của tôn giáo cùng dân tộc trong suốt quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tƣ tƣởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp trong tôn giáo”[22, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn ghi nhận và trân trọng, đề cao những giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh những giá trị nhân văn đặc sắc riêng của từng tôn giáo, coi các tôn giáo và chủ nghĩa Mác có ƣu điểm chung là cùng mƣu cầu hạnh phúc cho loài ngƣời. Nhƣng do bị chi phối bởi tƣ duy cứng nhắc và định kiến về tôn giáo, có thời kỳ chúng ta chỉ nhấn mạnh đến mặt tiêu cực của tôn giáo mà chƣa chú ý mặt tích cực của nó. Chủ tịch Hồ Chí Minh 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một lần nữa khẳng định tôn giáo chứa đựng nhiều nhân tố tích cực, giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp, phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội trong thời kỳ đổi mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nhận thức rõ sự khác biệt giữa tín ngƣỡng truyền thống của ngƣời dân Việt Nam với các tôn giáo theo cách nghĩ của phƣơng Tây.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Người An Nam không có linh mục, không có tôn giáo theo cách nghĩ của châu Âu. Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã hội”[22, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhiều lần nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ phải tôn trọng tín ngƣỡng truyền thống của nhân dân, đồng thời khuyến khích nhân dân giữ gìn, phát huy những nét đẹp của tín ngƣỡng truyền thống. Bản chất, nguồn gốc, tính chất, chức năng của tín ngƣỡng, tôn giáo 1.

Bản chất của tín ngƣỡng, tôn giáo Tín ngƣỡng, tôn giáo là một hiện tƣợng xã hội, một hình thái ý thức xã hội phản ảnh hƣ ảo hiện thực khách quan, biến lực lƣợng tự nhiên, xã hội thành lực lƣợng siêu nhiên; là “thế giới quan lộn ngược”[10, tr.77]trong việc giải quyết mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên, xã hội. Tín ngƣỡng, tôn giáo về bản chất, không phảilà sản phẩm của thần thánh, không phải là cái siêu nhiên, thần bí mà là sản phẩm của xã hội. Tín ngƣỡng, tôn giáo do con ngƣời sáng tạo ra, là biểu hiện của sự khốn cùng hiện thực, đồng thời là sự phản kháng chống lại sự khốn cùng hiện thực ấy. Đó là sự phản kháng tiêu cực, yếu đuối, tự phát của tầng lớp nhân dân bị áp bức.

Xét đến cùng, tín ngƣỡng, tôn giáo áp bức con ngƣời về tinh thần, làm tha hóa con ngƣời. Mác, tín ngƣỡng, tôn giáo đã làm cho con ngƣời trở nên thụ động, cam chịu bị áp bức và trở thành nô lệ cho lực lƣợng siêu nhiên thần bí. Trong xã 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ